Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





TÌNH XƯA




S au những ngày mưa phùn dầm dề, gió bắc buốt giá kéo dài từ nửa cuối chạp sang giêng, qua Tết, sáng mồng 7 tự dưng trời sạch mây và hửng nắng. Nắng non như tấm lụa nhúng nước, từ từ khô ráo. Gió xuân phơn phớt trên vòm cây. Cành đào cắm trong chiếc độc bình lớn, những chấm nụ xoăn lại tưởng không nở, đột nhiên xòe cánh khoe sắc tươi hồng. Bọn trẻ hò nhau nhẩy múa: Nắng lên đi! Nắng lên đi! Chúng cháu được chúc thọ, được rước cụ thượng lên miếu rồi!

Ông lão Văn vui lắm. Đúng là “hết mưa là nắng ửng lên thôi”! Miếu Tiên Công gióng trống khai hội từ mồng 5 mà trời không chuyển ấm thì thật là oan phí công lao con cháu chúng nó chuẩn bị đủ thứ. Nào đồ họa trang trí, nào hương án, các mâm lễ, võng đào, dàn nhạc, nào lợn gà, tôm cá… chả thiếu thứ gì. Đài, ti vi liên tục báo rét đậm rét hại, miền núi tuyết rơi, trâu bò chết cóng. Mạ lúa ngoài đồng thụt cả mầm rễ. Ngay trong làng thôi, tuần cuối năm xảy liền bốn, năm ông bà già qua đời vì không chịu nổi rét. Bốn chục năm nay mới thấy cái rét này ghê thật! Đêm nào đám con cháu cũng thay nhau kiểm tra chăn đệm, đắp ấm cho ông, “chỉ sợ cụ thượng tương lai bó tay chấm com thì chúng con nghỉ khỏe!”

Vậy là trời phù cả nhà, cả thiên hạ! Các ngả đường vùng “Tứ xã” tưng bừng vào ngày hội chính. Các đoàn rước bắt đầu chuyển động. Tiếng trống múa lân vọng như sấm dội, dồn dập, thôi thúc. Tiếng trống khẩu cầm nhịp văng vẳng, giòn tan. Xe máy, ô tô bóp còi inh ỏi. Người về dự hội như thể thủy triều dâng ràn rạt cửa sông.

Sân rạp chật ních những người. Đèn sáng hoa tươi. Tiếng cười tiếng nói, tiếng loa máy, tiếng trống dạo, tiếng nhị so dây... Các bộ phận nghinh rước tấp nập sắp đặt, tiếp nối như một dòng sông sắp cuộn chảy. Con cháu tháp tùng ông lão Văn ra ngõ. Mái tóc bạc trắng, bộ áo thọ đỏ lấp lánh chữ Thọ chỉ vàng kim tuyến, tay chống cây gậy trúc sơn màu đồng đỏ, trông ông chẳng khác gì một tiên ông trong truyện cổ tích. Đám thanh niên cao hứng xúm lại: Nào an hem, ta bồng “Cụ Thượng” lên võng đào. Ông Văn ứa hai hàng nước mắt: Mình lên chức “Cụ Thượng” thật rồi!

Bác cu Khuê mặt vuông chữ điền giơ trống khẩu, gõ một hồi vào nhịp. Theo đó, các đội nữ tân rước cờ, rước bát biểu, đồ tế khí cổ bước hai hàng dọc nghiêm trang. Tiếp theo là các mâm lễ vật: trầu cau, hoa quả, bánh dày, bánh dẻo, bia lon, thủ lợn… ánh sắc màu phồn thực. Phường bát âm cử hành trước hương án, tấu lên khúc nhạc “lưu thủy hành vân” réo rắt, ngân nga. Đội nữ sênh tiền áo mớ ba mớ bảy thướt tha, nhịp nhàng đôi tay múa lượn. Khói trầm đốt trong bộ đỉnh hương đồng toả thơm nghi ngút, vấn vít quanh mâm ngũ quả kết hình con “Long mã” và mô hình chữ Thọ tô vẽ vàng son… Đoàn rước bắt đầu cất bước. Cụ thượng ngả lưng thanh thản trên võng do hai trai tráng, thằng Vĩnh con cậu trưởng với thằng Hoàng con chị cả khăn xếp áo the khênh rước bằng đòn sơn tạc đầu rồng bước chậm từng nhịp một. Cứ một đoạn chúng lại xuống vai, đặt đòn võng trên hai bộ giá, nghỉ chừng dăm phút, ra vẻ tự hào lắm. Đang học đại học trên Hà Nội, Thái Nguyên, hai thằng cháu xin về bằng được qua mấy ngày Tết để rước ông nội, ông ngoại lên miếu. Hồi trong năm, thằng Vĩnh đã khẩn khoản: Ông ơi! Bao năm nay chi ổ nhà mình chưa có ai thượng thọ Tám mươi, nay có ông, chúng cháu sẽ rước “vinh quy bái tổ” như rước trạng nguyên! Thằng Hoàng vốn tính hài hước, thỉnh thoảng lại láu cá ấn cái tẩu thuốc nhồi sẵn mồi thuốc lào vào miệng ông: Kính cụ rít một điếu cho phê! Nó còn kéo đám thợ ảnh với quay phim lại: Ghi hình luôn đi các bố! Đúp này mới độc đáo! Anh Tầm con nhà ông Tấm xí việc cầm lọng xanh che võng, vừa đi vừa xoay lọng rất khéo. Mấy cô con gái trêu chọc, mặt anh đỏ rựng lên, nụ cười mủm mỉm, càng duyên đáo để. Mùa nào thức ấy, có quả cây đầu mùa là Tầm bưng sang biếu cùng lời giao hẹn: Nhất định bác phải lên thượng thọ để chúng cháu nghinh rước đấy nhá!


***


Nằm trên võng, cụ thượng Văn lặng người, ngẫm nghĩ: Cái tục mừng thượng thọ cùng Lễ hội Tiên Công ở vùng quê mình thực là hay! Có lẽ không nơi đâu như vậy. Tri ân công đức người xưa khai cương lập ấp, Lễ hội Tiên Công chính là “Lễ hội Rước Người” đề cao kính trọng tuổi già, “kính lão đắc thọ”. Từ thời chăn trâu cắt cỏ, theo bà nội đi xem hát đúm, cậu bé Văn đã nghe dân gian vùng quê Hà Nam bên sông Bạch Đằng kể về phong tục đặc biệt này: Ngày xưa, mỗi độ xuân về, khôn nguôi nhớ chốn kinh thành Thăng Long, nhớ những hội hè, đình đám... các thế hệ cư dân đi lấn biển khai hoang, mở đất lập hương đã vời các bô lão tuổi tác cao nhất trong làng trộm đóng y phục giống như đức vua ngồi lên võng đào, kiệu rồng để con cháu nghinh rước lên Miếu đường và bày soạn vật phẩm tế lễ. Không khí diễn ra như thể ở triều đình, cũng hai bên “bát biểu”, lọng che, cũng phường nhạc bát âm, tố nữ đàn sáo réo rắt, trống khẩu cầm nhịp, cũng hát xướng ca ngâm... Dần dà, đã hình thành một Lễ hội Rước Người, rước các bậc thọ tám mươi, chín mươi, một trăm tuổi lên bái yết Tiên Công. Hội diễn ra đủ thứ trò chơi: Đu xuân, cờ Người, đánh vật, chọi gà, hát đúm... Khi giã hội, sang mồng tám tháng giêng dân làng mới được động thổ xây dựng nhà cửa, mới được ra đồng chăm bón lúa màu, đắp đê, đào mương, tháo nước... Rước Người tuổi hạc tạ ơn Trời Đất, Tổ tiên cũng chính như hãnh diện trước họ hàng, làng tổng rằng dòng họ tôi, gia đình tôi đã được phúc ấm! Tuổi tám mươi là một “kỳ thi” khó vượt. Cũng có nhiều cụ trượt. Như năm kia ông cụ Đang ở xóm Thượng, từ tháng chạp con cháu chuẩn bị mọi thứ cho lễ rước gọn gàng đâu đấy, bất ngờ cụ tạ thế đêm mồng 6 rạng mồng 7, coi như “hỏng thi”! Ngày “cụ Thượng” thành ngày “cụ Hạ”. Con cháu vô cùng hụt hẫng, thương tiếc! Tuổi tám mươi là “Thiên tước” của trời ban, là một đích lớn của một đời người vùng đất này…

Đang miên man trong dòng suy ngẫm, cụ thượng Văn chợt thấy một chàng trai khăn xếp áo the lách tới, cung kính khoanh tay cúi xuống bên võng: Dạ thưa cụ! Cháu chúc cụ mạnh khỏe, sống lâu trăm tuổi! Báo cáo cụ: Cụ bà cháu ở đám rước phía bắc đối diện bên kia đường làng Cẩm muốn chờ cụ đi cùng ạ!

-Ấy! Không được! Đi chậm, rước từ từ thôi để hàng xã còn chiêm ngưỡng! Người con trưởng tháp tùng bên cạnh xua tay, cắt ngang lời chàng trai: Chú cứ về bảo đoàn nhà cụ nhà chú đi trước. Cụ tôi cứ nhạc “lưu thủy hành vân” mà đi, cứ “du rượu” mà bước, còn lâu mới vào miếu!

-Này con! Đấy là đám rước nào vậy? Cụ thượng Văn hỏi. Chàng trai trẻ lắp bắp: Dạ! Dạ… Đám rước cụ Bến cháu ạ… Cụ cháu trước người xóm Cầu… nay người xóm Trại… Con trai cụ là Tổng biên tập báo Quân Khu…

-Báo với đài, quân khu với quân phủ nào, không biết! Chúng tôi chỉ biết cụ tôi là nông dân. Nông dân vạn đại được làm cụ Thượng là nhất rồi. Ngày xưa vua đang đi gặp cụ Tám mươi cũng phải hạ mã cúi chào! Còn ai… có là Tổng biên, tổng quản gì chúng tôi cũng không biết! Anh con thứ lấn lên đế vào.

-Các con hãy bình tĩnh nghe người ta nói đã! Lão nhớ ra rồi! Ông Văn vịn mép võng ngồi dậy: Bà Bến hát đúm bên xóm Trại phải không?

-Dạ vâng!

-Bà ấy đồng niên tôi, cũng tổ chức rước ư bác? Quý hóa quá! Thế mới là bình đẳng nam nữ…

-Dạ vâng! Cụ Bến cháu cũng làm thượng thọ và cũng rước ạ. Cụ cháu biết tin cụ đồng niên đồng thọ, muốn nhường cụ đi trước và cùng vào miếu cho vui ạ…

-Ờ! Cháu về bảo đoàn bà cụ chầm chậm đợi lão! Nhà mình các con nhấc bước lên một chút đi nào!


***


Thì ra bà Bến bên kia sông. Bà cũng rước về đây! Thoắt vậy mà đã sáu mươi năm! Từ ngày cô Bến đi lấy chồng! Thuở ấy… Cô Bến cùng cha chèo đò trên sông Chanh. Chiều nào Bến cũng tạt qua lán đóng thuyền anh Văn xin răm gỗ gánh về làm củi. Bến xinh đẹp, nền nã, hay cười hay nói, rất dễ gần dễ thân với mọi người. Văn lúc đó là một tay cưa nhóm thợ ông phó Đối, chuyên xẻ gỗ ra ván đóng những con thuyền chã tôm, thuyền vận tải. Thầm thích Bến, Văn nhặt sẵn những mớ răm gỗ giấu một chỗ, đợi Bến tới. Anh thường lặng lẽ nhìn theo dáng thon thả có mái tóc đen dài chấm lưng, thoảng mùi lá chanh như một vệt gió thơm. Biết Văn phải lòng, nhưng Bến vẫn cố ý làm ngơ như thể trêu ngươi. Những buổi hát đúm trong lễ hội Tiên Công, Văn cố len vào đám đông để nghe Bến hát rồi vỗ tay cổ vũ. Tiếng vỗ tay to và giòn hơn, như cố kéo ánh mắt Bến về phía mình. Tiếng hát như ngọn lửa khêu: …Rằng duyên kết bạn mình ơiAnh về xin phép mẹ thầy. Có sang thì chọn lấy ngày thanh long…

Một lần, do bạn đi cùng xúi giục, Văn đánh liều vào hát. Giọng anh ồm ồm, với hơi hát ngắn ngủn, đứt quãng: Anh còn chờ đợi đêm thâu. Chiếc khăn bỏ đó đèn dầu chửa khêu. Duyên kết bạn tình ơi!... Không nín được cười, mọi người cười ồ lên làm anh đỏ tửng mặt: Ôi! Về kéo cưa lừa xẻ... Ra ván đóng đinh là giỏi thôi!.. Từ đấy Văn không dám hát nữa, chỉ đứng ngoài nghe và thầm thì trong bụng.

Lán đóng thuyền nằm bên sông, cách bến đò chỉ một đoạn vòng cung đê. Đứng trong lán cũng nhìn rõ những chuyến đò lấp lánh mái chèo cùng dáng thắt đáy lưng ong của Bến trong đám đông khách qua đò. Mỗi lần ngơi tay là mỗi lần Văn tranh thủ liếc nhìn về phía ấy xem có bóng Bến không. Khi gặp Bến, tay bốc răm gỗ vào quang gánh, bụng Văn lại rối lên như chỗ nước xoáy, chẳng câu nào vào với câu nào. Thầm yêu trộm nhớ Bến, đêm đêm mơ tưởng, anh lại chưa biết lựa dịp nào để nói ra. Văn mẩm bụng: Nhất định sẽ có ngày. Nhưng cha mẹ Văn lại nhắm cho anh một đám khác: cô Tươi xóm Giữa, con một người bạn trong hội thợ thuyền. Cùng cảnh, cùng nghề và từng chung vốn liếng đóng những con thuyền, hai nhà đã hứa hẹn gả con cái cho nhau. Tươi không xinh đẹp bằng Bến, nhưng đẫy đà, chịu khó. Theo bà mẹ thì: vào chỗ đông anh em, xảy cơ sự còn có phận nhờ… Cái Tươi nó giòn nết hơn, không ham vui, đàn đúm, tụm năm tụm ba đò chợ như con cái nhà ai… Biết Bến chèo đò và hát đúm nên bà thường bóng gió như vậy trước mặt con trai.

Một hôm, đang lúi húi gõ những đường sảm thuyền, Văn nghe phía bến đò nhốn nháo: Đắm đò… Đắm đò… Bà con làng nước ơi! Anh nhìn ra. Một con đò đang chơi vơi giữa sông. Tiếng hô hoán ầm ĩ. Bóng người nhấp nhô quẫy đạp. Văn hốt hoảng: Đằng kia đắm đò các ông các bác ơi! Lán thuyền mọi ngày thuyền to thuyền nhỏ đậu nhan nhản dưới bến mà hôm nay tự dưng không một cái mủng nào. Văn lúng túng chạy quanh: Làm sao bây giờ? Bỗng một chiếc thuyền vận tải hai cánh buồm căng lộng chạy vọt qua trước cửa lán, nhắm thẳng chỗ đò đắm. Một lát, thuyền dừng lại, nghiêng mạn vớt những người đang lóp ngóp dưới sông lên. Trên bờ ai nấy thở dài trút đi nỗi sợ hãi. Hú vía! May quá! Con đò cùng khách thoát nạn. Chiếc thuyền vận tải ấy vừa đổ xong thuyền cát dằm lên bãi, kịp lao tới cứu con đò, cứu được cô lái đò xinh đẹp. Chấm, chàng trai chủ thuyền lập tức được cha Bến cảm mến và đặt lòng gả Bến như một nghĩa cử trả ơn. Nhưng con đã có người… Bến mếu máo. Cha nhất mực: Không đâu bằng thằng Chấm! Nó là người cứu sống nhà ta! Ở đời, phải giữ đạo nghĩa tình!... Con gái đến thì cũng như chuyến đò đầy…

Vậy là chưa kịp nhận lời ngỏ của Văn, Bến đã phải sang sông. Hằng ngày trong lán thuyền nhìn ra, Văn chỉ thấy dòng sông thông thốc gió lùa, tẻ ngắt và hoang lạnh.


***


Đoàn rước phía nam đã đi qua Cầu Chỗ. Chỉ còn một đoạn nữa là vào làng Cẩm, tiến về miếu Tiên Công. Đây là khu đất đình La cũ, giờ là ngôi trường cấp ba Minh Hà. Đình La bị sụp đổ từ thời chiến tranh chống Mỹ. Đằng sau những tòa nhà phòng học cao tầng kia từng là đượng Nhọ Nồi làm bãi hát Đúm ngày xưa. Sau khi lấy chồng, Bến vẫn về Lễ hội hát đúm! Văn vẫn len vào đám đông để được nhìn thấy Bến. Vẻ đẹp của Bến có vơi đi, nhưng tiếng hát thì vẫn hay và đằm sâu, da diết! Tiếng hát quay về phía Văn, rân rân óan trách: Nụ tầm xuân nở ra xanh biếcEm lấy chồng rồi anh tiếc lắm thayBa đồng một mớ trầu cay… Bến cố ý hát chệch đi: Nụ tầm xuân tuột khỏi taySao anh không hỏi từ ngày còn không?

Chao ôi! Kể ra tiếng hát kia, người hát kia… Chỉ tại dòng sông, chỉ tại con đò đắm, chỉ vì chần chừ, dút dát mà mất Bến! Văn ân hận: Duyên trời không định, sao cứ trớ trêu đem Bến về đây? Lầm thầm trong bụng, nhưng Văn không đủ can đảm cất lên thành tiếng: Khen ông tơ khéo tỏ tường . Mà đem nhau đến giữa đường lỡ duyên...

Thế rồi, Chấm xung phong vào chiến dịch Vận tải VT5, vận chuyển hàng hóa, vũ khí chi viện cho miền Nam. Đoàn vận tải thuyền buồm giữa đường biển bất ngờ gặp bão lớn, bị sóng gió đánh tan tác. Chấm và hai người thủy thủ không về nữa. Bến ở vậy một nách nuôi bốn đứa con, đứa lớn băm rau nấu cám, đứa bé còn bế tay. Tết đến xuân về hay trên ruộng cấy, hội hát Đúm không còn tiếng hát đằm thắm thiết tha của Bến. Nhiều lần đi chở gỗ qua xóm Trại, Văn đánh liều ghé thăm Bến. Chân tay anh vẫn lóng ngóng. Căn nhà tranh che chở mẹ con Bến như một túp lều xiêu vẹo khiến Văn càng ngậm ngùi: Tôi thương Bến lắm! Giá ngày ấy tôi kịp nói với Bến thì đâu ra nông nỗi này! Bến cho tôi được thay Chấm… đi lại chăm sóc? Tôi sẽ sắm thuyền… sẽ nuôi được mấy mẹ con… Không! Cảm ơn anh! Tôi lo được cho mẹ con tôi! Anh về đi, đừng làm thế… Ốc không mang nổi mình ốc còn mang cọc cho rêu! Hay Bến cho tôi nhận thằng bé này làm con nuôi? Văn bế đứa bé hai tuổi đang lê la nhặt những củ khoai dãi trong chiếc rổ đứa chị vừa rửa dưới ao lên. Không thể được! Chó đói cũng không bao giờ bỏ con! Với lại… anh về đi… đừng làm chị ấy buồn… đừng làm cho nhà tan cửa nát!

Từ đó hễ có dịp qua xóm Trại, Văn lại đem lúc bọc khoai, khi túi gạo gạt trên xe đạp xuống sân nhà Bến. Và Văn cũng không quên đặt vào tay Bến một túm nhỏ gói bằng chiếc khăn mùi xoa: Tôi hái được ít lá chanh với hương nhu… Bến nấu nước gội đầu… Bọn trẻ mừng lắm. Thằng cu Báu thường hòi Văn: Bác làm bố cháu bác nhá… Sao bác không ở nhà với mẹ cháu hở bác? Văn chỉ biết tủm tỉm cười nhìn Bến, cố dìm xuống niềm thương cùng câu hát dâng tràn trong tâm cảm: Anh thương em khoá cửa trăm chiều. Ngẩn ngơ dạ ngọc đăm chiêu lòng vàng... Ngọn gió thơm thoảng mùi tóc gội theo anh về đến giữa sông…

Thời gian và công việc theo nhau đè lên cuộc sống. Bẵng bấy nhiêu năm, tuổi tác và muôn nỗi lo toan đẩy xa họ về phía hai bờ sông. Quá vãng tưởng chìm sâu. tưởng đã nhòa đi ký ức. Không ngờ hôm nay cái tin bà Bến cũng nhập đoàn Lễ hội Rước Người khiến lòng ông Văn như mặt sông phẳng lặng bỗng rúng động, khấp khởi. Từ ngày sau chiến tranh, lán thuyền giải thể, chuyển xuống hạ lưu sông, ông không có dịp qua xóm Trại. Lâu lắm không thấy bóng bà ấy. Mái tóc Bến chắc bạc nhiều, có còn như ngọn gió thơm? Có còn những câu hát ngày xưa? Con trai bà ấy làm nhà báo ư? Giỏi quá! Thiên hạ nói “còn mẹ thì con ăn cơm với cá…” Quả thật không sai! Còn ông, cũng ấm áp một gia đình nghiệp thợ. Con cháu, người tiếp tục đóng tàu thuyền, người dựng nghề thợ mộc, thợ nề, người lái tàu biển… Dòng sông và biển cả vẫn vang vọng tiếng gọi. Những con thuyền vận tải, những con tàu du lịch vẫn theo nhau hạ thủy, đi tới những chân trời. Ông rất yêu quý bà vợ đảm đang, cả đời không xô chồng bát. Nhưng giờ phút này, không giấu nổi những con sóng xao lòng, cồn lên cái thời xuân sắc đầy tiếc nuối cùng ý muốn gặp lại người xưa, ông nói nhỏ với bà Tươi đi bên cạnh: Thông cảm cho tôi! Hãy coi bà ấy như một người chị của bà, vì bà ấy đồng niên tôi, lại song thọ với tôi!


***


Đám rước ngả nam, ngả bắc xích dần lại. Tiếng trổng múa lân càng thôi thúc muốn bật con tim khỏi lồng ngực. Màu cờ hoa, lễ phẩm, võng lọng sáng rực lên. Hai ngả tựa hai con rồng dồn khúc vờn về nhau, hướng vào miếu Tiên Công. Đám múa kỳ lân dạt người xem ra hai bên, lộ chiếc võng đào kết hoa tươi rói. Bà ấy kia rồi! Cô Bến ngày ấy kia rồi! Giờ đây là một cụ Thượng bà xúng xính bộ lễ phục thượng Thọ màu đỏ, khăn đóng đỏ rộng vành, chẳng khác gì một bà Hoàng hậu bình thản trên võng, giữa bầy con cháu. Gương mặt tròn vạnh như gương mặt Phật bà Quan âm, phúc hậu quá! Bà quệt môi trầu đỏ thắm, mỉm cười về phía ông, chào ông. Cái nét duyên cô Bến mười tám đôi mươi hiện rất rõ trước mắt ông. Ông ngớ người ra, nhìn không chớp mắt. Thì ra con người ta… đã duyên thì già lão vẫn chẳng cạn duyên! Một sĩ quan Quân đội ngực lấp lánh huân chương tách đoàn tiến đến võng đặt vào long ông một bó hoa: Con chào cụ Thượng! Kính chúc cụ cùng với cụ Thượng nhà cháu bách niên giai lão! Ơn trời hai cụ là bạn đồng niên được vinh quy bái tổ! Chúng cháu mừng lắm! Cụ cháu mời đoàn cụ đi trước ạ! Ông Văn nắm chặt tay chàng sĩ quan: Ôi! Thằng bé Báu phải không? Dạ! Cháu đây! Ôi! Cháu tôi giỏi quá! Phúc đức tại mẫu. Hồi xưa ông định xin cháu về nuôi. Bây giờ ở đâu? Dạ! cháu công tác ở báo Quân Khu… Làm Tổng biên tập cụ ạ! Cháu sẽ viết một bài về cụ và cụ Thượng nhà cháu nhé!...

Hai đám rước xáp vào nhau. Hai chiếc võng đào xáp bên nhau. Mọi người cười vui, reo hò: Hai cụ Thượng đồng niên gặp nhau! Hai cụ Thượng sánh võng bên nhau! Chúc mừng “Song Thọ vô cương”! Cả hai cụ thượng còn khỏe mạnh, đẹp lão quá! Trạng nguyên ngày trước về làng cũng thế này là cùng! Nhất hai cụ! Một giọng trầm trầm của ai đó cao hứng hô to: Hai cụ ngày xưa là người yêu của nhau đấy! Cầm tay nhau đi! Võng anh đi trước võng nàng theo sau! Hoan hô… cả làng ơi… Ngoài bãi hát Đúm, vọng tới tiếng hát xuân trẻ của một cặp thanh niên nào đó: Duyên kết bạn mình ơi! Tình cờ lại gặp tình cờ. Hội xuân gặp bước bây giờ là may… Hội Xuân này Rồng Mây hạnh ngộ. Kết nhân duyên cho bõ thuở ban đầu… Duyên kết bạn mình ơi!...

Bất giác không ai bảo ai, hai cụ thượng cùng chìa tay. Hai bàn tay cầm chặt rất lâu! Lần đầu tiên trong quãng đời tám mươi năm, tám mươi mùa xuân, họ được truyền hơi nóng sang nhau! Hai ánh mắt nhìn nhau, long lanh ngấn lệ! Ngọn gió xuân chợt thơm thoảng mùi lá chanh. Nắng non sáng láng cả vòm trời mùa xuân.


2-2016



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 06.01.2017.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004