Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





THẾ GIỚI LINH HỒN QUANH TA




T ừ trước đến giờ, tôi được nghe kể khá nhiều chuyện về ma hiện hình, trên cây cao, dưới bến nước. Đã xem nhảy đồng bóng, thấy nhai mảnh chai, hoặc người bị vương mang điên khùng phải cúng hình nộm thả sông thay thế ... Nghe xong thấy xong thì tin, nhưng sau đó cứ suy nghĩ, không lẽ có chuyện ma mị hiển linh như thế được sao. Như vậy sau khi con người chết đi, linh hồn sẽ ở đâu, làm gì, và lâu lâu vẫn có người bị lôi kéo vào những chuyện vương mang khó gỡ, có khi phải điên tàn suốt đời.

Bình thường, người Phật giáo hay cúng cấp mâm cao cổ đầy cho ông bà cha mẹ thân bằng quyến thuộc đã khuất, hoặc cúng Cô hồn Các Bác thập loại chúng sinh, và đốt vàng mã là việc không thể thiếu. Nhưng vong hồn ăn uống, nhận tro mã như thế nào, thật khó mà hình dung tưởng tượng được, ngoài những nhà ngoại cảm hay những vị Thiền tu đại giác. Chỉ là xưa bày nay làm, rồi trở thành tục lệ. Nhưng tục lệ đốt vàng mã, nhà chùa lại không chấp nhận vì cho đó là dị đoan, nên chẳng biết điều gì nên làm, điều gì không.

Những sự việc không đơn giản này, hiện vẫn tồn tại trong việc ma chay giỗ chạp, người tin cũng cúng, người không tin cũng cúng. Tôi thuộc loại bán tín bán nghi. Thường nghe những người bên Công giáo nói chết là hết, không khói nhang không cúng kiến phẩm vật, đến ngày giỗ thì họ đến nhà thờ xin lễ đọc kinh cầu hồn rồi về. Cho đến thế kỷ gần đây mới thấy họ thắp nhang lên bàn thờ. Bên Phật giáo thì nhiều lần nghe nói linh hồn người chết không được cúng kiến, về báo mộng với người thân, kêu lạnh kêu đói, nhưng cúng thức gì thì còn lại thức đó, như vậy họ ăn uống cách gì mà đòi hỏi? Mọi nhận định đều nằm trong sự mơ hồ.

Cho đến khi, trong một chuyến về Huế thăm gia đình, tôi được người em gái bà con cô cậu là Dương Thị Thanh Hương, kể lại nhiều hiện tượng lạ lùng chưa từng nghe bao giờ, và cũng chưa trùng lặp với trường hợp nào từ xưa đến nay trong những câu chuyện kể lại trong dân gian, hoặc cả trong truyền thuyết. Những linh hồn các Bà Cô thân thuộc trong dòng họ hiện thị bằng cách nhập vào ngay thân xác của con cháu mấy đời, những điều không ai tin có thật nếu không tiếp xúc trực tiếp với câu chuyện. Không những Hương là người được tai nghe mắt thấy, mà chính cô là người trong cuộc, chứng minh sự hiện hữu của các linh hồn từ cõi âm trở về từ hàng trăm năm, hoặc chỉ mới một đôi năm trở lại, hoặc vừa mới chết xong, để rồi xót thương có, mà sợ hãi cũng có. Rất nhiều việc xảy ra, đã hé mở những điều kỳ bí bên kia cửa tử, người chết họ ăn uống may mặc như thế nào? Đó là điều mà ai cũng muốn biết.

Trước đây, nhà Hương ở đường Bà Triệu, thành phố Huế. Nay là chủ một khách sạn ba tầng ở đường Phan Chu Trinh, có hơn chục căn phòng tiện nghi đầy đủ. Phía trước và bên trái khách sạn lắp bằng cửa kính. Trước đây ba bốn năm, gia đình Hương chỉ mới vươn lên đời sống tạm đầy đủ là điều đáng mừng, vì thời gian đó, Quang, chồng của Hương, bị thất bại trong một vụ mua bán bất động sản, đổ nợ mấy chục triệu.

Vậy mà chỉ trong thời gian ngắn, vợ chồng Hương xây khách sạn, và vừa mua một chiếc xe hơi mười hai chỗ ngồi. Tôi nghĩ chắc Hương bán nhà cũ để mua lô đất mới này, nhưng tiền đâu mà xây to lớn tiện nghi như vậy? Hương nói rằng nhà cũ vẫn còn, xây thêm hai tầng bên đó nữa, cũng làm thành nhà nghỉ, giao cho hai vợ chồng Đạt, người con trai đầu quản lý. Nghe Hương kể vậy thì tôi nghe vậy chứ không hỏi han gì thêm, nhưng Hương tự kể thêm nhiều chi tiết, như tôi là người để chia sẻ sự may mắn của cô em họ này. Cô mở đầu câu chuyện :

- Anh Quang làm môi giới giấy tờ nhà đất giúp cho người ta được chia miếng đất này, em bán đi một nửa để lấy tiền xây nhà nghỉ.

Đất đai tại thành phố bây giờ giá trị bạc tỷ, bán đi một nửa để xây cất nhà cửa thì vẫn còn dư để sắm xe hơi, cũng là chuyện dễ dàng. Nếu Quang thành công trong công việc môi giới nhà đất thì lợi lạc không chỉ chừng đó. Nhưng bên cạnh sự thành đạt về tiền của, Hương lại có nỗi khổ tâm về việc Quang có quan hệ nhiều với phụ nữ. Mặc dù không cô nào đẹp bằng Hương, nhưng không hiểu sao anh ta lại quan hệ nhiều người như thế. Nét mặt của Hương đẹp thùy mị, nhân hậu, đôi mắt có làn mi cong, da trắng mỏng trông lai như người phương tây. Càng nhìn kỹ, càng thấy Hương đúng với danh từ mỹ nhân, vậy mà không được sự chung thủy của chồng, thật đáng buồn.

Tôi khuyên Hương đừng buồn, chẳng qua họ thấy Quang có nhiều tiền, Quang không theo họ, họ cũng theo, cũng là chuyện qua đường thường tình. Hương đẹp như vậy, lại giỏi giang quán xuyến, đương nhiên Quang biết không ai thay thế được, anh vẫn rất quý trọng vợ. Tất cả đất đai nhà cửa Hương đang sở hữu đều do Quang tạo ra. Tôi nghĩ bụng, Hương có được cơ ngơi này là do phước đức ông bà cho, mà cũng không sai.

Bước đến tủ kính lớn ở mặt tiền khách sạn, tôi nhìn mấy bộ tượng nhỏ bày trên hai tầng gương trong. Thấy tôi nhìn chăm chú, Hương đến chỉ rõ cho tôi, đây là bộ tượng Phước Lộc Thọ, đây là bộ tượng Tam Tạng. Phước Lộc Thọ thì tôi hiểu rồi, Tam Tạng thì chưa hiêủ lắm và được Hương giải thích, Tề Thiên trừ yêu quái tài giỏi nhất, vị này có trong nhà rất tốt. Bên cạnh là sáu tượng Bồ Tát, gọi là “Lục Tạt Bồ Đề Kim Sa”. Tuy là sáu tượng nhưng chỉ là một Vị mà thôi. Tôi hiểu rõ điều này vì đã đọc cuốn sách nói về Đức Bồ Tát Quan Thế Âm, tuy có 33 tướng khác nhau nhưng chỉ là một Vị. Ngước mắt nhìn lên, tôi thấy đôi chim màu ngọc bích dang cánh rộng đặt trên ngăn cao nhất, hỏi :

- Đôi chim này ở đâu mà đẹp quá?

- Cặp chim Phượng hoàng anh Quang mang từ Campuchia về, một trăm rưỡi đô. Em quý lắm, nó là biểu tượng con nhà quyền quý đó chị à. Bây giờ hai chị em mình chỉ là thường dân, nhưng gốc gác vẫn là dòng dõi con quan cháu cụ. Vua Bảo Đại gọi Ôn mình là Ôn cậu. Ôn là em ruột của bà Đức Tiên Cung, vợ vua Đồng Khánh.

Tôi hiểu. Quan Thượng thư Dương Quang Lược là ông nội của Hương, và là ông ngoại của tôi. Nếu còn thời vua chúa, chị em tôi thuộc hàng hoàng thân quốc thích.

Rời tủ kính, tôi bước sang chỗ an vị pho tượng Phật Di Lặc thật lớn trên bàn thờ Ông Địa, tượng cao cũng đến năm tất, hỏi Hương “Em thỉnh tượng Di Lặc này bao nhiêu?” – “ Năm triệu đó chị. Em thỉnh Ngài về đây chỉ mới hơn một năm nay thôi, có Ngài trong nhà, tiền vô như nước”.

Đức, người con trai thứ hai của Hương ngồi gần đó lên tiếng :

- Mẹ nói vậy chưa đúng. Khi làm ăn phát tài, giàu có rồi, mới có tiền thỉnh Phật Di Lặc. Nhờ là nhờ Bà Cô Tam đợi.

Câu nói tình cờ của Đức khiến Hương như sực nhớ điều quan trọng, cô nhíu mày suy nghĩ một lúc :

- À phải rồi, em chưa kể chị nghe chuyện hai Bà Cô mất cách đây mấy trăm năm, tự nhiên về nhập vô em. Cô giúp cho tiền bạc, nhà cửa đó chị.

- Chuyện xảy ra khi nào ? – Tôi hỏi

- Chỉ khoảng hơn một năm nay thôi.

- Bây giờ mà có chuyện đó thật sao? Nhưng sao lại hai Bà Cô?

Quang đi đâu vừa về. Hương biểu người làm dọn cơm rồi nói :

- Chuyện dài lắm, trưa nay chị ở lại ăn cơm với em, xong em kể cho nghe.

Quang cùng ngồi ăn với tôi và ba đứa con của hai người. Lúc ăn, trao đổi vài chuyện về khách khứa thuê phòng, việc bán buôn lời lã, công việc quản lý, giặc giũ, làm phòng ... Hương cười cười nhìn Quang :

- Chị biết không, nhờ Cô chỉ bảo, một mình em tìm ra chỗ anh hẹn hò em út, em bắt tại trận mà đâu có ai chỉ vẽ.

Người con gái út của Hương nói vào :

- Khi Bà Cô nhập, mẹ đánh ghen dữ lắm, ba sợ chạy luôn.

Mới nghe hai câu chuyện nói về Bà Cô một cách bình thường như người còn sống, tôi ngạc nhiên hỏi :

- Thế kỷ hai mươi mốt rồi mà Cô nào còn nhập vào một người trẻ đẹp tân thời như em. Nhìn em đâu phải loại người mê tín?

- Có lẽ do hạp căn hạp mạng Ngài mới nhập chị ạ - Quang nói.

Lời phát biểu của Quang như đó là một việc tự nhiên, thêm lối kể vô tư bình thản của mấy đứa con Hương, như tất cả đang sống chung hòa đồng với những người khuất mặt, không có vẻ gì sợ sệt kiên dè.

- Chẳng chuyện có thật sao? – Tôi hỏi. Nửa tin nửa ngờ.

- Chớ bộ em nói giỡn? Chị hỏi mấy đứa con em xem. Trước đến nay em đâu có biết gì về chuyện cô nhập bà nhập gì đâu mà bịa đặt.

- Năm ngoái chị về, đâu có nghe em nói gì?

- Đúng rồi, chuyện mới đây thôi, trước khi anh Tân em mất khoảng vài tháng. Chị ở xa, có biết vì sao anh Tân em mất không ?

- Biết chứ, nghe nói Tân mất đột ngột.

Cậu mợ tôi chỉ có ba người con, Tân là con đầu và hai con gái là Hương và Hà. Tân chết đột ngột sau một đêm nhậu nhẹt say sưa. Vợ không có, đêm chỉ ngủ một mình, sáng ra, khi người nhà phát giác thì Tân đã chết rồi. Mọi người đều cho là do gió máy, nhưng tôi biết Tân có dùng ma túy, và đã chết do chích quá liều lượng, do người em ruột tôi kể lại.

Tân có nhiều vợ nhưng cuối cùng chẳng ai ở được. Suốt ngày giao tiếp với đàn anh đàn em, buôn ma túy, thiếu tiền xài thì lấy của mợ tôi bằng nhiều cách, kể cả cạy tủ lấy vàng. Cậu mợ tôi có nói gì thì Tân đòi đập nhà phá cửa. Lần này qua thắp nhang cho Tân, cậu chỉ cho tôi cánh cửa sổ bị cháy sém một nửa. Nghĩ vậy nên tôi nói :

- Thôi vậy cũng yên.

Nhưng Hương phản đối :

- Không yên đâu chị ơi! Chết xong, anh về quậy quá trời suýt nữa em chết. Để em kể chuyện hai Bà Cô nhập, rồi đến chuyện anh Tân, chị không khiếp thì thôi !

- Ừ. Kể chuyện hai bà cô đi – Tôi giục.

- Bà Cô thứ nhất họ Trần, thân ruột của anh Quang, mất khi mới mười tám tuổi do bị trầm thủy cách đây hai trăm năm, người ta thường gọi là Bà Cô Nhị đợi. Bà Cô họ Dương bên mình, cũng mất ở khoảng tuổi đó do bị đậu mùa cách đây ba trăm năm, gọi là Bà Cô Tam đợi. Nghe đâu bà Đức Tiên Cung gọi Bà Cô bằng cố bằng sơ gì đó, cả hai Bà Cô đều nhập vào em.

- Vậy là em có chân đồng bóng? – Tôi hỏi.

- Không. Từ nhỏ tới lớn em có biết đồng bóng là gì, mới nghe nói em đã sợ hết hồn. Hai Bà về nhập vô em ngay trong nhà này, không tới am tới miễu gì hết.

Hương không nói gì thêm, đến quầy hàng lấy một cuốn vở ghi chép, mở ra từng trang, chỉ cho tôi :

- Chị xem. Đây là chữ của hai Bà Cô viết bằng chữ Hán, và đây là chữ Cô dịch ra tiếng quốc ngữ.

Nhưng mà những bài thơ chữ Hán này do ai viết?

Là em viết, từ trong đầu em viết ra khi Cô nhập.

Còn thơ chữ quốc ngữ?

Cũng là em viết.

Nhìn lướt qua gần mấy chục trang viết toàn chữ Hán, nét bút sắc nét và lưu loát khiến tôi không khỏi ngạc nhiên. Những bài thơ này viết trên cuốn sổ ghi tiền hàng thu nhập của Hương, cho tôi hiểu đây là do Cô nhập bất ngờ chứ không có sự chuẩn bị nào trước. Hai Cô mất khi còn tuổi thành niên, nhưng qua nét bút hào phóng nhưng khuôn nếp, chứng tỏ hai Cô là người tài hoa trong làng văn tự ngày xưa chứ không phải tầm thường, nhất là hồn thơ man mác buồn thương khiến càng un đúc thêm niềm tin, tôi xác nhận :

- Chắc chắn em không thể nào biết được chữ Hán.

- Đúng rồi, em có biết tiếng Tàu tiếng Hán gì đâu. Thơ văn thì em dỡ ơn trời. Trong các môn học, em dốt nhất môn văn. Học tới lớp mười hai, vẫn chưa viết được bài văn nào trên năm điểm, thi cử trần ai cốt chĩa với môn này, làm sao em làm được thơ văn!

Nói rồi Hương ngồi yên để tôi giở tới giở lui mấy chục trang thơ chữ Hán bằng mực đỏ. Chữ Hán thì tôi cũng không hiểu gì, nhưng đọc qua mấy bài thơ dịch thì thấy hồn thơ vời vợi sầu thương, người đọc không khỏi xa xót buồn lây.

Bài thứ nhất của Cô nhị đợi họ Trần :


Nhật nguyệt sương mai cành tơ liễu

Mây mù rải khắp núi Trường Sơn

Ai thương ai khóc sầu bi thảm

Giọt đắng vành mi lệ chẳng ngừng

Thương con thương cháu Ta không nói

Chỉ biết khóc thầm thế gian ơi !


Bài thứ hai của Cô Tam đợi họ Dương :


Bao ngày mong đợi con cháu đến

Vui chút hương vầy nhà của ta

Quận Chín cô Nường đang ở đó

Trọng Thủ theo ta bấy nhiêu ngày

Bao tháng năm dài không thăm nó

Nó chết ở đâu chôn ở đâu ?

Ta đi tìm kiếm nhưng không gặp

Hãy chỉ cho ta để khói hương.


Đọc xong hai bài, tôi nhận xét :

- Chị cũng biết một ít thơ xưa, nhưng chưa gặp những vần thơ xúc động như thế này. Lời thơ ai oán não nuột, nhưng cốt cách văn chương không phải tầm thường, bút pháp không phải non tay.

Hương nói thêm :

- Chị biết Cô họ Trần nói sao không “Lúc xưa ta là con nhà quan, Thầy Đồ tới nhà dạy học, dạy ta sáng tác thơ ca. Thơ của ta, giáo sư bây giờ phải núp”.

Tôi bật cười. Đây là khẩu khí kiêu kỳ của con nhà danh gia vọng tộc, lòng tôi rất khâm phục. Là văn chương của người ở thế giới khác, thời gian sáng tác không thể xác định nhưng có thể là khi linh hồn các Cô đã trưởng thành chín chắn, ý thơ nhắn nhủ đầy câu thúc, tuy người chết đi nhưng vẫn quyến luyến cháu con, vắng lạnh đơn côi, luôn ước mong họp mặt sum vầy, bên cạnh cháu con để phù trợ và tìm chút tình nhà ấm áp. Nhưng hai Bà Cô này sao lại có sự gắn bó với nhau? Hương giải thích. Hai Bà Cô này là hai chị em kết nghĩa lúc họ gặp nhau ở cõi âm, cùng hoàn cảnh gia phong, cùng tâm đầu ý hợp. Con gái chết non yểu như thế thì hồn linh rất hiển, vì hai người xuất thân con nhà quan quyền nên khi mất đi, linh hồn được nhập cảnh non tiên nước biếc, vẫn hưởng phú quý vinh hoa. Ngoài cầm kỳ thi họa, hai Cô còn một thú vui an nhàn, là đánh bài Tứ sắc. Cho đến đời các phi tần trong Cung nội thời vua Bảo Đại vẫn còn duy trì môn chơi bài này.

Hai Cô cùng chơi bài và cùng làm thơ thi thố tài năng với nhau tâm đắc lắm. Cô họ Dương chơi bài giỏi hơn Cô họ Trần, nhưng tài làm thơ thì Cô họ Trần xuất sắc hơn. Tâm ý hai Cô hợp nhau nên trở thành đôi bạn thân thiết. Hai Cô hứa hẹn sẽ gả con cháu ở dương gian cho nhau, do đó Quang (Cháu Bà Cô họ Trần) và Hương (Cháu Bà Cô họ Dương) thành vợ thành chồng là do hai Cô khiến xui tác hợp.Và hai Cô cùng hợp sức để cho cặp vợ chồng này giàu có sung sướng, có của dư của để. Cô họ Trần an ủi Cô họ Dương “Thằng nam này, bây giờ có nhiều gái theo vì nó có tiền, cũng phải trả cho hết cái tiền nghiệp của chúng nó, ta can thiệp cũng không được, một thời gian tự nhiên sẽ hết thôi”.

Tôi thắc mắc về bài thơ của Cô họ Dương :

- Như vậy Trọng Thủ là ai, và Quận Chín Cô Nường là ai ?

Hương giải thích Trọng Thủ là em trai út của Hương, mất lúc mới ba tháng vì bị đẹn vôi không chữa được. Mẹ Hương đem chôn chỗ nào trên núi bây giờ không còn nhớ, lúc đó Hương chỉ mới bốn năm tuổi. Sau này, vì lo làm ăn nên lâu ngày việc thăm viếng khói hương thưa dần, rồi bỏ quên luôn. Bao nhiêu năm nay tưởng là siêu thoát rồi chứ đâu có ngờ

Bà Cô họ Dương rước hồn Trọng Thủ về ở với Cô, nhưng mồ mả thì do lâu ngày quá, xương cốt lẫn với đất đai không biết đâu là đâu. Cô thương xót lắm nhưng biết cậy vào ai để minh chứng cho tấm lòng xót thương dòng họ máu mủ thất lạc, dù Trọng Thủ là cháu không biết mấy đời. Cô chỉ còn cách dùng xác phàm của Hương để chứng minh.

Một thời gian sau, Trọng Thủ nhập vào Hương và ghi bài thơ nhắn lại cha mẹ :


Trọng Thủ con đây xin nhắn lại

Ba má thương con hãy đến Bà

Trọng thương ba thương má lắm

Bây giờ ba má nhớ con không ?

Nếu nhớ đến hãy đi lên núi

Vái nhiều lạy mãi mãi không thôi


Xem xong bài thơ, tôi hỏi:

- Đây thật sự là thơ của Trọng Thủ, nhưng ý cụ thể là thế nào?

- Em cũng chẳng hiểu rõ ý bài thơ ra sao, nhưng hôm sau tự dưng em cầm nhang đi bộ lên núi tìm mộ.

- Hương đi một mình?

- Em đi bộ, Đức con em đi xe máy kèm theo. Tới nghĩa địa rồi, em thắp cháy bó nhang, vái quanh vái quất, mắt tìm kiếm hết góc này đến góc nọ mãi, khi tới một bụi rậm thì dừng lại, bứt hết đám cỏ dại thì lộ ra tấm bia nhỏ, định thần nhìn kỹ, thấy rõ tên người phụng lập là ba má em.

Điều này khiến tôi cảm thấy ớn người, buột miệng :

Thật là quá linh hiển, nếu không có thần lực của ai đó dẫn dắt, làm sao tìm ra được. Chị nghĩ rằng Trọng Thủ biết rõ chỗ này và chỉ cho thân ruột biết để lo vun vén mồ mả.

Không phải chết là hết. Vừa mới ba tháng tuổi đã lìa đời, làm sao biết được ông bà tổ tiên nơi cõi tử, vậy là do tổ tiên gọi đến, mang về sum hợp một “NHÀ”.

Đây cũng là một hé lộ cho thấy Trọng Thủ khi mất chỉ mới có mấy tháng tuổi, sau mấy chục năm lại trưởng thành như thế sao? Học hành ở đâu mà làm thơ làm văn được như vậy? Đọc kỹ hai câu thơ :

Vui chút hương vầy nhà của ta ”

Và “ Trọng Thủ theo ta bấy nhiêu ngày ”

Hai câu thơ này của Bà Cô họ Trần cho ta hiểu rằng “NHÀ” của Bà đang có Trọng Thủ, có Quận Chín, có Cô Nường. Hương cho biết, Quận Chín là vong nam, Cô Nường là vong nữ, chỉ chung những bào thai bị sa sẩy khi chưa đủ tháng đủ ngày. Quận chín là vong linh người con trai thân ruột của Hương, đã kế hoạch khi mới thụ thai, vì sợ sinh con thêm sẽ nuôi không nỗi. Quận bắt Hương phải ăn chay ba tháng mười ngày. Hầu như Hương không biết gì về các món chay nhưng tự dưng nấu nướng được, tự phục vụ cho mình, để hoàn tất ý nguyện của Quận. Chứng tỏ Quận đã chay trường tu Phật. Ăn chay xong một trăm ngày, sút 6 ký lô, nhưng không đau ốm gì, sức khỏe vẫn như thường. Hương còn cười vô tư “Ngày ăn chay, tối đóng cửa phòng ngủ một mình không cho ai vào, không khác chi người tu hành”.

Thật tình thì chồng cô cũng không vào phòng được, vì có hình Đức Chúa Giê-su quá lớn treo ngay trước cửa, khiến anh ta sợ. Lý do cũng vì trong thời gian đó, hồn linh của Tân cứ hiện về quấy phá mãi nên Hương mới làm như vậy. Tôi thắc mắc, gia đình chúng tôi theo đạo Phật, sao Hương lại treo hình Chúa trước cửa phòng ngủ ?

Hương kể rằng, Tân chết rồi mà y như còn sống. Khi người ta đến phúng điếu, Hương thấy Tân đứng bên cạnh bàn, còn nói “Hương sao ghi gian tiền của anh”. Hương sợ quá trả lại đủ số tiền.

Tôi hỏi kỹ lại, phải Hương thấy chính xác Tân đứng bên cạnh không. Hương trả lời là thấy rõ Tân đứng bên bàn, nghe rõ cả tiếng nói. Còn lý do treo hình Chúa trước cửa phòng còn kinh dị hơn. Khi Tân mất, để lại chiếc xe Wave Alfa còn mới. Mợ tôi muốn bán vì không có ai đi. Vợ chồng Hà đã có xe rồi. Thấy người ta trả rẻ quá, Hương tiếc nên đưa tiền cho mẹ để giữ chiếc xe lại, cũng như để kỷ niệm người anh quá cố. Được một thời gian, xe cũng không có ai đi. Mấy đứa con Hương biểu bán đi vì nhà đã có hai chiếc xe máy và chiếc xe hơi, để thêm chật chỗ. Hương bán lại cho vợ chồng Thiện làm nghề thợ mã ở ngã tư đầu đường. Bán vừa xong thì đêm đó Tân về nhập ngay vào Hương, bảo rằng xe của Tân chỉ để cho người trong nhà đi thôi, không được để người ngoài đi, phải lấy trả lại cho Tân. Còn hăm he đủ điều nếu Hương không chịu lấy xe lại.

Âm dương cách trở, không biết làm thế nào, Hương đặt Thiện làm lại chiếc xe bằng đồ mã, mẫu mã, số xe giống y hệt xe đó. Cúng đốt xong rồi nhưng Tân vẫn không chịu, hôm sau lại đột nhập vào phòng Hương, đòi phải trả lại chiếc xe màu đen chứ không phải màu nâu như vừa đốt. Nếu không nghe thì liệu hồn tất cả. Hương thất kinh, sực nhớ xe của anh mình màu đen, chiếc xe vừa hóa vàng là màu nâu, vội nói với vợ chồng Thiện hãy làm lại gấp.

Thấy anh mình linh hiển quá, Hương sợ hãi đi xem thầy. Sau khi hỏi kỹ lưỡng trong nhà theo đạo gì, Hương thuật lại quá trình theo đạo Thiên Chúa của Tân. Người vợ đầu của Tân là người Công giáo, nhà ở cạnh dòng Chúa Cứu Thế, nhưng sau khi cưới nhau hai năm Tân mới chịu phép rửa tội. Thầy bảo như vậy linh hồn Tân đã thuộc về Chúa, dù hai người đã ly dị nhau. Hương phải treo hình Chúa trước cửa phòng và đóng kín cửa trước khi ngủ. Nhưng vì vậy lại làm cho Tân tức tối thêm. Những đêm sau, Tân vẫn đột nhập vào phòng Hương làm hung làm dữ. Có hai người mặt mày đen đủi hung tợn đi kèm theo hai bên. Người ta thường gọi đó là Kem giữ hồn. Người chết ngoài sáu mươi tuổi mới không có Kem. Hồn linh của Tân rất mãnh liệt, vì chưa ý thức rằng mình đã chết nên hành động theo bản năng hung hăng như lúc còn sống.

Sáng hôm sau, Hương kinh hãi khi nghe nói Thiện bị một kẻ lạ mặt chém ngang vào người lúc đang ngồi dán đồ mã ở cửa, đã chở đi bệnh viện. Công an điều tra thì nói Thiện bị người ta chém nhầm. Hương tá hỏa biểu vợ Thiện làm mau cho xong chiếc xe màu đen, rồi vội vả hóa vàng. Nhưng vẫn chưa thỏa lòng tức giận, Tân xui đẩy Hương ra chợ mua sợi dây kim xuyến. Về tới nhà, đang cầm sợi dây trên tay, bỗng dây xoay tít mấy vòng, xong Hương tự động đeo vào cổ mình. Dây dần dần thắt chặt khiến cô bị nghẹt thở. Biết anh mình chưa nguôi cơn giận, cô niệm danh hiệu Đức Phật A Di Đà xin Ngài giải cứu. Vừa niệm Phật vừa lấy tay cố kéo sợi dây nới ra nhưng không được, càng lúc dây càng siết chặt, như sắp tắt thở tới nơi.

Trong phút căng thẳng tuyệt vọng, bỗng như có ai thúc đẩy, tự dưng Hương đứng dậy đi ra khỏi nhà. Ra tới đường cái, nhắm hướng thẳng về phía Dòng Chúa Cứu Thế, dừng lại trước Tượng Chúa đang đứng bên đường. Không biết đọc kinh Chúa, Hương chỉ biết đứng nhìn lên tượng một cách khẩn thiết, hai tay cố rị sợi dây xuống khỏi cổ. Một khắc... bỗng sợi dây nới lỏng dần ra, Hương tỉnh hồn mừng rỡ, giật đứt ngay sợi dây và bắt đầu thở được. Lượm cái túi nhựa, cô bỏ sợi dây vào và mang ra thả dưới chân tượng Thánh ở phía sau nhà thờ, sau này mới biết đó là tượng Thánh Alfonso, Vị Thánh sáng lập ra Dòng Chúa Cứu Thế này.

- Rồi sau đó Tân có hiện về nữa không ? - Tôi nóng lòng hỏi.

- Từ lúc đó đến giờ không còn thấy anh nữa.

Như vậy, uy lực của Đức Phật không thể khống chế được linh hồn của Tân. Chứng tỏ vị Giáo chủ của mỗi tôn giáo vẫn có quyền hạn trong việc quản lý linh hồn giáo dân của mình khi họ chết. Đạo Thiên Chúa rất coi trọng phần hồn, khi đã được rửa tội rồi, tức linh hồn đã thuộc về Chúa, do đó quyền cai quản linh hồn phải thuộc về Chúa. Trước sự linh diệu này, sự thật được sáng tỏ như ánh mặt trời, Đức Chúa và Đức Phật vẫn thường hằng từ hàng bao thế kỷ, luôn hiển hiện để cứu độ chúng sanh dù các Ngài ở bất cứ nơi đâu. Đức Chúa đứng ở ven đường nơi Dòng Chúa cứu thế vẫn cứu nạn cho loài người bất kể thuộc tôn giáo nào, không cần phải đến với Ngài trên ngôi cao ở Thánh đường nguy nga lộng lẫy. Chúa ngự khắp mọi nơi.

Hương linh của Tân quá linh hiển nên tôi không dám đề cập gì nhiều về đời sống riêng tư, chỉ biết một ít về tính khí ngang tàn của Tân lúc còn sinh tiền mà ai cũng biết, có ba đời vợ nhưng không ai ở nổi. Khi Tân mất, có đến ba người đàn bà mang con đến xin để tang. Hương còn dẫn chứng, Tân mất trong đêm say thuốc quá liều là do Bà Cô họ Dương bắt đi. Cô cho Hương biết như vậy. Cô bắt đi có nghĩa là Cô không cho Tân sống nữa để cứu vớt những người còn sống, còn linh hồn của Tân phải qui phục chịu sự phán xét của Chúa. Đủ cho ta khẳng định sự phân biệt Tôn giáo ở cõi dương thế đã đành, mà ở cõi Trời, các Tôn giáo vẫn tách bạch nghiêm minh. Giáo dân theo đạo nào thì chịu sự cai quản của vị Giáo chủ đó. Người đạo Ki Tô khi chết thì về với Chúa. Người đạo Phật khi chết thì về với Phật.

Một chuỗi sự kiện liên tiếp xảy ra, những nhân vật trong cuộc đều có liên hệ máu huyết thân thiết với Hương, nếu Hương không phải là nhân vật chủ động, thì nó giống như một câu chuyện hoang đường mộng mị khó tin. Mọi diễn biến như những minh chứng rõ rệt về sự linh thiêng của linh hồn ở thế giới bên kia, đầy đủ hỷ nộ ái ố, có luật cai trị phân minh. Vì linh hồn là những tế bào điện tử có tần số rung động khác với người sống ở thế gian nên cõi nào chỉ có thể nhìn được cõi đó mà thôi.

Về nhà, qua một đêm khá giao động, suy đi ngẩm lại, tôi dứt khoát thay đổi lập trường tín ngưỡng bấy lâu. Vì không rõ lẽ âm dương mầu nhiệm như thế, nên đã không tin tưởng mấy vào việc bái vọng. Bây giờ phải cúi đầu mà tin. Không cần duy tâm duy lý gì nữa cả. Đúng là “Tin tại ngã, bất tin tại ngã”.

Thêm hai bài thơ vừa đọc hôm qua khiến lòng bâng khuâng xao xuyến :


1.

Sóng nước hương trời vẫn không quên

Mây xanh che lấp không gian tím

Ta vẫn cô đơn vẫn cô đơn

Thung lũng ngày xưa thay đổi lại

Ta ngầm khâm phục lắm ai ơi …

Che nắng, che mưa ta ơn cảm

Ngồi nơi một xó cũng buồn thiu

Nhìn lên, nhìn xuống thang cầu gỗ

Chạy lên, chạy xuống một mình em

Thương thương thương lắm nhưng không nói

Chỉ để ý em một nửa mắt thôi

Men nồng say đắm em yêu hỡi

Hãy chứng minh rằng ta có đây

2.

Phong cảnh chiều thu lững lờ trôi

Nhìn mây kéo xuống tận chân trời

Lòng này khao khát bao ân ái

Nhịp đập con tim bừng thế gian

Chiều thu gió lạnh xanh hương ngát

Lấp lững mây trời vẫn trào dâng

Ai yêu em nữa em em hỡi

Sống trên đời này vẫn thế thôi

Men tình say đắm em yêu hỡi

Gợn sóng mây tình của anh đây

Chăm chăm chút chút thêm vương vấn

Vận áng mây hồng hỡi gió thu


Hai bài thơ thể hiện tấm chân tình tha thiết nhưng không biết tác giả là ai. Hương vừa xem qua vài câu, vội nói :

- Đây là thơ của Cậu Ngoại càng Ngoại cảnh.

- Ngoại càng Ngoại cảnh là ai?

Hương giải thích :

- Thường nhà nào cũng có đặt một bàn Thiên bên ngoài, gọi là Ngoại cảnh, tối tối thắp hương cho những vong hồn hữu vị vô danh hữu danh vô vị không nơi nương tựa. Lúc còn ở nhà cũ, em bắt chước các nhà chung quanh,đặt một trang thờ phía ngoài,không ngờ em bị “vương” phải Cậu. Lúc còn ở nhà cũ, bàn Thiên đặt hơi cao, phải sắm cái thang gỗ để leo lên thắp hương, không ngờ có một vong nam đến trú tại đây, cũng là người biết văn thơ, nhìn cảnh ngày nào em cũng trèo lên trèo xuống cầu thang, thành tâm cúng kiến, nên Cậu làm hai bài thơ y chang.

- Nhưng ai viết ra hai bài này?

- Thì em nghe Cậu đọc, em viết.

Tôi không hỏi gì thêm. Một khoảng lặng để lắng lòng thán phục người đã viết lên những câu thơ tha thiết đầy tình ý, nhưng lại biểu hiện tư chất trong sáng cao thượng. Chắc vị này cũng gần lứa tuổi với Hương, đè nén tâm tư khát khao một tình yêu nồng cháy, để giữ gìn cho Hương sống an lành với gia đình, không đòi hỏi phá quấy để cô ấy phải vương mang điên loạn. Chứng tỏ một con người học vấn trí tuệ cao thâm, tiếc thay cuộc đời ngăn ngủi, nhưng sao lại không ở nơi thờ phượng mà phải lang thang vất vưởng, tìm nơi ẩn trú này! Đến nỗi buồn quá phải than “Ngồi trong một xó cũng buồn thiu!”.

Cũng do hồn linh còn nuối tiếc cuộc đời, tưởng mình chưa chết hoặc không chấp nhận thân phận mình đã chết, là một ách tắc lớn cho việc siêu vãng tái sinh, kẹt lại một thời gian dài trong cảnh giới thân trung ấm, vất vơ không định hướng, vốn là điều bất hạnh cho người vừa mất.

Lòng tôi chỉ biết thầm cầu nguyện cho Cậu biết thức tỉnh, chấp nhận rời bỏ mọi ràng buộc luyến lưu thế tục để mau siêu thoát vãng sanh. Một linh hồn cao quý tuyệt vời như thế chắc chắn sẽ hóa sinh vào cảnh giới tốt đẹp.

Như vậy đã có 5 linh hồn người âm nhập vào Hương liên tiếp trong một khoảng thời gian ngắn, cũng đủ xuy vi cái xác phàm của cô ấy, và hẳn nhiên tinh thần cũng bị chi phối gây ảnh hưởng nhiều đến đời sống. Suy cho kỹ sẽ thấy Hương như một dây nối, là điểm chốt cho cuộc hội ngộ hữu ý hữu tình của 5 vị này, đều là những “nhà thơ”, để những vầng thơ của các vị được chứng minh cho người dương thế, và còn lưu lại cho nhiều đời sau, hẳn nhiên là một số bài thơ nữa chưa được đưa lên. Đây cũng là một sứ mệnh.

Và Hương, phải biết cung kính mỗi khi các vị về hiển thị, một sự kiện được chứng thực chứ không gọi là đồng bóng dị đoan. Nửa thế kỷ về trước, vấn đề này không bao giờ được chấp nhận ở nước ta, nhưng dần về sau này, phát hiện nhiều hiện tượng tâm linh khá cụ thể minh bạch, không thể không tin, nhất là việc các nhà ngoại cảm tìm mộ liệt sĩ. Gần đây hiện tượng đồng bóng còn được phổ biến rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng. Như vậy vấn đề này không hẳn gọi là mê tín. Trong vũ trụ, có những nguồn Năng lượng siêu nhiên điều khiển mọi hoạt động của người sống cũng như người chết, liên hoàn vô tận, dần dần sẽ được các nhà khoa học nghiên cứu về tâm linh đưa ra ánh sáng, nhưng còn đòi hỏi nhiều thời gian và công sức.


***


Ngày gần về, tôi điện thoại chào Hương để vào Nha Trang, Hương nói tôi phải qua nhà Hương ăn cơm một bữa nữa. Trong bữa ăn, tôi đưa một ý kiến là không nên thờ Ngoại cảnh, như ngôi nhà vô chủ ai muốn đến ở thì ở. Gặp như Cậu ngoại cảnh người có tri thức đạo đức cũng đã thấy ớn lạnh, huống gì gặp người xấu thì họ sẽ quấy phá làm sao mình yên? Hương nói nếu lâu nay chị không thờ thì tùy, nhưng mà cũng thường xuyên khấn vái các Bà Cô, lúc nào các Bà cũng ở bên cạnh con cháu, cao nhất là Bà Cô Tứ Đại, chết bốn đời. Nếu mình có nghĩ tưởng tới thì tổ tiên ông bà sẽ có ngay, sẽ được che chở, độ cho. không nghĩ tưởng thì không đến. Do đó dâng phẩm vật để cúng các vị không cần đến ngày giỗ kỵ mà bất cứ lúc nào cũng được, khi chúng ta có thành tâm nhớ tới, và cũng không cần phải tập trung giỗ kỵ một nhà như ngày xưa. Việc này được lý giải bằng nhiều tư liệu đã được phổ biến rộng rãi đa dạng hơn, chỉ cần biết một điều là nếu có những vong linh trong nhà mình (bằng giác quan cảm nhận của ta), thì đó hoàn toàn là vong linh tổ tiên, ông bà cha mẹ, hoặc người thân thích, chứ không phải người lạ. Ở cõi âm vẫn có hệ thống chính quyền, có luật lệ, như cõi trần.Thổ công Ông Táo là an ninh gia đình. Thần linh là Công an khu vực, Công an xã. Người lạ không thể vào nhà mình được.

Thế kỷ 21 là thế kỷ tâm linh, kết hợp với khoa học, không thể xem thường sự vi diệu của thế giới vô hình. Thật ra, cõi âm luôn thay đổi theo “thời tiết”, theo “thời thế”. Là kỷ nguyên của Khoa học kỹ thuật, tiến bộ văn minh, theo luật, người âm phải học hành nhiều lắm, chuyển biến nhanh hơn, tiến bộ nhanh hơn, mạnh mẽ hơn mới giúp được người trần. Như trường hợp Trọng Thủ, mất lúc mới ba tháng tuổi, nếu không phải học hành thì làm sao có kiến thức, am hiểu văn học để sáng tác được thơ văn thay cho lời nói.

Hương dẫn tôi lên tận lầu bốn, ra ngoài sân thượng, tôi chợt lạnh mình, hỏi Hương sao mà thờ nhiều trang vậy. Hương chỉ cho tôi hai trang thờ hai Bà Cô họ Trần và họ Dương, một trang thờ Cậu ngoại cảnh chuyển từ nhà cũ lên đây, một trang thờ Ông Quận tức là thai nhi của Hương do kế hoạch lúc trước. Nhìn bốn trang thờ sắp một dãy chiếm hết diện tích sân thượng, tưởng tượng tối nào Hương cũng phải lên xuống bốn tầng lầu để thắp hương chắc là chân cẳng mỏi rời, đèn đóm âm u làm sao không sợ. Hương nói có Cô đỡ cho nên không biết mệt và không biết sợ. Sẵn Hương kể cho tôi chuyện Bà Cô họ Trần can thiệp vào một vụ gây gỗ giữa Hương với chị dâu mới chết, xảy ra cách vài tháng.

Người chị dâu là vợ của anh Hưng, anh đầu của Quang, gia đình hiện đang sống ở Đà Nẳng. Trước đây hơn ba năm, thấy Hương gặp nhiều khó khăn, không có vốn làm ăn, chị Hưng cho Hương mượn ba triệu, chị

dâu như vậy là tốt rồi. Nghe nói chị còn cho anh Quyền mượn vốn kinh doanh nữa, nhưng ít nhiều không rõ. Quyền là anh kế của Quang. Biết việc này, Hương thấy chị dâu có lòng thương người, rất đáng quý trọng. Bỗng nhiên chị chết bất ngờ do một tai nạn lao động, ai cũng thương tiếc. Trong mấy ngày đám tiệc ở Đà Nẳng, anh Quyền khai thật với anh Hưng, là chị có cho mượn tám chục triệu, đã trả bớt năm chục triệu rồi, bây giờ chị mất, còn lại ba chục triệu sẽ lần lần trả tiếp cho anh. Đứng trước người khuất mặt không ai dám nói dối. Do đó Hương mới biết được chị Hưng cho vợ chồng anh Quyền mượn số tiền lớn như vậy. Tự nhiên cô buồn buồn trong bụng, nhưng không trách chị dâu được, mà cũng chẳng biết nói cùng ai. Bây giờ thì Hương đã giàu có rồi, không cho chuyện đó là trọng.

Nhưng một tối thắp hương nơi trang thờ Bà Cô họ Trần, trong đầu chợt nghĩ tới chuyện chị Hưng cho mượn tiền, ý là chị Hưng thấy mình nghèo không dám cho mượn nhiều, còn anh Quyền có cơ sở làm ăn lớn thì cho mượn quá nhiều. Đó là ý nghĩ tự nhiên đến trong lúc khấn vái vậy thôi, sáng mai quên đi vì chuyện qua rồi, mà chị Hưng không còn nữa biết trách ai. Vậy mà sau khi đám tiệc chị Hưng xong, một buổi tối khi đang ngồi ở quầy hàng chờ giao chìa khóa phòng cho khách trọ, bỗng dưng Hương nhìn ra cửa kính thấy chị Hưng đứng ngoài gọi vào :

Này con Hương ra đây. Tao cho mày mượn tiền không ơn còn oán, mắc mớ chi mày dám kể với Bà Cô là tao cho thằng Quyền mượn tám chục triệu, còn mày chỉ có ba triệu, mày là con nhiều chuyện ...”

Chị Hưng còn mắng mỏ la lối inh ỏi nhiều lời nữa. Lúc đó thì Hương thất hồn bạt vía, Hương có ú ớ gì đó để phân bua hơn thiệt, nhưng chị hung hăng đòi xông vào nhà. Hương trật thấy chung quanh chị có nhiều người đi theo nữa, không biết từ đâu. Xông vào nhà không được, chị lại chạy qua phía cửa gương bên trái, đám đông chạy theo, tay cầm gậy gộc. Vừa lúc Hương đang hoảng hốt chưa biết đối phó thế nào thì thấy một bóng trắng từ trên trời bay xẹt xuống. Một lát sau thì không còn thấy ai nữa, ngoài sân vắng vẻ như chưa từng xảy ra chuyện gì.

Lắng nghe không bỏ sót chi tiết nào, tôi bỗng nghe gai mình, xác định sự việc này gần như một sự việc có dẫn chứng, nhưng khó lý giải, là tai vách mạch rừng này do đâu, hay là hương linh chị Hưng có trăm tai ngàn mắt, bàng bạc khắp tứ phương?

- Như vậy là em có thấy rõ mặt mũi chị Hưng và những người đi theo?

- Thấy là thấy lờ mờ, nhưng biết chắc đó là hình dáng chị Hưng, lời lẽ mắng nhiếc trùng hợp như vậy thì không thể ai khác, những người đi theo cũng chỉ thấy lố nhố những cái bóng mà thôi.

- Lúc đó Hương sợ không ? Tôi tìm hiểu.

- Sợ run khiếp luôn. Sau này, mỗi tối lên lầu thắp hương ngoại cảnh, em hay nổi gai trong người. Con em đứa nào cũng sợ không dám lên. Có mấy lần em thắp hết cả bó hương, định bụng vài ngày sau mới thắp lại, và cũng vì lên xuống mỏi chân. Thế là Cô về trách ngay “Sao lại thắp hương bù ngày này cho ngày khác? Ta bay qua bay lại không thấy hoa quả, chỉ có mấy cây hương...”

Hương giải thích thêm lời của Cô, Cô nói không phải Cô đòi hỏi, nhưng Cô đã giúp cho đầy đủ, có của ăn của để, thì mình phải dâng cúng phần nào để cô phân phát cho các đệ tử cô hồn. Không có âm binh làm sao Cô biết ngay chị Hưng từ trong Đà Nẳng ra tới Huế giữa lúc nửa đêm hành hung để giải cứu kịp lúc. Cô đã nói “Đất đai nhà cửa thằng Quang có được cũng nhờ tay ta ấn vào khuôn dấu người ta, không phải dễ, cũng vì ta thương con thương cháu ...”.

Như vậy linh hồn vẫn cần cái ăn cái uống, vậy mỗi khi cúng cấp giỗ chạp, mình nên cúng nhiều phẩm vật vì không phải chỉ cúng cho mỗi một người. Có người nói cúng là cúng vậy chứ người chết thì ăn uống gì được. Vậy thì tại sao Cô lại quở trách?

Theo những nghiên cứu của các nhà khoa học, và tư liệu tích lũy hiện tượng của người âm thì người chết họ “sống” bằng Tâm Tưởng nên họ ăn bằng cái Tưởng, vẫn cảm giác đầy đủ no nê bằng cái Tưởng . Bởi vậy mới có những hương hồn đói khát về báo mộng với người thân. Đó là cái ăn do chính người âm yêu cầu, có lẽ có từ ngàn xưa, chứ không phải do người trần tự đặt ra. Còn cái mặc thì sao? Lại một hiện tượng đốt đồ bành nữa được Hương làm sáng tỏ. Hương nói tiếp :

- Ai cũng tưởng em mặc hàng hiệu, nhưng thật ra phần nhiều em mặc toàn đồ bành, mình phung phí làm gì phải không chị. Một lần Cô về, xui em tự động mở tủ lôi hết áo quần ra, xong lựa từng cái một, dồn được một mớ, Cô nói đó là đồ của người chết, đợi đêm khuya vắng vẻ mang ra sân châm lửa đốt hết. Lúc đó em thấy nhiều bóng người từ trên trời bay xuống đứng chung quanh. Khi đốt xong thì họ bay đi.

Như vậy ai là người thông tin cho những chủ nhân của mớ áo quần kia để họ biết ngày giờ nơi chốn mà đến nhận lại? Là một vấn đề siêu hình nữa được đặt ra. Suy cho cùng, Hương cũng không đủ trình độ để sáng tác hoặc thêm bớt gì trong chuyện này. Nhưng như vậy, việc hóa vàng vật dụng hoặc giấy vàng bạc không phải là không có tác dụng, như đã thấy trong trường hợp chiếc xe máy của Tân và mớ đồ bành của người chết. Bây giờ người ta còn hóa vàng xe hơi, nhà lầu… có thể chấp nhận được, bởi người âm họ ăn của cúng bằng cái Tưởng thì mọi đồ đạc vật dụng được hóa vàng, họ cũng nhận bằng cái Tưởng.

Riêng tôi thì tôi cúng bằng tiền thật và không đốt giấy vàng mã. Bởi theo một số tài liệu trên các phương tiện thông tin, sách báo, ngay cả trên tài liệu Thực Nghiệm Khoa Học Tâm Linh được nhà nước chấp nhận, cho rằng người âm họ vẫn tiến bộ theo thời đại do luật của cõi trời, sử dụng đồ đạc và đồng tiền hiện thời, thì ta nên cúng tiền thật, vì tiền vàng mã xuống âm phủ phải qui đổi, hạ giá nhiều so với tiền thật. Số tiền thật sau khi cúng, sử dụng vào những việc tốt lành có ích là được. Còn việc đốt tiền Bác Hồ, tiền đô như thường thấy gần đây cũng có thể đúng. Do đó tùy theo tư duy và niềm tin của mỗi người mà làm theo trong việc cúng kiến.

Hiện nay nhiều gia đình khi cúng giỗ người thân, thường cúng thêm một mâm Các Bác. Phẩm vật cúng Các Bác lại đặt trên chiếc chiếu trải trên nền nhà, vì cho rằng trong số Các Bác cô hồn có người què tay cụt chân, nếu đặt phẩm vật trên bàn cao họ sẽ khó lòng với tới.

Đối chiếu với quan niệm này, ta thường nghe nói hồn ma ở trên cây cao, trên mái nhà, lầu thượng, giữa trời đất không trung. Kết hợp những hiện tượng đó, với một số tư liệu chứng thực của các nhà khoa học cho thấy rằng con người khi chết, phần hồn thoát khỏi xác bay lên (theo tài liệu khoa học của các GS Bác sĩ R.B.Hout, Edgar Cayce).



Như vậy, linh hồn là một dạng thức nhẹ như sương khói, nhẹ hơn cả không khí, có thể di chuyển bất kỳ nơi đâu trong không gian, với một tốc độ siêu việt, 1 phút có thể bay 1.750 km. Có thể làm sáng tỏ thêm bức màn bí mật này, tại sao Cô họ Trần nói “ ta bay qua bay lại …”.

Linh hồn có thể xuyên qua nước, xuyên qua tường, xuyên qua biển, qua núi… Khi con người trút hơi thở, phần hồn nhẹ bổng ấy biến mất, ta không thể thấy được. Linh hồn là những tế bào điện tử có tần rung động cao hơn người sống, gọi là sóng vô hình, nên linh hồn thấy rõ ta, hiểu hết những suy nghĩ diễn ra trong đầu ta, nhưng ta không thấy được họ. Do đó mà có những chuyện thật đã xảy ra khi có người gặp ma, đó gọi là thể vía, đúng như hình dạng khi họ còn sống, có khi còn nghe văng vẳng tiếng nói bên tai. Những hồn này có một năng lượng điện tử có tần số rung động cao hơn người sống nên có khả năng giao tiếp với người sống, mà người sống không có được khả năng xuyên suốt như họ. Khi thể vía mất đi tức là hồn đã tiến hóa ở một cảnh giới tương ứng.

Nhà triết học Robert Monroe đã giải thích rằng “Có một thế giới khác với thế giới ta đang sống. Thế giới này dường như lồng trong thế giới của chúng ta, hay kề cận sát bên mà ta không biết. Nơi đó có nhiều linh hồn lang thang vô định, họ không có khả năng định hướng, nhất là những người chết oan khiên, bất đắc kỳ tử.”

Và Bác sĩ Mac Dougall đã nói “Nếu so với lẽ huyền vi của tạo hóa thì kiến thức của con người còn quá non yếu ...”

Hai thế giới âm và dương tuy “lồng” vào nhau nhưng không ảnh hưởng, không va chạm, không dậm chân hoảng loạn. Thế giới gọi là ma quỷ, thường là những linh hồn vất vưởng, không lên được cõi thiên đường, cũng không vào hỏa ngục, do cái chết quá tức tưởi đột ngột, thần thức hoang mang không biết mình đã chết, hoặc có thể biết mình chết rồi nhưng quá tiếc nuối thân xác, hoặc do quá oan ức không trả được hận thù, hoặc không muốn rời xa người thân thích, hoặc còn tham mê luyến ái dục vọng nên không tiếp tục được hành trình chuyển hóa siêu sinh. Tình trạng lơ lửng này kéo dài có khi cả ngàn năm, nhiều khi hiện thành những hình dạng ghê rợn mà ta gọi là quỷ sứ để dọa người. Có khi hóa thành rắn rít, thú dữ. Vì vậy đời sống ở cõi trần quyết định đời sống bên kia cửa tử. Thiên đàng Địa ngục do ta.

Còn những người trước khi chết mà biết mình sẽ chết hoặc biết chuẩn bị cho cái chết, hoặc khi chết đi mà nhận ra thân phận mình đã mất, biết giác ngộ tìm chánh đạo, thì họ sẽ không rơi vào địa ngục, có thể được làm đệ tử theo hầu chư Phật, chư Thánh. Sau một thời gian tu tâp, những linh hồn trở nên thanh sạch, tinh khiết sẽ vượt Thiên, lên cõi cao (cõi Thượng Thiên), thinh thông biến hóa, ở ngoài quỷ đạo thời gian, không còn luân hồi sinh tử. Trường hợp hai Bà Cô có thể như vậy. Và hầu như gia đình nào cũng có một Bà Cô như vậy.

Tuy nhiên, Tiên Thánh hay ma quỷ, hình ảnh xuất hiện thường không rõ ràng, mờ mờ ảo ảo, rung động như hình trên mặt nước. Sự đi lại không phải bằng hai chân vì ở thể nhẹ, nên lướt bay như trôi như nổi giữa không trung, biết hết mọi việc ở khắp mọi nơi,và thấy nhau, gặp nhau, thông tin liên lạc còn nhanh hơn điện tử ?

Soi sáng được một số hiện tượng mầu nhiệm trong thế giới vô hình nhờ những tiếp xúc được chứng minh khá rõ ràng khúc chiết, người viết bài này đã chân thành khấn xin, mong sự hoan hỉ, mới yên tâm cầm bút.

Đây cũng là duyên trời để có thể soi sáng ít nhiều sự huyền bí của thế giới vĩnh hằng, còn thế giới hiện hữu của chúng ta chỉ là cõi tạm. Điều ta cho là một đời, thật ra chỉ là một ngày nho nhỏ trong một kiếp sống kéo dài thiên thu. Chúng ta không bao giờ sống, không bao giờ chết. Chúng ta là bất tử.

Chết sống là lẽ thường, không có gì phải sợ, thái độ bình thản với sự sống và cái chết, không vương vấn bận lòng, biết buông bỏ tất cả (Ưng vô sở trụ…), giúp người lúc lâm chung một chấm dứt êm ái an lành, và sẽ là sự bắt đầu non nẻo tươi mới hơn.

Vì vậy, một cuộc sống đạo đức lương thiện là rất cần thiết. Và phải biết dọn mình trước giờ phút đối mặt với tử sinh .



.Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ NhaTrang ngày 27.12.2016.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004