Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới







CỬA ĐÁ




PHẦN THỨ BA



Chương bốn


1.

Cây sồi đổ nhựa, đỏ như máu.


***


Mẩu cành cộc, từng là nơi Lừ đã từng treo mồi cho đại bàng, rồi lại được Môn treo kẻng cho hợp tác xã, khiến nó mòn nhẵn như cái chày.

Cành cộc, bây giờ, nằm trên ban thờ nhà lão Hượm.

Cái ban thờ được lão đóng bằng tre, treo dây chão hóp trên vách gian giữa. Bát hương được đẽo gọt bằng gốc tre già, khắc một bầy rồng và tô phẩm ngũ sắc. Lão còn tỷ mẩn đốt rơm nếp, nhồi vào bát hương. Mỗi năm, chân hương được lão hoá vào hai mươi nhăm, tháng Chạp, ngày dọn bàn thờ. Cũng ngày ấy, lão ra suối Mẹ, xách về một bắng nước, tắm cho cành cộc trong chậu đồng, y như thể tắm Phật. Lão cảm thấy trong thớ gỗ già nua, có tiếng cười sảng khoái và hơi thở nồng ấm. Những vết chân chim trên khoé mắt lão cũng như dãn ra, những đốm tàng nhang trên trán lão cũng như bay biến.

Nhớ lại cái vụ BBC, khi bị trên đòi, lão cũng thỉnh cành cộc. Cành cộc rướm máu, phán:

Khôn ngoan chẳng lọ thật thà

Thật thà là bà khôn ngoan.

Lão tinh ý nhận ra ý thần, trong cái mớ bòng bong những lời thơ văn ấy và phúc bảy mươi đời nhà lão.

Sau vụ ấy, lão đóng một cái tráp bằng gỗ vàng tâm, lót lụa điều mà đặt cành cộc, như một báu vật thiêng liêng. Ngài ngự nơi ấm êm, sang trọng và được tôn kính thì lấy làm mãn nguyện lắm. Khi nào có việc cần kíp, hệ trọng, lão mới dâng hương, rót rượu, khấn vái và linh nghiệm.

Lão nghĩ, phận mình đã lạc loài, lại sống kiểu dở dơi dở chuột, biến động khôn lường, tai bay vạ gió khó bề tránh khỏi, thì thờ ngài thành tâm, hẳn sẽ được phù hộ. Lão chỉ cầu xin sự bình yên và sức khoẻ, chứ tuyệt nhiên, không bao giờ xin xỏ tiền bạc, chức tước. Đám con cháu cũng thuận theo. Lão kỳ vọng ở thằng cháu ngoại. Khi sinh đã có đám mây ngũ sắc từ đền Lừ bay ra che nắng, như thể cái tàn, cái tán nhà vua. Cháu lão, thường ngày gọi là Cò. Đến độ thôi nôi, lão mới cho giai tế đặt tên cháu là Mộc. Thế thì giấy khai sinh? Thì cứ Cò mà biên, rồi sau khô đầu khô sọ thì thêm cái bí danh. Bí danh, khối người còn danh giá hơn cả tên cúng cơm ấy chứ. Lão lý sự thế thì củ cải cũng phải nghe. Làng Tuyền này, lần đầu tiên có người mang bí danh, thế là cái sự lạ và được nể trọng. Lão thỉnh cầu ngài, phù hộ cho Cò Mộc, sớm làm rạng danh gia tộc, xóm làng.

Viên là giai tế của lão. Người xưa giải nghĩa, viên nghĩa là con vượn, giai tế là rể hiền. Sách, báo bảo rằng, tổ tiên loài người là vượn. Con gái lão là Ngàn. Ngàn là rừng, rừng sinh sôi trên nhũ Mẹ Tiên. Cò phải cương cường như sồi, mềm dẻo như sồi, gió táp mưa sa ngàn đời không chuyển lay. Vậy, lão đặt bí danh cháu là Mộc. Mộc, nghĩa là gỗ, gỗ không phạm huý thần sồi, nhưng cũng có ý khiêm nhường. Sống ở đời, không khiêm nhường thì dễ gặp vạ, thường do bọn tiểu nhân đố kỵ gây ra. Lão tính nát nước mới ra cái bí danh cho cháu.

Thời trai trẻ, có bữa, lão uống hết cả dấm rượu, nhưng không say xỉn, không đập phá, hoặc nói năng càn rỡ bao giờ. Lão bảo, uống rượu là cái thú của đàn ông, nhưng không để mình hoá thú. Dạo này, sức lão đuối rồi, mỗi bữa chỉ uống một góc chai rượu, đứng dậy phải chống tay đầu gối, lớp da cùi chỏ và mắt cá chân đã đóng chai như đít khỉ, da bàn chân bong vẩy cá. Nhưng duy chỉ còn đôi bày tay là vẫn mềm dẻo, kéo vỹ, bấm dây điệu nghệ. Mỗi khi lão kéo nhị, Cò Mộc tươi nét cười, vẻ như thích thú lắm vậy. Từ khi có Cò Mộc, lão không bao giờ hát câu "dương cây cung nữa", sợ sái thằng cháu, mà chuyển sang lảy Kiều:

" Trăm năm trong cõi người ta

Chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét nhau". (6)

Lão chột dạ, sợ điều phỉ phui, lại ngâm nga:

" Em ơi, em ở lại nhà

Vườn dâu em đốn, mẹ già em trông". (7)

Lão thở dài, câu thơ hay thường mang nỗi buồn ám ảnh, khó tránh. Lão nhớ Nguyễn Bính. Lão từng biết nhà thơ chân quê này, khi dính vụ Nhân văn giai phẩm, trên thủ đô, phải về thành Nam tá túc. Sau khi về cõi vĩnh hằng rồi, mà phần mộ còn vạ vật mãi mới đưa được về quê hương bản quán. Đời thi sỹ là của nhân dân, ai nấy long đong lận đận. Lão mong Cò Mộc có chút chữ nghĩa để nên danh nên giá, nhưng lại sợ dính phải chuyện chữ nghĩa thì lận đận long đong. Đời người như thể cánh cung, khuyết bên nọ thì vùng bên kia.


3.


Môn, từ sau đận bị cành cộc rơi trúng đầu, thì Nụ chỉ sinh thêm được mụn con gái rốt lòng, gọi là Trang.

Năm mười ba tuổi, Trang ra bến đền Lừ cùng tắm với bọn con gái nhầng nhầng, vú chũm cau. Bọn chúng quờ quạng thế nào lại thấy một cái mà to, vòm trần nhẫn thín, đích thị là mà ếch rồi. Trang lao bổ tới, thọc tay vào, lôi ra một con ếch cụ, béo tròn, to bằng quả bưởi, tha về.

Môn sướng quá, lột da, chặt thịt, bày ra các món tẩm bột rán, xào sả, ớt, nấu chuối xanh, nướng chả… làm một mâm tú ụ. Trang lấy bộ da ếch, bịt vào miệng vại sành thủng, nom như cái trống tang sành. Từ trẻ chí già, chưa ai từng nom thấy cái trống ếch to ngần ấy, nhưng cảm thấy rờn rợn thế nào, không ai dám động dùi.

Lúc trong nhà, Môn cùng bố vợ và đám cán bộ hợp tác cụng chén, thì ngoài sân, Trang lấy dùi gõ "tung" một tiếng. Ngay tức thì, trên trời vọng lại tiếng sấm lục bục như tiếng pháo cao xạ mười hai ly bảy, khiến ai nấy đờ đuỗn cả chân tay. Bất chợt, Trang lại gõ "pung" một tiếng. Lập tức, sét đánh bổ xuống sân, "đoành" một cái như pháo cao xạ một trăm ly. Tất thảy mọi người, trong nhà, ngoài sân đều ngã bổ chửng. Trang cũng ngã vật ra đầu hè, khoé miệng tứa máu tươi.


Ba ngày sau, Trang tỉnh lại, nhưng ờ ờ ẫn ẫn như người mất hồn. Tự dưng, không nói được tiếng người nữa, chỉ còn biết kêu "ộp, ộp…" và cũng đi không đi, đứng không đứng được, cứ nhảy chồm chồm như ếch, trên da mọc những nốt sần đen đen thâm thâm. Trang thích ngâm nước. Một hôm, đang vầy nước dưới bến đền, chợt thấy máu loang đỏ, cô sợ quá, vội chồm bổ lên bờ, ầm ĩ kêu "ộp, ộp… ". Mấy bà đang cấy lúa ngoài đồng Sồi, vội quẳng mạ chạy ra, thấy máu còn ướt nhẹt đũng quần của cô, thì chợt hiểu ngay là chuyện đến tháng của đàn bà. Nhưng hẳn là cô mới có lần đầu, nên sợ hãi, ngỡ là cọc chọc thủng bụng lúc nào không hay. Các bà bỏ buổi cấy, tính công nhật, để dìu cô về nhà. Nụ vừa tấm tức khóc, vừa thay đồ cho con:

- Khốn khổ một đời rồi con ơi. Xin cắn rơm, cắn cỏ vái lậy thần, phật tha tội cho con, cho cháu.

- Thế, nhà mình đã kêu cầu gì chưa?

- Thì còn thiếu cửa nào mà chưa vái đâu. Cái hôm ấy, em đi họp thảo luận hội phụ nữ trên huyện, nên mới nông nỗi này. Ai đời, cụ ếch như thế mà bố con nó còn không nương tay. Thấy cái gì to thì phải sợ chứ. Đận cành cộc đã giáng xuống đầu rồi, thế mà vẫn chưa ngộ ra. Sao giời không vật chết cái thằng bố nó, cái quân vô thần vô thánh ấy, mà lại vật con tôi thế này. Cháu nó trẻ người non dạ…

Mấy bữa trước, nhà chủ nhiệm, ban ngày thì nắng lấp loá trên vách toóc-xi; ban đêm thì đèn măng-xông sáng trưng. Ra-đi-ô mở to hết cỡ, lúc nào cũng oang oang như văn công về làng. Thế mà, giờ đây, cũng ngôi nhà ấy, cũng con người ấy, mà sao u buồn đầy vẻ chết chóc. Y như thể sân khấu, gặp phải đạo diễn vụng, đột ngột chuyển cảnh từ đám hỷ sang đám hiếu vậy.

Trang không chịu ăn cơm, uống canh nữa, mà lê la đầu đường, góc vườn ăn hoa mướp, hoa râm bụt, rồi nhặt kiến, bới mối. Con gái đang kỳ tuổi hồng, lúc nào cũng tươi như nụ hoa, nay võ vàng, còm nhom, một tay xách nặng. Hàm răng đang trắng như ngô nếp non, nay ngả vàng như ngô răng ngựa. Môn đắng lòng, thuê thợ đóng cái cũi, nhốt con vào xó nhà. Trang gặm chấn song sồn sột như dúi gặm gốc nứa. Đến một ngày, Trang tự xé quần, áo của mình mà ăn dần. Nụ thương con, quây cái màn ri-đô xung quanh, thế mà dì Gió còn đưa vào tận tay, cho Trang xé từng miếng mà nhai.


4.


Khi biết Nụ lấy cái rau thai của mình, xào cho Môn nhắm rượu, Ngàn cảm thấy ghê sợ, lủng bủng chửi thầm: “Đồ ăn thịt người”; nhưng khi thấy Trang thân tàn ma dại, lại mủi lòng. Khi cầm lòng không đậu, Ngàn đánh liều xin bố:

- Thày, cái Trang, con nhà Nụ bị hành khổ quá rồi. Xin thày khấn ngài rón tay làm phúc.

- Đấy là chuyện thần Ếch, chứ có phải chuyện thần Sồi đâu.- Lão Hượm ngần ngại.

- Thì nó phạm phải ở suối Mẹ Tiên, lại bên cụ Sồi với đền đức thánh Lừ. Tất thảy các thần linh cùng tụ hội. Mà nó cứ kêu ộp oạp mãi, chắc cũng thấu đến các ngài.

Lão Hượm không nói không rằng, lặng lẽ đi thay quần áo mới, dâng hương, rót rượu, lầm rầm khấn vái:

- Việt Nam quốc, Mẫu Tuyền làng, tín chủ là Hượm, cầu xin thần suối Mẹ, thần Sồi, thần Ếch, đức thánh Lừ xá tội cho cháu Trang, con nhà Môn, Nụ cùng ngụ tại làng này. Cháu nó nhỏ dại, phạm phải điều thiêng, nay đã biết hối. Cúi mong các ngài về hưởng chén rượu nhạt, chứng cho lòng thành, xá tội. Thượng hưởng.

Nghe mơ hồ có tiếng các ngài xì xầm bàn bạc, rồi có tiếng phán gọi thị Trang trong hơi gió thoảng. Dì Gió sốt sắng đưa lời cô Trang đến kêu cầu:

- Ộp, ộp… (Con có tội, con lội xuống suối, tội càng nặng thêm. Ngài cho con được chết. Con hoá làm ếch cốm, hầu hạ vong linh ngài).

Tàn hương cháy quăn như râu rồng. Lão Hượm xin đài âm dương, đến lần thứ ba được ưng thuận nhất âm, nhất dương. Lão cẩn trọng đỡ chén rượu lộc, sai Nụ mang sang nhà Ngàn, lấy lá tre, nhúng rượu mà vẩy khắp thân thể, mỗi ngày mỗi bận, hết rượu thì lành.



PHẦN THỨ TƯ



Chuyên viên Thuỷ Văn Mộc


Chương một

1.


Bão từ.

Kim la bàn nhảy loạn như nhập đồng.

***


Mộc suốt ngày cắm cúi trong thư viện, bỗng một hôm nhận ra, tại sao bên châu Âu và Trung Quốc đều có những nhà tư tưởng, những nhà triết học, có trường phái này nọ, rồi đấu tranh với nhau để tồn tại và phát triển; còn ở nước ta, tịnh không có một ai được gọi là nhà tư tưởng, nhà triết học và cũng chẳng có nhà bác học phát minh nào cả. Nghe nói, về triết học, có triết gia Trần Đức Thảo, nhưng công trình nghiên cứu, chủ yếu phát hành ở nước ngoài. Hình như, có thời, ông và một số văn nghệ sỹ, trí thức bị đưa đi an trí. Tư tưởng, phải được sinh ra trên mảnh đất tự do. Và chính mảnh đất tự do lại nuôi dưỡng cho tư tưởng phát triển. Tư tưởng phát triển phong phú thì đất nước càng tấn tới.


Có lần, Hiền thì thào: "Chuyện cơ mật, lộ ra, rụng đầu đấy". "Đầu anh rụng sao được". "Cổ bằng sắt chắc?". "Không phải thế, bởi khi bị lìa khỏi cổ, thì đầu anh bay về trời". "Thôi, biết con nhà trời rồi, khi sinh ra có mây ngũ sắc che đầu cơ mà. Nhưng may mà có bí danh, chứ trần cái tên không thì chẳng ma nào dám gọi". Hiền cười rúc rích. Đúng là chuyện đàn bà con gái, lan ma lan man, chuyện nọ xọ chuyện kia. "Chuyện gì mà liên hệ đến đao kiếm?". "Có một ông tướng, ở chiến trường ra, đi thăm các nước phe ta về, liền viết văn bản kiến nghị lên bộ chính trị, đòi cải cách". Mộc ngây người. Hiền thẽ thọt: "Mẹ em bảo, cấm hở với ai đấy, kẻo mà luỵ đến bố, rồi hại cả người ta nữa". "Tại sao mẹ em lại biết chuyện cơ mật triều đình?". "Thì bố em tâm sự, các cụ có bản tin gì đấy, đặc biệt lắm, cỡ cán bộ "cốp" mới được đọc".

Làm sao mà mình được đọc nhỉ? Làm sao mà mình được gặp nhỉ? Cỡ ếch ngồi đáy giếng như mình, có mà đến mùa quýt cũng không hòng. Nói đến ếch, chợt nhớ tới Trang. Cô ta mà không bị thánh vật, thì có lẽ đã đi học múa ba-lê rồi cũng nên. Hồi bé, trên vách, trước bàn học, Trang hay dán những tấm ảnh, cắt từ hoạ báo Liên Xô, các diễn viên ba-lê, vở "Hồ thiên nga". Và kỳ lạ, Trang cũng bắt chước đứng và đi được trên đầu mũi ngón chân. Nhưng váy của Trang là cái bu gà, phất giấy báo, lồng vào hông. Trang bay bổng, uyển chuyển như một con thiên nga. Bọn trẻ con hoan hô, hò hét, tưởng như vỡ làng.

Ờ hờ, thế thì có thế giới bên kia không? Có thần linh không? Duy tâm à? Mình theo duy vật cơ mà. Hay là kiểu Hê-ghen, mà Lê-nin cho rằng, đi lộn đầu xuống đất. Trồng cây chuối à? Làm gì có tư tưởng, triết học kiểu trồng cây chuối. Liệu có tư tưởng, triết học kiểu múa bu gà như của Trang không? Lời nói có trước hay tư tưởng có trước? Có học giả, phán, lời nói là cái vỏ của tư tưởng. Lời nói là thoạt kỳ thuỷ. Nhưng tư tưởng mới làm nên con người chứ nhỉ? Chỉ có lời nói thì cũng chẳng hơn động vật bậc cao bao nhiêu. Tư tưởng mới làm con người thoát khỏi loài vật bậc cao, trở nên siêu cao, cũng như con nòng nọc, khi đứt đuôi, nhảy lên bờ, thành ếch. Từ đó, nó có cuộc sống khác. Tư tưởng là cái điều ám ảnh tâm trí Mộc và mọc rễ như dây thần kinh, không dứt ra được nữa.

Nếu còn cành cộc, bảo bối của ông ngoại, thì chỉ cần khấn hỏi là biết. Mẹ bảo, thiêng lắm, kim, cổ, Đông, Tây cái gì cũng biết. Nhưng khi liệm ông ngoại, bố đã lén bỏ vào quan tài. Có kẻ biết chuyện, rắp tâm đào trộm, nhưng việc bại lộ và còn bị quở phạt, suốt ngày cứ cắm mặt dũi đất như giun.


Những tác phẩm của Lê-nin xếp trang trọng, kéo một dãy dài trên giá sách. Bìa cứng, giấy tốt, nhưng chẳng có mấy người đọc. Sinh viên chủ yếu nghe các giảng viên đã trích sẵn, nếu cần thì tra cứu, gọi là. Bởi vậy, khi Mộc hỏi cô thủ thư để mượn đọc tại chỗ, khiến cô ta ngạc nhiên giây lát, rồi tỏ ra rất hồ hởi, kê ghế với lên giá sách và lau lớp bụi dày. Đám sinh viên nhìn Mộc, nhếch mép cười khẩy kẻ khoe mẽ. Mộc chăm chú lần giở những trang sách đã được dịch ra tiếng Việt, thỉnh thoảng lại có phụ bản, bút tích của Lê-nin. Mộc cũng đang học tiếng Nga, nhưng chữ Lê-nin viết tháu, rất khó luận, nom y như mớ dây muống. A, thảo nào, người ta bảo, kẻ có tài thường viết chữ xấu. Mộc cứ lầm lũi đọc, hết ngày này sang ngày khác, hết tuần này sang tuần khác, cho kỳ hết năm mươi tập mới thôi. Rồi Mộc quay sang đọc sách của Xta-lin, nhiều chỗ thấy giống Lê-nin. Nghe nói, ông này, tài quân sự, quyết đoán, nhưng cũng quân phiệt, từng đưa năm triệu người đi đày ở vùng tuyết lạnh Xi-bê-ri. Hình như, đến thời Khơ-rúp-xốp lên nắm quyền, đã đào mả ông ta, bốc ra khỏi quảng trường Đỏ. Toàn là những chuyện nghe hơi nồi chõ, mà rợn tóc gáy.

Có những chiều thứ bảy, buồn cô liêu, Mộc mượn xe đạp, đi lung tung khắp thành phố. Khi bốn cái chuông nhà thờ ngân vang khắp phố phường, con chiên lục tục kéo đến cầu nguyện. Bên phía nhà văn hoá thanh niên cũng nghe thấy tiếng trống vang lên như sấm rền, hoà cùng tiếng kèn lảnh lói. Đám nam thanh, nữ tú cũng kéo đến sinh hoạt văn nghệ. Mộc cảm thấy lạ lùng, đầy vẻ khôi hài, liền đạp xe đi. Thời gian chia hai cực và nhập một, nhưng không đồng nhất.

Có những ngày chủ nhật đầy hứng khởi, Mộc nhảy lên tàu điện, tiếng chuông leng keng đưa đến ga Hàng Than, rồi lại vòng về Bờ Hồ, đi cầu Mới và chui vào nhà ga. Tay soát vé, cầm cặp vé, gõ gõ vào vai và hất hàm ra hiệu: "Biến!". Mộc lững thững men theo đường tàu, dưới hàng xà cừ rợp bóng. Nếu người ta không để ý đến thời gian, mất cảm giác thời gian, thì thời gian vẫn hiện diện, vẫn trôi. Khi người ta gắng gỏi làm một cái gì đó, đến mức toàn tâm, toàn ý thì cũng mất cảm giác về thời gian. Nếu không có thời gian, thì điều gì sẽ xảy ra? Và lúc đó, không gian ở dạng nào, mấy chiều?

Có đêm trằn trọc, thằng bạn nằm giường tầng dưới, gắt nhặng xị: "Ngủ đi, cụ non. Cứ giở mình như la bàn bị bão từ, thì bố ai ngủ được. Mộc thở dài, nằm ngay như khúc gỗ. Thời gian, thời gian, thời gian một chiều ư? Thời gian có trở lại không? Nếu thời gian trở lại thì biết quá khứ? Thời gian trôi về tương lai, liệu có nhảy cóc không? Nếu thế, sẽ dự đoán được tương lai. Tương lai con người ở trên trái đất hay trong vũ trụ??? Và, Mộc thiếp đi trong trong mụ mị.



2.


Từ khi được hưởng rượu lộc của ngài, Trang lúc nào cũng như nhìn thấy hình ảnh lão Hượm, hiển hiện ngay trước mắt. Trang trơn lông, đỏ da bao nhiêu, thì lão Hượm sức cùng lực kiệt, y như một sự đánh đổi, hoán vị. Trang cứ tưởng tượng, mình và lão Hượm như đang ở trên hai đĩa cân, Trang càng chĩu xuống với trần gian bao nhiêu, thì lão Hượm càng bổng lên thiên đường bấy nhiêu.

Lão Hượm đi cắt tóc. Lão cắt kiểu móng lừa, y như thời trai trẻ. Lão xuống tắm bến đền Lừ, rồi ôm dái, nồng nỗng về nhà. Buổi trưa, giờ quan tuần, đường làng vắng như đêm giao thừa, tịnh không một bóng người. Lão mở tay nải, lấy ra bộ quần áo nái màu vàng tươi, thơm sực mùi hạt tiêu. Lão rũ rũ cho hạt tiêu rơi lại đáy ủa để chống gián. Đúng là người đẹp vì lụa. Diện bộ quần áo vàng, khiến cho lão có vẻ phong lưu, nhàn tản. Lão dâng hương, rót rượu, khấn vái và chắp tay đứng luôn cho đến độ hương tàn, rồi thụ lộc. Lão cảm thấy lâng lâng, ôm cây nhị vào lòng, tựa lưng vào thành giường dẻ quạt, rồi thăng.

Trong lòng đất, ban đầu, lão Hượm vẫn tươi như đang ngủ trên dương gian, rồi trương lên, rữa ra. Mẩu cành cộc luôn cựa quậy bên hông. Linh hồn lão chập chờn, lúc thì khểnh bên thi hài, lúc thì chui lên nấm mộ, tha thẩn bên đám chân hương đầu mộ. Ban đêm, hồn lão hoá thành con đom đóm, to như ngọn đèn hoa kỳ, bay lượn quanh nghĩa địa, như thể khinh khí cầu. Đến bữa cúng cơm, ở nhà thỉnh đến, hồn lão bay về, nhấm chén rượu sắn nhằng nhặng đắng, ngửi hơi bát cơm tẻ đỏ quạch như xôi gấc, nếm náp quả trứng gà luộc đã bóc vỏ. Bây giờ, lão ăn hương ăn hoa.

Sau cữ thất thất lai tuần, con cháu lão làm lễ bốn mươi chín ngày, thì hồn lão lìa hẳn khỏi xác. Cành cộc không nằm ngay đơ như một vật vô tri, mà bò lộn lên phía đầu lão.

Trang nom thấy hết, y như kiểu anh Mộc kể, xem vô tuyến Nép-tuyn(8) ở Hà Nội. Nhưng cô không nhấc tay, nhấc chân lên được, cứ ngồi như bị gắn xuống phản, nhắm mắt lại và "nhìn". Khi lão Hượm qua tuần bốn chín ngày, thì Trang tỉnh và không "nhìn" thấy lão Hượm nữa.



3.


Thần cành cộc dẫn đường, chỉ lối cho linh hồn lão Hượm đến bái yết đức thánh Lừ. Vừa nhác thấy bóng liêu xiêu của lão, thánh đã đánh tiếng: "Hẳn là lão mới nhập tịch?". "Dạ, bẩm, vâng… ". "Thần cành cộc đã bẩm với ta. Khá khen thay. Có điều gì cần cứ mạnh dạn". "Đội ơn đức thánh, con vô phúc, chỉ sinh được độc một mụn con gái. Nay có cháu ngoại, mong mai ngày khô đầu khô sọ, nên người". "Ta hiểu cõi lòng lão. Rồi cháu lão sẽ có chữ nghĩa, có danh phận trong trời đất, nhưng cũng phải đận long đong". "Khổ thân cháu tôi, con lậy đức thánh rón tay làm phúc". "Không hề hấn gì, phàm là kẻ có tài mà có tâm, lại sinh bất phùng thời, thế thì phải thế. Đấy là số trời định cho kẻ sỹ". "Bẩm, con được trên huấn thị, xã hội đương thì là đỉnh cao nhất của nhân loại". "Vậy sao? Ta thấy thương thay cho lắm kẻ, đường quang chẳng đi, lại dẫn người ta đâm quàng bụi rậm. Rồi đánh chửi nhau, cuối cùng quẫy đạp mà ra, chẳng sứt đầu cũng mẻ trán. Thiên hạ người ta đã đi tận đẩu tận đâu rồi, mình mới mừng rỡ khi tìm ra đường, rồi lại toan đi tắt, đón đầu. Đúng thế phỏng?". "Bẩm, chuyện tày trời thế vầy, con nghe, khác nào vịt nghe sấm. Dám xin đức thánh tha tội". "Phải, nhưng chính cháu lão sẽ mục sở thị, nhập cuộc". "Đức thánh nhìn thấy cả hậu vận, thật phúc bảy mươi đời cho chúng con".


*


Lão định đảo về qua nhà, nhưng bọn tiểu yêu đi tuần vớ được, tống cổ vào. "Hà cớ làm sao mà còn định về quấy quả con cháu?". "Dạ, bẩm, lão nhớ chúng quá". "Trần có luật trần, âm có luật âm. Tự tiện về làng, phạt năm mươi roi". Lão sợ quá, sực nhớ ra đồng tiền đi đò còn ngậm trong miệng, bèn lén nhè ra, lật đật dâng biếu, tên quản yêu mới tha cho.

Đận này, đám ma ở nghĩa trang đều túng bấn. Trên trần vẫn còn lệnh chống mê tín, chẳng ai dám hoá vàng, đốt mã cho, nên một tờ tiền rách cũng không có mà tiêu. Đám ma đói ngao ngán, vật vờ khắp nghĩa địa, nhưng không dám ra ngoài kiếm ăn, sợ bọn quản yêu vớ được mà giã cho thì nát bấy linh hồn. Bọn quản yêu cũng là một lũ tham lam, lừa đảo, xưng là đầy tớ của ma, kỳ thực ma là đầy tớ cho chúng. Chúng ngồi mát ăn bát vàng. Khi nào có giấy, lão sẽ viết một cái sớ, tâu lên đức thánh Lừ.

Xuống âm phủ, lão thấy có một ông quan luôn cặp kè bên đức thánh Lừ, nhưng sao trên trên không biết để khấn vái bao giờ? Hỏi ra, lão mới biết, đó là ngài Thuỷ Văn Thổ, là công thần khai quốc, nhưng văn bia thất tán, không ai biết để thờ phụng, nên mai danh ẩn tích. May thay, ông quan này cùng họ, thế thì anh cu Thuỷ Văn Mộc sẽ hưởng phúc lớn rồi. Lão định bụng sẽ tâu riêng với ngài. Lão cũng có mẹo của lão chứ. Lão hí hửng, múa tay trong bị.



Chương hai


1.


Tự dưng, ban đêm mà sáng như ban ngày.

Gà nhảy ra khỏi chuồng, đi kiếm ăn.

***


- Trên cho mở chợ rồi hả?

Viên hỏi và chòng chọc nhìn sang Môn. Nhưng Môn lơ đãng, thông nõ điếu cày. Chợt, cái lông gà gãy gập trên miệng nõ điều, Môn mới như sực tỉnh, thủng thẳng:

- Phải, khéo mà vỡ hợp tác mất.

- Nghe đồn, bước đầu, cả khu làm một chợ, như kiểu chợ tổng, rồi tiến tới, mỗi xã mỗi chợ. Bà con tha hồ mà đi chợ như các cụ ngày xưa. - Viên háo hức như ăn mày vào đám.

Từ ngày Trang được lão Hượm chữa lành, quan hệ hai nhà nối lại, có vẻ êm ấm. Môn thì bị trời giáng cho hai cú cũng ngộ dần ra, không phải cứ làm cán bộ là trộ dân mãi được đâu.

- Mở ra cái anh buôn bán, rồi xã viên sẽ chân ngoài dài hơn chân trong, bỏ đồng ruộng đi buôn như bỡn. Buôn bán là phá hợp tác xã, là cái mầm phản loạn.

- Nhưng mà, bao nhiêu năm nay, cả tỉnh mới có một cái chợ, bí lắm.

- Thì xã nào mà chẳng có cửa hàng hợp tác xã mua bán.

- Ôi giời, bán phân phối mấy thứ dầu, muối, diêm, thuốc... Nhưng còn bao nhiêu nông sản phụ ê hề ra, nào sắn, nào rau muống hạt... ăn không hết, cho thì tiếc, mà tiền lại túng.

- Đấy, ai cũng chăm chắm tính toán làm giàu, lo đồng tiền bỏ túi, thì còn đâu công sức lo cho hợp tác xã nữa. Không khéo là vỡ, vỡ hết xã hội tân tiến có ngày.

Viên giật mình, gặng hỏi:

- Ông nói lạ?

- Nước mình, hơn chín mươi phần trăm là nông dân. Hợp tác xã chính là mô hình xã hội tân tiến ở nông thôn đấy. Kiểu này, không biết mấy ông trên nghiên cứu thế nào…

- Cái kiểu hồn Trương Ba da hàng thịt thế này, thì vỡ cũng phải…

Đến lượt Môn giật mình, nhìn Viên chằm chằm, y như thể phát hiện ra một kẻ đồng loã của bọn phản động.

- Chẳng nói Liên Xô, Đông Đức đâu xa, ngay dân thị xã, anh nào tranh thủ chạy chợ là đời sống tươm tất ngay. Mình xuống chơi, còn được ăn phở bò, uống cà-phê hẳn hoi.

Nãy giờ, Nụ ngồi khâu vá trên giường, liền góp chuyện:

- Em nghe người ta thảo luận, cà-phê đắng lắm, uống vào là mất ngủ.

- Đận trước, tôi với ông Môn rang gạo cháy, làm giả cà-phê, cho cục đường phên vào, uống thấy ngon ra phết.

Môn không bắt chuyện, đang nghĩ tận đẩu tận đâu. Nụ thẽ thọt:

- Bọn em đi tỉnh, được ăn phở không người lái.

- Sao không ăn bát phở bò, hay phở gà? Ăn cái món không người lái, chả có miếng thịt nào, khác gì bún luộc. Này, có cả phở cá, phở ốc, phở cua nhá.

- Khiếp, khéo mà tanh ngòm. Mấy chị em cũng định ăn bát phở bò cho biết mùi, nhưng tiếc tiền. Tính, nhịn bát phở có khi còn mua cho con được cái áo, bấm bụng. Vả, ai lại đi ăn vụng chồng, trốn con.

Mộc như chợt tỉnh cơn mê, mắt long sòng sọc:

- Tôi sẽ quyết đưa làng Tuyền này ngang bằng thị xã. Nông thôn đuổi kịp thành thị.

- Chẳng lẽ, họ ngồi xuống chơi, chờ mình chạy kịp à?

Nghe Viên cãi lý, Môn chưng hửng mất một lúc, rồi lại hăng hái:

- Ông có nhớ cái quyển "Dưới lá cờ vẻ vang… " nói gì không? Khi ta hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ là tiến thẳng lên xã hội tân tiến, không kinh qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa.

- Không, đấy là Luận cương năm ba mươi. Nhưng tôi không tin cái trò đi tắt đón đầu, ngô nghê quá.

- Ngô nghê? Khéo có ngày vạ miệng, ông ạ.

Viên thở dài, ngửa mặt nhìn bầu trời giấy khen trên trần nhà Môn. Hẳn là lâu không khua chổi, nên mạng nhện lủng lẳng từng búi, ngả màu đen như đuôi mèo ác.


*


Tóc Môn đã ngả màu muối tiêu. Từ lúc đầu xanh tuổi trẻ, lúc nào tóc Môn cũng rẽ ngôi, đến nỗi, tóc thành nếp, lúc bí, không có lược, chỉ cần lấy ngón tay mà cào, tự khắc, tóc cũng rẽ ngôi, phân miêng. Áo sơ-mi cổ bẻ, cổ sờn, phải lộn ngược. Cái quần ka-ki màu be, gối đã phải pích-kê. Nhưng bộ quần áo lúc nào cũng sạch sẽ, gọn gàng. Kỳ nào hàng khan, không có xà-phòng thì lấy nước tro bếp mà ngâm. "Ngày xưa, các cụ có xà-phòng mà giặt đâu. Mai ngày, xã hội tân tiến… ". "Lúc nào cũng ngày xưa thì còn lâu mới đến ngày mai". Nom bộ dạng Môn, người đời cứ ngỡ là anh cán bộ bàn giấy mẫn cán. Nhưng kỳ thực, Môn lại là một chủ nhiệm hợp tác tận tuỵ, với niềm tin sắt đá, còn hợp tác xã thì còn xã hội tân tiến. "Ngày xưa, chả có hợp tác xã thì cũng chả chết ai". "Đừng có mà phản động, không có hợp tác thì ai đảm bảo hậu phương lớp cho tiền tuyến lớp, ai cung cấp sức người, sức của cho miền Nam đánh Mỹ?". "Ngày xưa các cụ có hợp tác xã đâu mà vẫn ba lần đánh tan quân Nguyên, đại phá quân Thanh, hất cẳng Pháp… ". "Nói thế thì vén đầu gối lên còn hơn". Tranh cãi hăng vậy, nhưng rồi đêm về, vắt tay lên trán, Môn buột miệng: "Ừ nhẩy?", khiến Nụ thở dài: "Lại mơ à? Nói cả ngày không chán mồm hay sao?".

Nụ là một cực đối lập với Môn. Nụ ăn sóng nói gió, thẳng băng ruột ngựa. Nụ thích chõ vào công việc của bố, của chồng để thảo luận, coi việc xã hội cũng như của mình. Bởi, từ bé con, hàng ngày, Nụ đã phải cơm nước, điếu đóm cho bố tiếp khách cán bộ huyện và tỉnh. Nhiều cuộc họp diễn ra ngay tại nhà Nụ, hoặc có hôm đã họp xong rồi, các ông lại kéo về, thảo luận tiếp. Nghe hóng chuyện thảo luận nhiều, nên bị nhiễm vào máu lúc nào không hay. Nụ chỉ ủ ê cái đận con gái nằm bệnh mà thôi. Người ta bảo, chồng như giỏ, vợ như hom, nhưng vợ chồng Môn, Nụ đều như cái ống, rỗng cả hai đầu. Bao nhiêu năm làm chủ nhiệm, nhưng chỉ hơn xã viên cái danh, cái quyền, chứ không hơn đồng tiền, bát gạo. Nếu không có cái đài, mua giá phân phối, thì tài sản đáng giá chỉ là những tờ giấy khen của uỷ ban hành chính từ xã cho tới huyện mà thôi. Giấy khen nhiều, treo kín cả vách và nẹp lên mái nhà, thoạt nhìn, cứ tưởng mái nhà lợp bằng giấy khen, tường trình bằng giấy khen. Hai vợ chồng, cùng dùng chung một cái bàn chải đánh răng Hàm Rồng, những sợi cước đã toè ra, vón vào hai bên, nom như con sâu róm trắng. Viên bỗ bã: "Mất vệ sinh quá đi mất, của ai nấy dùng chứ". "Vẽ, khối thứ chung đụng còn sướng nữa là khác".

Hồi còn mồ ma bố vợ, bí thư đảng uỷ xã, ông rất hãnh diện về cái gia tài giấy khen của con rể. Nhưng Nụ hầu như không để ý, nếu Môn không tự treo lên, thì mãi mãi cũng chỉ là cuộn giấy, tròn như cái ống thổi, nằm chết lặng trong hộc tủ mà thôi. Nụ không để ý đến giấy khen, không săm soi chuyện tiền nong, nhưng lại rất nhạy cảm với chuyện dục tình, chuyện giường chiếu, chuyện tục tĩu, bỗ bã. Khi chỉ có đám đàn bà với nhau, Nụ xả ra hết mọi trò: "Cái cánh đàn ông ấy mà, có khi muốn cũng không làm được, nhưng đám đàn bà, muốn là được". Nghe Nụ bô lô ba la như thế, các bà sồn sồn chỉ mủm mỉm cười, vẻ từng trải. Các cô gái non thì đỏ mặt lên, liếc vụng, dò hỏi, đầy vẻ tò mò. "Này, đừng có mà đầu độc trẻ con". "Cái chuyện này, chả ai phải dạy ai đâu. Ai cũng có mẹo tuốt. Hôm nào, lão nhà tớ đi liên hoan trên xã về, mùi rượu phát khiếp, biết thân biết phận, không chiều không xong. Thế, đố các bà có biết phải làm thế nào không? Mình lúc lắc đánh võng cho ba đường, thế là, ha ha… thế là xỉu, ha ha ha… ". "Chết tiệt, bọn con gái chổng vú cả lên rồi kia kìa". Bọn con gái rúc vào nón, cười khi khí. "Cô Nụ vui nhộn, thảo nào trẻ lâu". "Chính có chuyện ấy đều đều thì mới tươi được. Bà nào, có tí hơi chồng là tươi như hoa, mắt long la long lanh như mắt chuột. Ai mà kém miếng là ỉu như bánh đa nhúng nước". "Chả thèm". "Cô Nụ ra chợ, khéo mà vui chuyện, quên bán hàng". "Mà này, nói chuyện chợ mới nhớ ra, xã sắp mở chợ đấy". Thế là đám đàn bà nhao nhao lên chuyện chợ búa. Có chợ, đỡ phải rạc cẳng, u vai gánh vã lên tỉnh, xuống huyện. Chợ gần, cần con cá, mớ rau thì vác rá ra mua; tăng gia được con gà, con vịt cũng lùa ra bán. "Liệu, ông trên có cho bán thịt lợn không, khan mỡ lắm rồi, xào rau cũng chỉ dám chạy qua hàng mỡ". "Sao lại không, miễn là có xác nhận của ban quản trị là đã hoàn thành bán nghĩa vụ và nộp thuế sát sinh". "Thế mà cứ cấm chợ mãi nhỉ?". "Ai biết giời mưa, giời nắng lúc nào". “Gió lúc nào mát mặt lúc ấy”.



2.


Ven hai bên đường làng, những rặng xoan đã mọc chồi chân chó. Những cái chân chó quờ quạng trong ráng chiều đỏ sậm, nom như cả đàn chó đang bị thiêu trong lò lửa.

Chiều thứ bảy, Mộc nhờ xe bên thương nghiệp đi làm "kế hoạch ba", về tới cổng làng thì toài xuống, lững thững đi bộ. Nhác thấy lão Côn, chủ quán thịt chó. Quán lại treo biển: "Công ty R-TC". Chính cái tên quán gây tò mò cho bao người hiếu kỳ, hỏi ra mới biết, R-TC là viết tắt mấy chữ "rượu, thịt chó". Ai nom cái bảng hiệu cũng thấy ngồ ngộ, nghe cũng vui vui. Đó, cũng là chiêu câu khách của lão. Lão là một dị nhân, môi dầy như quả chuối mắn, miệng rộng nguếch, đút lọt cả nắm tay; nên có thể vơ vào mồm, từ quả chanh cho chí bưởi non mà nhai ngấu nghiến; khiến ai nhìn thấy cũng vãi đái ra quần. Kìa, lão đang hộc tốc đạp xe tới, tươi nét cười, thay cho lời chào. Mộc phải né sang lề cỏ, thế mà lão phanh xe sát sàn sạt bên hông, khiến Mộc phải vội đổi ca-táp giả da sang tay trái.

- Ôi, anh Mộc, ông chủ tịch mặt trận xã phái tôi đi tắt đón đường, mạn phép mời anh về tệ xá, xơi chén rượu nhạt.

- Chết nỗi, bác thông cảm, cháu vô phép, cháu phải về nhà, có tý việc, khất các bác để khi khác.

- Hê, hê, hê… Thế thì tôi không hoàn thành nhiệm vụ, cuối năm bị cắt thi đua, lao động tiên tiến thì công ty R-TC giải thể như bỡn. Thôi, "quần chúng" một tẹo đi nào.

Vừa nói, bàn tay to như tai voi của lão vừa giằng cái ca-táp của Mộc, ngoặc vào ghi-đông của mình. Mộc cảm thấy mùi lá mơ, riềng, mắm tôm xộc lên từ cái khăn màu cháo lòng, mà lão đang vắt trên vai. Cái khăn lúc nào cũng như dính trên vai lão. Những khi thái, chặt, bưng, bê, trong các tư thế nghiêng người, khom lưng, phưỡn bụng mà nó vẫn không rơi, y như thể có nam châm dính vào vậy. Lão mời khách mà cứ như bắt cóc con tin. Mộc miễn cưỡng ghé mông lên boóc-ba-ga.

- Các cụ nhà ta tài thật, nguyên cái chuyện xe đạp mà đã nội hoá được bao nhiêu: ghi-đông thì gọi là tay lái, được; pê-đan thì gọi là bàn đạp, hay; poóc-ba-ga thì gọi là đèo hàng, giỏi. Nhưng mà có mấy thứ chịu phép, tỷ như cái moay-ơ, hay cái xích. Hê, hê, hê… - Lão ngửa cổ cười, khiến cái xe đạp đánh võng ngoằn ngoèo như rắn trên đường.

- Bác mở hàng, nghe nói, có nhiều người khen lắm. - Mộc lảng chuyện ngôn ngữ tây, ta, gợi về vấn đề kinh doanh tư nhân đang được chú ý của xã hội.

- Cũng tùng tiệm. Hê, hê, hê…

Cái xe đạp phanh khựng lại, lão hất ngửa bàn tay về phía quán một cách điệu nghệ, nhã nhặn kiểu quý tộc:

- Xin mời quý anh!

Mộc tủm tỉm cười, đỡ lấy cái ca-táp. Môn chải đầu bồng, sơ-vin, hồ hởi ra tận cửa đón Mộc:

- Mừng anh!

- Bác! Em khoẻ chứ ạ?

Mộc cảm thấy xúc động, không phải sự trang trọng của Môn đối với mình. Làng quê, nghi lễ thế này là trọng thị lắm thay. Là cán bộ tuyên giáo, đi đến huyện, thị, cơ quan, đoàn thể nào mà chả được chèo kéo, đón đưa. Nhưng hình ảnh của Trang đột ngột hiện ra, khi gặp bố cô ta, khiến Mộc bồi hồi. Hình như, giữa Mộc và Trang có một sợi dây vô hình nào đó giàng buộc. Hai ông bố chỉ hiểu lơ mơ, như có, như không. Nhưng hai bà mẹ thì cảm nhận rõ rành rành, chỉ có điều không tiện nói ra mà thôi. Tuy không nói ra, nhưng trong cách cư xử thường ngày, đã ẩn dấu những ý tứ. Cả hai vừa vui vui, vừa ngường ngượng, thậm chí, pha chút thất vọng nữa. Bởi, bên này là một cô gái non tơ vừa thoát nạn thánh vật, bên kia là một chàng đứng tuổi, cán bộ hàng tỉnh. Người làng, cũng như cán bộ cấp trên về công tác, đều ý nhị không dám đụng đến nỗi buồn của Môn, từ hồi còn làm chủ nhiệm hợp tác. Thậm chí, người ta còn tránh nói đến các từ nhạy cảm liên quan đến ếch, nhái, ộp oạp, sấm, sét, điên rồ, cành gãy… Vậy mà, lúc này, lại nghe lời hỏi thăm chân tình từ con trai của Viên, khiến Môn cũng lặng đi hồi lâu, rồi mới khẽ đáp:

- Phải, em nó khoẻ!

Môn có vẻ vui, hãnh diện và thoáng qua chút bùi ngùi.

Trong ánh hoàng hôn nhập nhoạng, vãn chợ chiều, quán thịt chó bắt đầu lên đèn. Trên phản, lố nhố mấy ông cán bộ xã. Lão Côn lại xăng xái xách ca-táp, treo lên cột xoan:

- Có tài liệu mật thì bỏ tủ, anh Mộc?

- Bác nói thế, cháu có phải ông to, bà lớn gì đâu mà quan trọng.

- Tỷ như có tài liệu về lộ trình bình thường hoá quan hệ với Mỹ?

- Cái đó, đài, báo đưa tin tối ngày, chuyện quốc gia đại sự, nhưng đâu còn là chuyện mật, toàn dân cùng bàn nhân sự, cùng phán thời cuộc mà.

Mùi chả nướng, mùi mỡ nóng chiên mắm tôm làm dậy lên không khí đặc trưng của quán thịt chó, khiến ai nấy đều phải kín đáo nuốt nước miếng, đang tứa ra những kẽ chân răng.

Lão Côn, tóc xoăn tít, đen như bồ hóng, không biết có phải do lão hay chúi đầu vào nhóm bếp, hay do trời sinh ra đã vậy. Lão tất bật rót rượu và lễ độ thái quá, pha chút hài hước vẻ phường tuồng:

- Vô phép bác Môn và quý khách, tôi thì cứ nôm na mách qué, vật chất có trước, tinh thần có sau. Trước hết, ta nghiêng chai, nâng chén, rồi dốc bầu tâm sự.

Tiếng lách cách chạm chén sứ với chén sứ, tiếng ừng ực của rượu chảy qua cổ họng, tiếng lạch cạch của đũa tre chạm xuống phản gỗ, tiếng nhóp nhép của những hàm răng chuyên cần. Nhưng Môn lão luyện, nhận ngay ra vẻ bất an của Mộc. Có lẽ, Mộc chưa hiểu nguyên do cuộc rượu này. Đời cán bộ, chắc đã luyện cho Mộc biết, không miếng ăn, ngụm uống nào mà người ta bày ra, lại không gắn với một việc gì đó. Có khi, khai cuộc được tuyên bố lý do thế này, nhưng thực chất lại là việc khác. Có khi, ai cũng hiểu mười mươi, nhưng cứ phải giấu đi, người ta gọi đó là nghệ thuật ứng xử chốn quan trường.

- Anh văn hoá đâu nhỉ, khấy động phong trào đi chứ?

Nghe Môn nhắc, anh cán bộ văn hoá vội nhổm dậy, nói lời văn hoa, chúc rượu Mộc:

- Hiện nay, trên khắp cả nước, phong trào thi đua khen thưởng đang nở rộ như hoa mùa xuân, tỉnh nào cũng anh hùng, huyện nào cũng pháo đài, xã nào cũng huân chương cả. Nhưng chúng em vụng đường nói, dại đường viết, nên địa phương mình có thành tích mà không nêu bật lên được. Việc này, cậy đến quan bác.

Mộc hiểu, văn vở đây, không phải xã cậy về văn, mà nhờ về vở. Chắc hẳn, xã muốn được việc thì phải thông qua mối quan hệ chằng chịt, dây mơ rễ má của Mộc ở trên tỉnh và trung ương, để làm đường dây chuyển phong bì bồi dưỡng cho đúng địa chỉ, kín đáo, chắc ăn.

Lão Côn lễ mễ bưng ra một tô canh đắng, nghi ngút khói và chéo hai tay, tự nắm bóp đôi vai u như hai nắm cơm. Đoạn, lão móc trong túi ra một cái chén, phân trần:

- Báo cáo các quan bác, em lúc nào cũng trang bị vũ khí, sẵn sàng tác chiến. Mạn phép, chạm với anh Mộc, vật chất thì chả có gì, gọi là mừng cái phần tinh thần xã nhà.

Mộc cảm thấy buồn cười, về cái vốn kiến thức triết học nhiều như bạc vụn và lại được vận dụng bạt mạng của lão. Thoạt nghe có vẻ thô thiển, phàm tục, nhưng có khi còn hơn không khí nặng tính kinh viện trên giảng đường. Triết học, tự thân thấm vào muôn mặt cuộc sống đời thường, len lỏi cả vào rượu, thịt chó.



3.


Lão Côn bả lả:

- Xin đặc ân, đưa quan anh lại nhà.

Rồi, thung dung đạp xe, như không hề uống giọt rượu nào, lão Côn tỷ tê:

- Nói khí không phải, kiếm được cái huân chương thì tôi nghĩ, trong tầm tay của anh, nhưng mà chỉ để treo hội trường, cho mấy ông xã ngắm, rồi no xôi chán chè, chả ai thèm lau mạng nhện. Nhưng anh có địa vị, anh rón tay làm phúc, sửa cái đền Lừ cho dân thờ, để phúc bảy mươi đời chẳng tận.

- Bác nói thế, khó cho cháu. Cái này, phải có chủ trương chỉ đạo mới được.

- Phải, cánh xã trên, bị nước lụt làm ụp cái đình. Nhưng dân tự động bảo nhau làm lại, liền bị ách ngay. Bởi, bọn nó dốt, cứ dở cái lý, đình có từ lâu đời, hỏng thì sửa, cho là đương nhiên à? Tưởng thế mà làm thế là nghịch, cứ là phải xin chủ trương chỉ đạo. Cái gì cũng vậy, cứ biết thuận theo thì yên.

- Phải, nhưng cháu chưa thấy có chủ trương… - Mộc đã thấm rượu, giọng nhừa nhựa.

- Đấy, ta phải mách lối cho ông trên ra chủ trương.

- Động trời!

Mộc kêu to và khua tay lên trời, làm cho lão Côn mất thăng bằng, xe đạp loạng choạng. Nhưng lão cười hàng chuỗi "hê, hê, hê… ", làm như không có chuyện gì xảy ra. Cái xe đạp đã bị hỏng đèn, mà cứ như có mắt thần, hay lão gắn đèn hồng ngoại, nên xe cứ bon trên đường làng. Sau tấm lưng cánh phản của lão, Mộc đã nhìn thấy thấp thoáng hàng xoan chân chó, đang nghều ngào khua lên nền trời bệch bạc. Ban chiều, Mộc đã gặp lão Côn ở đây.

- Anh cứ xui trên, làm cái di tích đền Lừ, được ngay.

- Ai dám xui trời, khiến đất? - Mộc đã bình tâm lại.

- Tỷ như, viết một bài báo, rồi ký cái bút danh. Trò này, đối với anh cũng dễ ợt như tôi móc tia hồng mà cắt tiết vậy. Đánh động bằng báo chí, rồi mới đôn cái di tích đền Lừ lên. Tỷ như là, nghe đâu, hồi cách mạng cướp chính quyền, có tổ chức họp ở sân đền. Cứ là phải gắn cách mạng vào mới ăn. Mà thực ra, ngày xưa, có công to việc lớn, chẳng kéo ra sân đền thì còn ở đâu?

Mộc vỗ bộp vào vai lão, làm cho cả hai suýt ngã, nhưng lão lấy thăng bằng lại rất cừ.

- Bác lắm mẹo mực, chỗ nào cũng chỉ đạo được cả, có khi hơn cả bí thư.

Lão Côn ngoạc ra mà cười, bốc lên mây:

- Chỉ trừ có trứng rồng đen thì ta mới kiêng mà thôi.

- Vậy sao?

- Tương truyền, bọc trứng ông tổ nhà ta trôi dạt sang Phi châu mà lị. Tổ tiên cánh tôi do Người trần, chứ không phải do Chúa trời sinh ra.

- A, té ra, bác cũng theo duy vật, nên lúc nào cũng ca: vật chất có trước!

- Chí phải, chí phải… Chỉ có cái chuyện vật chất với tinh thần mà người đời cũng chia ra năm bè bảy mối. Cứ như dân ta, ít học lại hoá hay, chỉ có mỗi việc thờ ông bà, tổ tiên. Học lắm, lý luận nhiều, sinh ra lắm thứ triết học với luận thuyết lằng nhằng, chả để làm gì, cuối cùng cũng chỉ là hai tay vo miệng mà sống, rồi hai tay ôm háng mà chết. Hết đời!


*


Nhớ lời bàn của lão Côn, khiến Mộc giật mình, tại sao, một tay chủ quán thịt chó ở xó chợ mà tinh thông đến vậy. Lão lại còn xưng xưng cái gốc Phi, thuỷ tổ loài người. Nhưng nghe nói, làng này mới là nơi phát tích cơ mà. Khi say, người ta một tấc đến giời? Hay là bởi lão ăn nhiều thịt chó nên thông minh, tầm chỉ đạo cấp huyện, cấp tỉnh cả chứ bỡn?

Hàng ngày, gò lưng đọc hết văn kiện này, đến tài liệu kia, làm cho Mộc mụ mị cả đầu. Đọc, cái nào cũng hay hay khoai khoái, lý luận chặt chẽ, số liệu khớp, không hề vênh lệch, cứ như chi tiết đánh bóng mạ kền trong cỗ máy đúc sẵn, nom vào thấy sáng choang như triển lãm. Nhưng thú thực, khó tin cơ sở có thể làm tốt đến như vậy. Tất cả cùng được đặt lên một đường ray và cùng chạy về một hướng. Hoạ có ngớ ngẩn mới vạch vòi ra mà bắt bẻ, chỉnh sửa. Thời gian cũng thế sao? Tất cả tư tưởng được đóng hộp và đặt lên đường ray, chạy thẳng tới ngày mai chăng? Ngày mai, khái niệm hão huyền, không xác định được điểm dừng. Ngày mai, không có nghĩa là sau hai mươi bốn giờ, mà là vô cùng tận. Ngày mai nhé! Đó lại là vũ khí, và cũng là bia của cánh thợ nói, như Mộc. Nói ngày mai tươi sáng, hứa ngày mai sẽ có tất cả, lập tức, mọi người nghĩ ngay đến vòng mười trên bia, điểm hồng tâm chói lọi. Nhớ có lần, tập bắn đạn thật, bằng khẩu K44 han gỉ như bị cóc gặm. Mộc bảo: "Nhờ anh báo bia, đứng ra sau bia, cứ nghe "đòm" một phát thì lập tức lấy dùi chọc cho một lỗ vào vòng mười, được ba viên đứng thế chân vạc trong vòng mười thì nhất". "Thế thì nát ngực người ta à?". "Làm gì trúng bia mà sợ, đạn này chế tạo trong rừng, nên thường đi tìm hươu".

Nghe lão Côn, Mộc hiểu, người ta sống được, không phải bằng mớ lý luận soi đường của bọn Mộc, hàng ngày đóng vào công văn gửi đi các cơ quan, ban, ngành, huyện, thị, xã, phường, thị trấn… mà sống bằng mẹo mực, bằng sự thực dụng trần trụi. Dân ta khôn vặt, chỉ lo lam làm đủ ăn thôi. Trong bữa rượu, lão Côn cổ suý cho chuyện xây dựng thành tích, lo các cửa để kiếm huân chương. Nhưng ra đường, lão lại xui cách tôn tạo đền Lừ cho dân thờ cúng. Có lẽ, ở đâu cũng nói những điều có lý, nên quán thịt chó của lão, trừ ba ngày đầu tháng âm lịch, còn lúc nào cũng đông khách. Từ ông bí thư, đến anh đội trưởng, cho chí xã viên, ai cũng thích ghé vào. Lão tinh ranh lắm, biết ai dày tiền thì thái cho dày miếng thịt, mỏng tiền thì mỏng miếng thịt, nên khách không cần mà cả, ngọ ngằn. Có tay nào đó, phởn chí, viết vế đối bằng phấn trắng thạch cao, trên xà nhà: "Đáo quán cầy tơ vui như hội". Bao nhiêu rượu, thịt với bao nhiêu vế đối lại, nhưng không thấy ai viết thêm, sợ hớ. Từ khi khoác cái áo ba-đơ-xuy màu lông chuột, lão tự giễu mình là chính - khách - giả - cầy. Nhưng lão đánh cái áo vào, ai cũng thấy lão lồ lộ phong độ thượng lưu, thế mới lạ. Hình như trong con người lão, có tố chất của kẻ học giả sinh bất phùng thời chăng?


Nhìn ra đền Lừ, như thấy ánh hào quang toả sáng, Mộc không tin vào mắt mình, có lẽ say rồi, nhưng dụi mắt nhìn lại, càng thấy sáng như ban trưa. Có hai con đom đóm rất to bay quanh đền Lừ và một đàn đom đóm con bay theo, như rước đèn kéo quân. Hay là đức thánh Lừ đã nghe được lời của lão Côn xui Mộc lập mẹo, xin tôn tạo đền Lừ? Không, hình như còn có một người nữa, lúc nào cũng như hình như bóng với đức thánh Lừ. Ông ngoại báo mộng, đó là tướng quân Thuỷ Văn Thổ, mai danh ẩn tích, người trần mắt thịt không thấu, nhưng tướng quân sẽ phù hộ độ trì cho Mộc. Sao tướng quân không có trong sử sách nhỉ? Người có công đức lẫy lừng cũng còn bị người đời bỏ quên, hẳn không phải là ít. Còn bọn vô danh tiểu tốt lại được tụng ca, cũng không phải là hiếm. Trong một xã hội, sự thật giả bao giờ cũng lẫn lộn, khó mà rạch ròi phân miêng. Xã hội là một mớ hổ lốn, nên mới có cái sự khôn sống mống chết.



Chương ba


1.


Bỗng nhiên, cả làng biết làm thơ.

***


- Các cụ giao cho ban ta phải viết một bài, đăng trên báo của đảng bộ tỉnh, nói về kinh tế thị trường, nhằm dẹp tan dư luận cho rằng, ta đang lệch đường, đi theo tư bản. - Trưởng ban chỉ tay vào Mộc. - Ban giao cho cậu, cố gắng nhá, văn hay chữ tốt phải thể hiện, thì thiên hạ mới tường, áo gấm đi đêm, phí!

- Nhưng, bọn em học trong trường, các thày giảng, thị trường là của bọn tư bản lũng đoạn. - Mộc liều cãi.

- Thực ra, đó là do nhận thức. Trước đây, ta quan niệm là thế, nhưng có sao đâu nào? Ai có quyền thì quan niệm, không đúng thì sửa, lấm rửa lệch kê. Đúng ra, thị trường là của chung loài người, nhưng tư bản nó lợi dụng được, vì nó thực dụng. Ta thiên về lý tưởng, nhận thức sau, nhưng quán triệt phương châm đi tắt đón đầu, nhất định sẽ vượt tư bản. Có câu chuyện, trước đây, các học giả phe dân chủ ta quan niệm, thời gian một chiều. Nhưng bị bọn bên kia chế diễu. Ta chỉnh lại, nhưng không phải chuyện đó là theo đuôi, mà theo quy luật khách quan của nhận thức luận.

Thảo nào, người đời chẳng coi tuyên giáo là cái lưỡi của trên. Mộc mang lý luận ra thi thố:

- Kinh điển của chủ nghĩa Mác Lê-nin đã nêu, buôn bán nhỏ là từng ngày từng giờ sinh ra chủ nghĩa tư bản.

Trưởng ban thở dài, phất tay, bảo: "Thế nhá!". Cán bộ trong ban ai cũng biết nguyên tắc bất thành văn, một khi thủ trưởng đã chốt câu: "Thế nhá" thì coi như mệnh lệnh đã ban, không bàn cãi, chỉ thực hiện. Trưởng ban có khuôn mặt tròn, vẻ phúc hậu, nụ cười tươi và mái tóc bạc tôn thêm vẻ hào hoa. "Cái hồi tớ học ở bên Nga, hay lắm". - Trong các cuộc vui, ông thường bỗ bã, ai cũng cười vui, ngầm hiểu cái sự "hay lắm" là cái gì rồi, nên cũng hùa theo, vui cùng vui, buồn cùng buồn với thủ trưởng. Ông có chân trong ban thường vụ tỉnh uỷ, thế là hạng quan đầu tỉnh, mà tác phong rất quần chúng. Hồi này, cứ hết giờ hành chính buổi chiều, ông lại đến nhà chị gái điếm ở cuối phố, và nghỉ qua đêm. Những sự căng thẳng qua một ngày làm việc được giải toả, nên nom ông vượng lắm. Lúc nào ông cũng đeo kính râm to bự, che gần kín khuôn mặt, nói là để đề phòng nhật thực có thể bất đồ xảy ra.

Xuân, thu nhị kỳ, cánh tuyên giáo đã quen viết bài "đinh" về lĩnh vực chính trị, để đăng báo, nhất là trong các dịp kỷ niệm ngày thành lập đảng, quốc khánh… và còn phải đôn đốc đám văn nghệ sỹ viết, vẽ, ca hát những tác phẩm "cúng cụ". Đại loại, nhân ngày lễ thì ca tụng công lao trời biển này nọ. Thuở ban đầu, chỉ có lễ, bây giờ sinh thêm cái khoản hội. Thôi thì đủ thứ: hội thi tìm hiểu truyền thống, hội thi học tập tư tưởng, tất thảy, đều được sân khấu hoá cho sinh động. Chỉ tội tốn kém, nhưng kinh phí đã có nguồn rót về, cứ thế mà triển khai.

Mộc đã được đọc các bài trên tạp chí Cộng sản, về thị trường theo định hướng. Nhưng Mộc rất phân vân, định hướng ấy mắt ngang, mũi dọc ra sao? Có lẽ, thị trường thì bao giờ cũng là thị trường. Trước đây, phủ định nó, bài bác nó. Bây giờ, lại làm theo, ăn theo, nói theo thị trường. Nhưng nói thác đi là có định hướng kiểu mới. Mộc cay đắng, y như thể trương tuần bị mất cắp, tiếc của, tức mình, nhưng sỹ diện, mà không dám kêu. Có lúc Mộc hoang mang, không biết là do thực hiện sai đường lối, chính sách hay do đường lối, chính sách sai, mà xã hội ngày càng rã rời, lòng người phân tâm, giả dối. Nhà nát, dọi chỗ này lại dột chỗ kia. Nhưng không dám làm lại nhà mới, sợ phải dỡ cả gian thờ.

Bài của Mộc bị soi đến từng dấu phảy, khi đăng lên, báo phát hành về tận các chi bộ. Đảng viên đọc. Quần chúng đọc. Và tất cả lặng im như chưa nhìn thấy. Ai cũng sợ nói cái điều trái tai, nhạy cảm thì luỵ vào thân. Làm cái anh thợ nói, thời chiến tranh, tưởng khó mà lại thành dễ, bởi chỉ có một định hướng: chỉ một hướng ra trận, tất cả để đánh thắng. Kẻ nào nói khác đi thì quy vào diện phản động. Thời hoà bình, tưởng dễ lại hoá khó. Bây giờ, đài, báo, ti-vi lắm kênh, rồi còn in-tơ-nét, lại đám người đi nước ngoài, Việt kiều trở về như trẩy hội. Nhiều chuyện, người ta còn biết nhanh, biết nhiều hơn cả cán bộ tuyên giáo. Vậy phải nói cái gì, nói như thế nào, nói vào thời điểm nào để vừa đúng chủ trương, chính sách, chỉ thị, lại vừa lọt tai người ta, để biến thành hành động cách mạng, thì đâu phải chuyện dễ. Không phải ai cũng có thể uốn ba tấc lưỡi, mà được ăn trắng mặc trơn cả đâu.

Mộc nhớ đến bữa thịt chó ở "Công ty R-TC". Từ chủ tịch mặt trận cho đến Mộc, ai cũng ngồi, kín đáo nuốt nước bọt, nhưng một khi lão Côn chưa ra lời thì chưa ai gắp, rót. Về sau, Mộc mới biết, bữa đó lão Côn chiêu đãi, chủ tri. Trong cơ quan cũng vậy, cái anh chủ chi có khi còn to hơn, thực quyền hơn cái anh chủ trì. Nhưng nếu vừa chủ trì lại vừa chủ chi thì thuộc loại siêu quyền lực. So sánh cũng như anh trưởng ban, nhưng làm phó bí thư chi bộ thì thực quyền chỉ hơn cái anh phó ban làm bí thư. Nhưng khi anh ta vừa là trưởng ban, vừa làm bí thư thì quyền sinh, quyền sát nắm trong tay. Đó, chính là độc quyền. Độc quyền thường kéo theo bảo thủ, trì trệ, dẫn đến chuyên quyền, độc đoán.


Ấy là, trong bài báo của Mộc còn chưa thể hiện chính kiến của mình, chỉ gài mấy gợi ý về kinh tế tư nhân, thì đảng viên, cán bộ cũng như công dân khác, nhưng không chấp nhận sự bóc lột thái quá, còn phần nhiều, chỉ viết dựa theo ý trưởng ban và các bài đã đăng trên tạp chí. Mộc nghĩ, nếu có nêu chính kiến thì cũng chẳng được đăng, mà có khi còn bị đánh dấu, soi chiếu. Chân lý chỉ phát lộ trong hoàn cảnh phù hợp. Ai cũng hiểu chân lý, nhưng nhiều khi phải làm ngơ như chưa thấy, hoặc có thấy nhưng không hiểu, không dám bàn luận để yên thân. Thân phận không yên ổn thì công danh, sự nghiệp lao đao. Nhưng nếu ai cũng né tránh thì làm sao chân lý được khảng định và cuộc sống cứ cũ kỹ, han gỉ dần đi, xã hội cũng lụi tàn.

Tiếng suối Mẹ Tiên vọng lại. Mấy lần, mẹ nhắc di ngủ, nhưng Mộc vẫn nún nán nằm trên võng, mắc ngoài cột hiên. Trời như tối hơn, bầy đom đóm không còn rước đèn kéo quân nữa. Đền Lừ chìm trong bóng đêm. Những vì sao li ti như hạt vừng, lúc ẩn lúc hiện trên nền trời. Mộc nhớ, ngày bé, những đêm trăng thanh gió mát như vầy, ông ngoại thường trải chiếu ngoài hiên mà dạy kéo nhị. Ông giảng giải, đàn bầu độc huyền có một dây, nhị có hai dây, đàn tam có ba dây, đàn tứ có bốn dây… Cái nhị này gọi là nhị hai, tiếng ấm hơn nhị một. Nhị một nhỏ, tiếng đanh. Còn hồ thì to hơn và trầm buồn. Lão Hượm vừa giảng giải, vừa đốt que diêm hơ cho chảy cục nhựa thông ở bầu nhị, rồi phì nước bọt ra ngón tay mà miết cho nhẵn. Có nhựa thông thì nó mới lì, tiếng kêu mới nỉ non, thánh thót. Khi ông quay sang, thấy Mộc ngửa cổ ngắm sao trên trời. Lão Hượm lủng bủng, thằng Cò không có khiếu âm nhạc.

Con đom đóm to như ngọn phong đăng lập loè theo điệu xẩm. Dì Gió ngấp nghé ngoài vườn chuối, phe phẩy quạt hầu cho Mộc, khiến cu cậu ngủ thiếp trên chiếu. Lão Hượm khoan thai đặt nhị lên đùi, bột nhựa thông bám đầy bầu nhị bọc da trăn. Tiếng nhị nỉ non, hờn giận. Tiếng ông ngoại hát xẩm, giọng khê nồng, làm cho Mộc thức giấc, hình như, có bóng ông quan đời xưa cũng ngồi ghé bên chiếu mà nghe:

Cán bộ mà đi phá đền

(Chứ) phá đền rồi phải làm đền trả dân (í, ì, i)

Đền đài nằm ở trong tâm

Cái tâm mà động là dân ậm ừ

Ai ơi chớ phá đền Lừ…


Lão Hượm cung kính vái ông quan võ và trỏ vào Mộc. Đoạn, lão cầm nhị đi nhẹ như lướt ra ngõ. Mộc gọi với theo: "Ông ơi". Ngàn hớt hải bưng đèn hoa kỳ chạy ra, hỏi giật giọng:

- Gì thế, hử?

Mộc tỉnh ngủ, nhìn mẹ qua quầng sáng đỏ đòng đọc của ngọn đèn dầu, thấy nét mặt hoảng hốt của mẹ. Mộc khẽ khàng ngồi dậy, lí nhí trả lời:

- Không ạ.

- Vào nhà mà ngủ, uống rượu, nằm gió là cảm lạnh đấy.

- Vâng.

Mộc vắt võng lên duổn, lặng lẽ vào nhà, như thể gà con theo mẹ vào chuồng.



2.

Thời thiếu nữ, đêm đêm, Nụ thường thấy một người con gái khoả thân, nằm bên mình, rủ rỉ tâm tình như người chị, người bạn gái. Lân la, cô ta dạy Nụ cách mồi chài con giai, cách làm tình. Làn da cô ta trắng như bột lọc, tóc dài chấm gót. Từ tấm thân nõn nà ấy, toả ra mùi thơm ngầy ngậy, khiến ai ngửi phải cũng hứng tình. Nhưng thân thể cô ta cũng có khí lạnh nghĩa trang, làm cho người ta ghê ghê. Cô ta thường giấu đôi bàn chân, khiến Nụ tò mò. Có lần, cô ta nằm trên, Nụ lén nhìn, giật nảy mình, khi thấy cô ta bị cụt hai ngón chân cái.

Không phải là từ cái đêm nhìn thấy cô ta thiếu ngón, khiến Nụ mất hứng, mà thực ra, từ lâu, hơi lạnh làm cho Nụ sờ sợ, tuy sợ nhưng vẫn mê, y như ăn phải bùa mê thuốc lú. Đêm nào cô ta không hiện về, là Nụ lại thao thức không ngủ được, hết trở mình, lại đứng dán mắt qua cửa sổ mắt cáo, ngóng về đền Lừ. Nụ để ý, cô ta hay đi về phía ấy mà. Có đêm, Nụ sang ngủ buồng mẹ. Bất chợt, cô ta hiện về, lén máy chân, khiến Nụ về buồng mình.

Ở làng này, mỗi ngôi nhà thường làm ba gian hai chái. Gian chái bên trái, thường làm buồng cho đàn bà, con gái. Gian chái bên kia, làm kho chứa đồ đạc, thóc, gạo, ngô, khoai. Từ khi làm bạn với cô ta, Nụ độc chiếm buồng phải, chuyển kho xuống bếp. Buồng phải trở thành cái động để Nụ hú hí, hàng đêm. Mẹ Nụ tinh ý đoán biết, hình như, đêm đêm, con gái rước giai vào buồng. Bà lập mẹo, rắp tâm rình. Có đêm, bà đột ngột vác rá vào buồng, tìm gạo nấu cháo, rồi bảo, tưởng thúng gạo vẫn ở sau cánh cửa. Bà đốt đèn, dém màn cho Nụ, nhưng từ trên chiếu, cho chí gầm giường, chẳng thấy ma nào. Lại có đêm, bà nghe rõ mồn một tiếng mộng giường kêu cọt kẹt và tiếng rên rẩm ư ử như chim cu gù. Bà vội cầm dao bài, đẩy tung cánh cửa, nhảy xổ vào, nhưng chỉ thấy mỗi mình Nụ, nằm tênh hênh, tô hô trên giường, tóc xoã xượi, má đỏ rừng rực như lò than, dưới mông, cái khăn ướt nhoẹt. Bỗng, một luồng khí lạnh thoát ra cửa, khiến bà bủn rủn cả người.

Mỗi khi, bọn con trai đến nhà chơi, thì y như thể có người vô hình lót lá cầm tay đuổi ra. Cũng có bận, một anh chàng rủ được Nụ đi chơi tối, thì tựa hồ như có người ngáng chân, làm cho anh ta ngã giập mặt. Bọn con trai rỉ tai nhau, lảng dần…

Bà lão ngồi ngẫm và lờ mờ hiểu ra căn nguyên, vội mời thày về, làm lễ cắt tiền duyên cho con gái. Bà dùng cả mẹo dân gian trừ tà ma, lấy cứt gà sáp bôi lên cửa buồng, thậm chí, còn lén bôi cả cứt gà sáp vào gót guốc của Nụ. Không biết là do thày cúng cao tay, hay do cứt gà sáp, mà bà cảm thấy có kiến hiệu. Và rồi, khi đội chiếu bóng về làng, thì Nụ đã mau chóng chài được Môn. Khi Nụ về nhà chồng, bà cũng lén bôi được cứt gà sáp vào cánh cửa buồng của đôi vợ chồng trẻ. Mãi đến khi, Nụ sinh con đẻ cái, bà mới thở phào nhẹ nhõm. Nhưng rồi lại đến đận cháu ngoại, chắc mẩm, nguyên do con cháu Trang phát điên phát rồ cũng là bởi con ma chài trả thù mà thôi. Bà cầu cầu cúng cúng hết hàng thúng trầu, lại vét tất tần tật cứt gà sáp trong làng mà bôi khắp nơi, nhưng vô vọng lại hoàn vô vọng. Bà người trần mắt thịt, không biết cái chuyện ấy là do đức thánh Lừ ra tay. Bà lại càng không biết, con ma chài Nụ là tình nhân của đức thánh. Cái chuyện kín giữa thần thánh và ma quỷ, ai mà biết được. Nếu biết tỏ tường mọi nhẽ, thì dân lành đã bớt đi bao nỗi đoạn trường. Bởi không hay biết, nên cái gì cũng mù mà mù mờ, dò dẫm cất bước, ai dắt đâu đi theo đấy, chẳng khác gì đàn bà, cứ bị dỗ ngon dỗ ngọt là tý tởn đi theo, đến nỗi, đâm quàng cả vào bụi rậm, quay đầu thì đã xế chiều.


... CÒN TIẾP


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ TuyênQuang ngày 13.12.2016.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004