Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

tiểu thuyết


ĐẤT BỎNG



        PHẦN THỨ HAI


CHƯƠNG 3




Vòi đã đi làm, khao than, vững đáo để. Công việc vẫn đều đều. Than ra theo dây chuyền, không được tắc. Ách tắc ảnh hưởng đến công việc. Nỗi khổ cực không vơi. Tiếng mè nheo, diếc lác eo óc chật các tầng. Mỏ không phải nơi chứa hết người cần việc, người đói khát. Việc ít người nhiều nên tiền công hạ. Không làm thì treo niêu. Người nhìn nhau gằm ghè, hậm hực. Tháng nhiều cũng chỉ hai mươi, hai hai công. Bỉnh để Trắm ở nhà, dựng lán chứa phu, trông coi và cung cấp người làm việc cho cai Công. Mọi sự đã có Vòi truyền tin. Cần bao người, Trắm chuyển tới. Một số đưa nghề lâu đời từ quê ra. Ông đóng cối, ông phu xe, phó mộc, phu hồ, làm kẹo, bán rong…đủ hết. Nhà vách tường đất dần dần thành tường xây. Mái gianh, làm ăn khá thay bằng mái ngói. Khuôn mặt phố dần dần đổi khác. Nhộn nhạo hơn, xô bồ lộn xộn hơn. Cảng được hoàn thành ngay dưới chân đền Cửa Ông để sàng tuyển, bốc rót than xuống tàu. Đường sắt được tiến hành song song với việc mở cảng. Sân vận động (bãi ta ranh) bắt đầu hoạt động giành cho người thích luyện tập thể thao, thích chạy nhảy, đá bóng… Nhà cửa xây thành dãy, lợp ngói chắc chắn. Chợ Mới được xây quy củ. Người có nhà ở khu vực này phải tự giác tháo dỡ không được cấp tiền đền bù. Gian nan lại dội xuống đầu dân trong đó có vợ chồng Đá, Ao, Bào, Thãi…

Họ phải kiếm chỗ ở mới. Ai nấy hối hả mua nhà, sốt sắng vay lãi trả tiền nhà ở, chuyển vào chuyển ra. Họ kéo nhau xuống Cẩm Bình, phá đầm, phát cây lấy đất dựng nhà, làm vườn. Có kẻ khó khăn, có người lừng khừng được sao hay vậy tìm đến những lán phu, kéo dài cuộc sống tạm bợ, ăn đậu ở nhờ. Đền chùa được các cai thầu ăn ra làm nên xây chi chít với những cái tên mĩ miều: Bảo Quang, Phúc Quang, Long Bảo, Hải Hà…Dân khó quen, không hiểu nghĩa, chữ mù mịt thường gọi theo tên đồng hoặc tên cây chủ lực trong đó: Vườn Nhãn, Cây Quéo, Đồng Dung, Đồng Liên…

So với chợ Cũ, chợ Mới nhỏ, lượng người mua ít. Chợ Cũ thuận tiện hơn. Thuyền cá, mủng mực… theo lạch nước đỗ bên cầu. Từ đó vào chợ bằng xe bò, xe kéo, vai lưng...quãng trên trăm mét. Tiếng gắt gỏng, thét la, kêu quát chộn rộn. Nhà cửa quy củ và quang cảnh sầm uất. Chợ Mới phần đông dân lao động. Hết giờ tan tầm là vội vàng chớp chảo, nhanh chóng mua bó rau, quả cà, mớ tép vụn về gia đình. Rau Cẩm Bình, khoai, sắn, ngô, đậu Quang Hanh đổ lên chất thành đống lớn. Chợ Cũ nhiều loại hàng hơn, sang trọng, quý phái hơn, phục vụ những người có máu mặt. Đó là những năm đầu. Về sau, nhộn nhạo hổ lốn cả. Tiện đâu, người ta mua đấy. Sáng sáng, các bà, các cô áo dài áo ngắn cắp rổ ra chợ. Vừa đi vừa chơi vừa mua vừa kháo nhau những chuyện đẩu đâu tới non trưa. Chiều tối, dân lao động ùa về. Hàng ôi dưa già rau héo loáng thoáng đã vãn tiệt. Buổi tối, chợ quang đãng, rinh rích tiếng chuột chạy rồi lại đông đúc người vào sáng hôm sau.

Tại phố cũ, nhà thờ xứ Cẩm Phả bắt đầu lợp mái. Chủ chiên - Linh mục Vi cen te Hoàng Ngọc Đẩu - quyên góp giáo dân (quãng ba trăm người) làm tường đất, lợp gianh tre gần chợ Cũ. Con chiên đến đọc kinh vào sáng chủ nhật hàng tuần. Nhà thờ nhỏ, tượng nhỏ, sơ sài thuộc giáo phận Hải Phòng.

Bằng ấy sự kiện xảy ra trong vài năm đầu thập kỷ 20 thế kỷ 20 làm xôn xao vùng đất ngàn năm yên tĩnh. Người do đó làm ăn nhếch nhác, khó khăn hơn. Kẻ nhờ đó phát tài phát lộc, lên voi lên tiên. Chùa Cả, chùa Lâm, đền Quan Tả, đền Tứ phủ… cùng nhiều miếu mạo khó tính hết. Đồng cô bóng cậu um xùm. Thanh la chiêng trống rền vang. Tổ tôm, hồ lì, ích xì, đánh bất, phá ùi, đố chữ cuốn hút biết bao thời gian công sức những người chân ướt chân ráo từ ruộng bùn lên mong giàu ngay. Họ trông trời biết ngày mai mưa nắng ra sao. Bùn đất bốc lên tay, nhìn ngửi biết sẽ trồng được gì. Nếu cấy lúa phải bón thêm phân chuồng nước giải hay tro bếp? Trồng rau bón thêm gì, đủ nước chưa? Cả đời cắm mặt xỉa tay xuống đất, biết gì đến cờ gian bạc bịp. Nhưng dân ta quá giỏi. Làm được hết. Không biết thì học. Học rồi biết. Khôn ăn người, dại người ăn. Thua keo này bày keo khác. Có kẻ vượt lên, không sa đà chè rượu, bài bạc. Có kẻ đắm chìm, giật gấu vá vai, vay chằng nợ bửa thành ăn cắp ăn cướp ăn trộm, thành lưu manh lừa gạt anh em bè bạn mình. Những khu nhà xây ngăn nắp có chủ. Người có tiền mua. Người chưa đủ tiền vay mượn bà con anh em mà mua. Mua để ở. Ở không hết cho thuê. Phố Mới khang trang ồn ào chứ không yên tĩnh như phố Cũ. Lán phu càng dày thêm khi Cửa Ông đã nhận than xuất than năm 1926 sau hai năm đồng thời xây dựng cảng và hệ thống đường sắt.. Mọi loại vật liệu đều chuyên chở bằng đường thuỷ. Đường bộ hẹp, nhiều dốc khe chưa kịp san gạt bắc cầu. Thi thoảng, chiếc xe con nhà binh nghênh ngang chạy qua còn lại vài xe kéo, xe tay, đi ngựa và cuốc bộ.


Hàng quán bắt đầu hoạt động rộn rã. Chợ búa phong phú những mặt hàng nông sản. Khoai sọ, khoai lang, cải củ, hành hoa, tỏi ớt…từ Quang Hanh đến, từ Cẩm Bình lên. Nhiều người trong làng mỏ, phố mỏ không làm nghề mỏ. Chị Trắm quản lý chỗ ở cho phu thuê lâu, phu thuê tháng. Đá làm tầng. Do nhà cửa bị lấy đất, vợ Đá chưa kịp bàn với chồng việc chuyển xuống Cẩm Bình, chạy chợ bán dưa. Vại dưa muối đủ nuôi gia đình và góp vào lương chồng, vay thêm anh em, trả nợ tiền lấy nhà mới. Nhớ lại những ngày lo lắng ấy, vợ chồng còn toá mồ hôi.

Chẳng được báo trước, những người dân xóm mới thấy phu phen kéo tới, căng dây, đóng cọc, đào đất. Hỏi ra mới biết, họ được lệnh san đất xây nhà. Ai trong phạm vi đó di chuyển cho mau. Ăn đấu làm khoán, công việc tới, họ đào, đập, xáo trộn hết, không kêu được. Cả xóm te tái gọi hỏi nhau, mạnh ai nấy chạy, gom góp mồ hôi công sức mình. Lợn gà kêu quang quác. Bà con lao động cả. Xác nhà không nhưng chó mèo gà lợn, luống rau dậu đỗ. Du dập một hồi, tan tành hết. Chị Đá có tiếng khéo nói, ai nghe cũng thầm khen nhưng trước lệnh của người nhà nước, có tiền có quyền, lời lẽ đành chịu nước lép. Cùng mọi người thu dọn đồ đạc, tách vấu, cây que ra xếp đống, chị thiểu não:

- Các bác các anh ơi! Thư thư cho nhà em với.

- Thôi cô ơi! Việc nhà nước không chậm trễ được. Chậm là roi vọt vụt đầu chúng tôi ngay.

Những tiếng la, tiếng kêu trời, tiếng đào đập huỳnh huỵch ầm ào sôi sục từ sáng tinh mơ đến khi tối đất.

Vợ chồng xo xúi vào nhau, đi ở nhờ, ở thuê tuỳ theo gia cảnh từng người. Ai cũng lòng dạ rối bung, tất bật xếp sắp trông coi, mong cầu cho qua đận khổ. Chắt bóp vay mượn mãi, vợ chồng Đá mua được căn nhà xây lợp ngói trong dãy phố cửa chợ. Chuyển nhà xong lại lo tiền trả nợ lãi. Ba bốn cái miệng trông vào lương Đá thì chưa hết tháng đã sạch toẻn. Chưa kể nhiều hôm bị phạt không công, lên đến nơi không việc phải về. Lơ là một chút, bị phạt, bị cúp. Nói ra thì nhiều chuyện lắm.

Vợ chồng Ao cũng mua căn nhà cạnh chợ, sát nhà Đá. Chị chị em em nhăn nhăn nhó nhó nhưng Ao may hơn, được vợ chồng Hoán giúp. Do làm mệt và lo, Đá thất thần, mặt ngơ ngơ ngác ngác. Vợ Đá khôn ngoan học cách muối dưa, mang chợ bán. Đấy là chị nói vậy chứ có học ai. Ngày bé ở quê, thấy mẹ làm bắt chước, quen mắt quen tay cũng làm được. Bí quá, cái khó ló cái khôn. Nói học bán hàng rồi bán hàng chạy thật. Một món ăn dân dã bán cho người cổ cày vai bừa. Vừa tránh cảnh hàng thịt nguýt hàng cá vừa làm đẹp lòng những người lao động nặng nhọc đầu chày đít thớt, những người không mấy lúc kén cá chọn canh.

Từng gánh cải tàu chuối, cải xen già mua rẻ về, loại bỏ rễ, lá vàng, phơi tái. Rải một lượt cây cải, một lớp muối, một lớp bã mía. Lần lượt từng lớp như thế đến tận miệng chum, miệng vại. Chẻ mía cây thành mảnh dài và mỏng xếp lên. Lót vỉ, đổ nước muối ấm cho vừa, đè đá hoặc vật nặng. Nén độ non tháng mang ra rửa sạch, bán cả cây. Dưa có màu vàng đẹp sáng, đưa ra gió cũng không bị thâm xỉn lại.

Vào mùa khế. Xuống Cẩm Bình xem nhà ai có khế chua. Khế chua quả vừa to vừa sai, rụng vàng dưới gốc, mua gánh không hết. Đem khế về rửa sạch, để cho ráo nước rồi sấy hấp. Đưa khế lên vỉ đặt trên nồi nước sôi, đậy vung lại. Khi khế trương lên, vớt ra phơi tái. Chất khế tái vào ang. Rải một lớp khế, một lớp đường, lớp cam thảo để khươm mươi niên không sợ hỏng. Khi mang ra ăn, chua chua ngòn ngọt, nhai một lại muốn nhai hai. Bán cho trẻ con hoặc các bà rảnh việc ngồi lê mách lẻo. Họ ăn như mỏ khoét, ngốn như xa cán ngốn bông. Người ta lấy công làm lãi đã may, đã sống. Vợ Đá làm thế khác nào buôn thất nghiệp lãi quan viên. Mở cửa là có tiền dù không ít vất vả, mướt mát mồ hôi, đầu tro mặt muội.

Vợ Ao cũng bán dưa. Dưa muối xổi. Các loại cải, cải củ, cải xanh, cải bắp trộn rau cần. Chị bán cả cà muối. Ngày một ngày hai hàng cũng chạy, tiền rủng rỉnh. Mặt mày rạng rỡ hẳn ra.

Cả hai nhà Đá và Ao, con cái đua nhau chạy từ bụng người ra. Chả ai nhớ hết tên chúng nếu không có việc gì cần thiết.



CHƯƠNG 4



Đi làm về, Cheo nghe Mại nhắc chị Nhằng khác lắm. Cởi vội cái áo đang mặc vắt lên dây, anh ghé lại giường. Cái giường cũ mẹ vợ cho khi Nhằng ốm. Nhằng nằm thiêm thiếp, thấy động mở mắt, lần lần đưa bàn tay nắm lấy tay chồng để yên một lúc.

- Nhà thấy trong người thế nào?

Nhằng không trả lời. Mắt giàn giụa nước. Xoa tay lên gương mặt hốc hác của vợ, Cheo dùng ngón cái khơi lau dòng nước ấy. Nhằng co tay lại. Chị chắp hai bàn tay, cố giơ lên cao, run run chậm chạp vái chồng rồi ật ngửa đầu, buông thõng tay xuống.

Nhằng chết, chấm dứt cuộc đời tội lỗi và dày đặc khổ đau. Mại lên nhà bà Nhắng đưa Thao về. Thằng bé biết thân phận, khép nép lặng lẽ. Sau ngày đưa mẹ đi, nó khóc ít nhưng khổ đau hằn rõ trên gương mặt xám ngoét. Những đứa trẻ mồ côi mồ cút ở sở mỏ thiếu gì. Người ta thương xót, thông cảm nhưng ngày một ngày hai họ quên ngay. Nó lẫn trong muôn vàn đứa trẻ khác. Trai côi sưởi nắng, gái côi sưởi đèn. Điều ấy đâu riêng đứa còn cha mất mẹ, còn mẹ mất cha nào. Người người bận những công việc thiết thân. Chẳng mấy ai rỗi hơi than dài thở ngắn hộ việc thiên hạ.

Chị Bào tiếp tục đẻ con trai. Bà Của đã già, lo toan làm bà già hơn. Cái lưng còng gập xuống. Không có ai để tâm sự thở than, bà thường lạu bạu một mình. Con Bi nghịch như quỷ sứ, suốt ngày chậm choẹ với cái Thuần. Bà Của mắng mỏ luôn miệng. Ở đâu cũng khổ. Quê hương đói khát lụt lội… Sở mỏ khô khát, nóng bức. Bà lẩm bẩm luôn mồm khiến những người xung quanh đoán già đoán non. Dạo này bà lẫn tính, không khéo muốn về chầu tiên tổ.

- Anh phải xem xem. Không khéo chừng…


Sau hai năm truyền đạo và hành lễ, nhà thờ ở phố Cũ bị cháy do mái tranh mục thấp lâu ngày, nến đèn không cẩn thận. Trận cháy năm 1926 khiến cả nhà thờ trụi lủi. Giáo dân cứu được pho tượng thánh Vicente. Cha Đẩu đã ngoài năm mươi tuổi ngày ngày đi tìm đất, cùng mấy người, cắm móng dựng nhà thờ ở khu phố Mới, hướng quay lên phía bắc, ra mặt đường nhìn lên dãy Bay Màn. Nhà thờ bằng tre gỗ và lấy tước hiệu Vicente làm quản thày của giáo xứ. Đất làm nhà thờ được giáo dân dâng hiến và góp công góp của mua lại.

Vợ chồng Đá có tiền ra tiền vào. Sỏi, Đồng ít xuống nhà anh chị. Tháng một đôi lần, vào thăm cho có mặt. Túi còn tiền, họ vào xóc đĩa. Mặt đờ ra, nghiêng nghiêng tai nghe, đoán những mảnh giấy lọc xọc xấp ngửa trong lòng bát. Lúc ấy, quê hương dòng tộc chỉ bé bằng cái tép bưởi. Khi nhẵn túi, mặt xám như đít vại, thân thể xác như vờ, xơ như nhộng, hút thuốc vặt, ngồi chầu rìa nhìn bọn còn tiền sát phạt nhau, chán ngán không nói được gì. Nếu rỗng túi, ở nhà chép miệng thở dài, nằm ươn hoặc mua chịu rượu uống. Uống với chuối non, ớt xanh hay uống suông. Đỏ mặt tía tai, giá có mũi gai nhể vào máu sẽ phun thành vòi. Rồi hát, rồi chửi tục, chửi thề, rồi khóc rồi nằm li bì đến sáng hôm sau. Vục mặt vào ang nước, nốc ừng ực, lặng lẽ ra tầng. Cũng như phần đông cu li, họ sống như thế quãng mấy chục năm thì chết nếu như không gặp tai nạn bất ngờ đá lở, đá lăn, tầng vỡ, trục bay…Tiếng khóc, tiếng than rồi lãng quên ngay. Lớp lứa khác tiếp tục thay, tiếp tục chết sau một cuộc đời ít đổi thay, không đổi thay, cố định.

Vùng mỏ thực sự ồn ào sôi động từ mấy năm nay. Nhà nhà xây dựng đều đều. Đã hình thành những con đường, những dãy phố vuông vức, nhộn nhịp. Đầm Róc, đầm Le vẫn còn muông thú nhưng thú dữ như hổ, báo, chó sói bắt đầu vắng rồi. Thi thoảng mới gặp. Người ta chặt cây, lội đầm, vật đất làm nhà. Muỗi dĩn bay từng vạt. Khói đốt xua chúng ngày đêm nghi ngút và làm yên lòng người đang dự định những mong muốn cháy bỏng thay đổi cuộc đời. Trong các ngõ phố, đời sống ngày càng phức tạp. Quan hệ đồng tộc, đồng hương bị xâm phạm, chia tách. Đã xảy ra nhiều vụ trộm cắp, thóng nhể * của nhau.

Lán phu là gian nhà rộng nhưng thúng mủng, quần áo, bao bị, nồi niêu, vấu tách chất ngổn ngang. Những đợt mộ phu, người chồng đống, chen chúc. Chủ nhà dựng cột gỗ, bắc sàn làm giường tầng cho phu ở. Cu li gọi đó là cũi chó. Vài chục người chen chúc trong cũi chó ấy, mơ tưởng đến ngày mai.

Trong lán phu lúc này, người đã ít. Sáu con bạc chụm đầu vào nhau đánh xóc đĩa. Xóc đĩa gồm có cái đĩa, một cái bát con úp vào lòng đĩa. Bên trong bỏ ba hoặc bốn mảnh giấy cắt đều nhau hay con xúc xắc.Thậm chí chỉ hai mảnh vỏ hạt dưa tuỳ theo quy ước, giao ước với nhau trước. Nhà cái cầm cả bát đĩa xóc xóc. Tiếng động nhè nhẹ bên trong. Những con bạc nghiêng tai lắng nghe. Sỏi vuốt vuốt xấp tiền, ném xuống phản gỗ, ghét gúa bám đầy, xướng:

-Chẵn!

Những thằng khác sau khi nghiêng tai, bát đĩa đã bất động đặt giữa chiếu, lần lượt xướng. Nhà cái mở bát. Những tiếng à ồ. Bàn tay người xướng đúng quờ ra vơ vơ. Những người thua ngao ngán đếm tiền, chuẩn bị đặt ván sau. Cứ vẹo vọ vần võ, chăm chăm chú chú như thế đến tàn canh.

Chỉ độ nửa giờ, Sỏi hết tiền, ngồi chầu rìa cạnh Đồng:

- Chẵn đấy chú ạ!

- Sấp chẵn!

Mở bát. Ba sấp một ngửa.

Đẩy số tiền ở trước mặt mình ra giữa bàn cho nhà cái, Đồng lại lần lần rút rút tiền ra.

- Lại chẵn! Chú cứ cửa chẵn cho tôi!

- Sấp chẵn!

- Lẻ!

Lại lẻ. Đồng nhìn anh khó chịu. Sỏi thấy ngay điều không ưng ý qua cái nhìn ấy. Ván nữa. Ván nữa. Sỏi lơ đễnh nhìn mấy người chơi không nói thêm. Những cặp mắt chăm chú. Tiếng vỗ đùi đánh đét vì bỏ lỡ. Một vài ván trôi qua, Sỏi sán lại:

- Chẵn đấy! Chú cứ đánh. Không chẵn tôi đi đầu xuống đất.

- Chẵn sấp!

Lại lẻ. Đồng ngồi thẳng lưng, vươn vai, hút thuốc lào.

- Chắc chẵn.

- Chắc con buồi bố! Lẻ!

Lẻ thật. Đồng vơ tiền vào lòng. May mắn làm sao, Đồng được năm ván liên tiếp. Nhìn thằng anh mặt dài như chiếc điếu cày, Đồng đưa cho anh hai trinh. Sỏi vơ vội lấy.


Cờ bạc canh đỏ canh đen, ăn nhau về sáng, dại gì mà không chơi tiếp. Chỉ qua vài ván dằng dai, túi lại nhẵn như đít ếch. Sỏi đứng dậy, cầm điếu vỗ vỗ, xin thuốc, châm lửa hút. Khói uể oải bay lên. Sỏi ngật ngưỡng :

- Đ.mẹ! Chó cắn áo rách. Sao hôm nay đen thế. Đúng đỏ tình đen bạc. Hôm nay không biết có dẵm phải cứt hay gặp con mẹ thổ tả nào mà chó thế. Đen như mực.

Sỏi bước ra. Núi Trọc dầm mình trong sương. Trời đất ướt ẩm, nhoà nhoà một màu trắng đục. Vừa lẩm bẩm vừa dò dẫm, Sỏi tìm về lán của mình. Muỗi kêu u u. Đẩy người đang ngủ nằm gọn vào, anh thả mình xuống phản.



CHƯƠNG 5



Đồng đã lấy Yên. Yên con nhà nghèo, quê Hải Dương, theo bố ra mỏ từ bé. Bố cô - ông Vi - làm lò. Ngày ngày chui xuống chui lên, chui ra chui vào, trộn bụi vào phổi. Cô đi theo, tha thẩn chơi với cây cỏ bên ngoài. Đến ngày ông Vi hết sức. Tiếng ho rền rền kéo những cục đờm lên lên xuống xuống mắc mắc trong cổ. Yên thay cha vào lò. Lò còn nông, mới hơn chục mét. Chưa kịp nhìn thấy đồng tiền công sức mình, Yên đã phải chôn cha. Ông Vi qua đời một mình trong căn nhà hẹp, dựng sơ sài. Cô về chỉ la khóc, không nhớ được việc gì. Bà con xóm thợ bó xác ông, vác ra đồi. Yên đi theo, xiêu vẹo vật vờ như cái bóng. Cô chả rõ mình về nhà thế nào và sống ra sao trong những ngày ấy. Mấy đứa bạn lau nhau kéo đến ngủ cùng cho đỡ sợ. Mọi việc qua nhanh như gió lướt. Cô vào lò. Bàn tay đàn ông đầu tiên thộp lên ngực khi cô vừa bước qua tuổi mười ba. Đổ thúng than xong, cô nhoai vào. Bàn tay thô bạo xấn xổ sờ lần làm cô bất ngờ hoảng hốt. Khi ý thức được sự việc, mọi chuyện đã xong. Chui ra, cô đứng còn run rẩy. Định chửi vài câu nhưng chẳng biết bắt đầu từ đâu, ai là thằng đã làm điều đểu cáng, đành im lặng cho qua. Mặt mũi xấu hổ đỏ rần rần. Từ đó cô cảnh giác đi díu gần chị em khác. Làm được vài năm, tay chân mặt mũi bắt đầu có những vết than xanh mờ, lằn sâu trong da, cô lấy Đồng. Họ yêu nhau đơn giản, cùng làm một chỗ, để ý đến nhau, không ghét bỏ gì nhau. Đồng nói qua với bà mối, sắm cơi trầu, mấy thẻ hương là xong. Trai gái cùng cảnh chờ đủ lệ bộ có đến ngày mục mả. Anh cần lấy vợ, ả muốn lấy chồng. Bà mối ăn nói hơn người. Hai ba mâm cơm tươm tươm coi như đủ. Cần gì nhiều. Cỗ bàn sắm sanh mời mọc để è cổ ra trả nợ ấy á? Thôi! Thương nhau chín bỏ làm mười. Người ta một hai còn thành mười được.

Đồng rời lán phu về nhà Yên. Anh dọn dẹp, sửa sang, dọi lại mái, quét lại vôi, che chắn căn phòng ấm cúng. Nhà sáng hẳn ra. Đá, Sỏi lên, mừng cho em tí chút. Tuy vội vã hấp tấp, Đá vẫn hồn nhiên giảng giải nghĩa vụ của vợ của chồng. Sỏi ngồi nghe, thưa thoáng đệm vào vài câu. Mọi chuyện có anh chị Đá. Đồng Yên vâng dạ làm phép rồi mọi việc cũng qua.

Núi Trọc dân đã đông, có lúc tới hàng ngàn người. Họ Hoàng, họ Lục là hai họ lớn, có danh tiếng người Hoa, đã khai thác than vài chục năm trước khi Pháp tới. Lò vào ngày càng sâu. Đèn đất đã được dùng. Nó sáng quắc. Lửa phè phè. Thỉnh thoảng tăm nước rỏ nhiều, phát ra tiếng xè xè như người thở nặng. Người Kinh lên ở xen kẽ thành dải phân cách giữa hai họ người Hoa. Những dải đồi núi tiếp nhau nằm trong dãy Bay Màn tạo thành những lũng, những khe. Khe nước chỉ nhiều, có khi thành thác lũ vào mùa hè nhưng lại cạn hẹp hoặc khô róc vào những tháng đông ken. Người dân đào khoét đất núi lấy nước dùng hàng ngày. Nhiều nguồn nước được đắp chặn năm này năm khác. Có dòng trở thành hồ khi đập chắn đã cao. Một chiều, mấy cô gái họ Hoàng ra hồ tắm. Họ giấu quần áo vào hốc đá, thả mình xuống dòng nước mát. Rừng vắng hồ sâu, các cô tự do thoả thích. Tốp thanh niên họ Lục đi săn. Hai con nai to, treo trên đòn khiêng. Đến hồ, họ hò nhau nghỉ. Bấy giờ, con trai thích cứ việc tự do nhìn vào ngực trần con gái không bị coi là vi phạm gì. Đám con gái thấy thế cho là bình thường, còn ngầm sung sướng có người để mắt tới. Nhưng nơi bọn thợ săn nghỉ lại gần chỗ giấu quần áo của mấy cô gái họ Hoàng… Mấy cô bấm nhau, im lặng nép vào nghe ngóng, chờ bọn trai đi. Mấy tay thanh niên không biết, chuyện trò rửa ráy đến vàng vàng mặt trời. Chờ họ khuất, các cô mới bơi ra. Do ngâm quá lâu trong nước, cô Hồng bị chuột rút, không gượng được. Cô Liên đưa tay kéo Hồng lên, lại bị trượt, tuột theo xuống. Mấy cô còn lại, chạy toán loạn kêu cứu. Đêm ấy, họ Lục hoan hỉ săn được nai. Họ Hoàng đau đớn mất hai cô gái. Lửa đuốc sáng trên núi Trọc đến tàn đêm.

Thấy cái chết hai cô gái dòng họ mình, mấy hôm sau, trưởng họ Hoàng cho người mời trưởng họ Lục sang. Sau một hồi lời qua tiếng lại, chuyện này chuyện khác, lúc lặng lẽ, lúc ầm ĩ, trưởng họ Hoàng cầm dao chặt vào cột cái nhà mình. Bỏ lưỡi dao nằm giắt đó, Hoàng thanh Lâm quay ngoắt vào gian trong. Lục Lầm hậm hực bỏ về. Chiến tranh giữa hai dòng họ xảy ra. Người họ Hoàng bao vây không cho người họ Lục đi lại. Tất cả đường lớn ngõ nhỏ họ Hoàng trấn giữ. Hai ba thanh niên cởi trần, lăm lăm dao gậy đợi sẵn. Họ Lục yếu thế, đến điều đình. Hoàng Thanh Lâm buộc họ Lục không được lấy nước ăn nơi hai cô gái chết. Hàng năm, ngày mất phải nhớ cử người mang cỗ bàn đến cúng tận nhà hai cô. Nếu không thế, phải đem mấy tay thanh niên đi săn hôm ấy đến để họ Hoàng toàn quyền thu xếp… Cuối cùng, Lục Lầm miễn cưỡng phải theo điều kiện thứ nhất. Ông huy động bà con kiếm chỗ khác, chặn dòng lấy nước. Hàng năm. Trưởng họ cùng mấy thanh niên đưa hai mâm cỗ sang nhà hai cô. Việc này kéo dài được hàng chục năm. Luc Lầm chết rồi Hoàng Thanh Lâm cũng chết. Con cháu buộc theo lệ cũ, đều đều thi hành. Họ Hoàng coi đó là việc đương nhiên họ Lục phải tuân thủ. Họ Lục ôm mối hận, bằng mặt không bằng lòng, chờ đợi thời cơ. Ra ngõ, gặp người họ Hoàng, họ thường tránh mặt.

Người Kinh lên, ngăn cánh giữa hai họ. Ngày ngày làm mỏ, hết giờ về chỉ kịp ngủ để hôm sau lại leo tầng. Họ không rõ nguồn cơn, nguyên do. Lấy nước cả hai nguồn và phụ giúp cả hai dòng họ. Trong số đó có Kìm Cối. Ông già quê Lang Chánh, lang thang tụ bạ khắp nơi. Ở đâu cần đóng cối, ông làm. Cần sửa ông sửa. Ông tên là Kìm. Người ta cứ gọi Kìm Cối lâu dần thành tên. Khi bước sang tuổi bất nghi hoặc, ông mới trụ lại mỏ. Ông đun xe, đẩy goòng tầng vì lúc đó lò ở mạn núi Trọc đã thu gọn, dành cho khai thác lộ thiên. Ông làm hùng hục, ít quan hệ chuyện trò sâu sắc với ai. Cho đến một hôm…

Đi làm về, thấy nước hết, ông xách thùng lững thững vào khe nước. Đến nơi, ông còn vung tay vung chân múa vài động tác cho giãn gân cốt. Mới được vài đường, đá bắt đầu lở, lăn xuống. Một con rắn xanh lè vọt lên, bổ vào ông. Khốn nạn rồi. Ông ngồi xuống, hai tay bóp chặt cổ chân. Rắn cắn không đau nhưng chết, rết cắn không chết nhưng đau. Đó là lời của bọn mù giở, tào lao khuyếch khoác. Chân sưng lên ào ào rồi nhức buốt. Một tay nắm chặt. Một tay và răng xé vải ống quần, buộc lại rồi nằm xuống. Đau không chịu nổi nữa, ông mê man giẫy giụa. Lục Xì đi xem nước qua, bắt gặp, cõng ông về. Bố Lục Xì chính là con Lục Lầm, giã hạt mào gà, củ sả cho nát hoà với nước vắt từ đọt tre non nướng. Đổ nước ấy vào mồm, bã đắp chỗ rắn cắn. Vật vã suốt ba ngày, Kìm Cối tỉnh lại. Lục Xì nấu cháo loãng bằng thứ gỗ màn sủi lấy từ rừng về, cho ăn. Gĩa lấy nước lá bồ cu vẽ cho uống. Ngày thứ năm, Kìm Cối mới nhúc nhắc được. Tối khuya hôm ấy, ông mời bố con Lục Xì vào:

- Chú được bác và anh cứu sống. Ơn này trả một đời không hết nhưng khả năng đến đâu phải trả đến đấy, không chỉ nói mồm. Chú biết họ Lục nhà ta bị họ Hoàng chèn ép. Sao không giật lại. Chú có thể rửa được nhục cho bác và anh, cho họ Lục.

Bố Lục Xì ý tứ, bước ra ngoài nhìn trước nhìn sau một lúc rồi khép gài cửa lại. Hạ ngọn đèn chai móc trên cột, đặt xuống bàn, ông nói khẽ: - Phải từ từ đã. Chú nghĩ có thắng được không? Bằng cách nào?

- Tôi là người từng trong nam ngoài bắc, lên thác xuống gềnh, vất vả nhiều bề - Kìm Cối thay đổi cách xưng hô - Gìơ về, nước khe chè núi lẽ ra phải mũ ni che tai nhưng gặp điều bất bình rồi lại chịu ơn nên đành liều thêm một phen. Sao bác với anh không ân đền oán trả. Tôi sẽ cố gắng phụ giúp.

Kìm Cối không làm than nữa, dạy võ cho tráng đinh họ Lục. Năm sau, đến ngày giỗ không thấy động tĩnh, Hoàng Thanh Toàn cho con là Hoàng Thanh Thào sang nhắc khéo. Lục Thảm giả ốm. Lục Xì thay mặt cha hứa hẹn vu vơ. Hoàng Thanh Thào bỏ về. Một tuần sau, con cháu họ Hoàng ầm ầm gậy gộc gây sự. Lục Thảm nhũn nhặn:

- Ông ạ! Việc này chúng tôi sẽ bàn bạc lại. Nếu sai, bố con tôi mang roi đến nhà ông nhờ ông dạy bảo. Nộp vạ bao nhiêu chúng tôi xin nộp không để thiếu một trinh. Mấy hôm vừa rồi ốm không dậy được, làm phiền các ông quá.

Mấy hôm sau nữa, ngỏng cổ chờ chẳng thấy ai sang, Hoàng Thanh Toàn ra vào hậm hực thì nghe báo họ Lục đến hồ tắm giặt, cười hô hố rồi gánh nước về. Ban đầu, mấy tay họ Hoàng còn nghĩ người Kinh sau nhìn rõ mặt mới chạy về báo cho Hoàng Thanh Thào biết. Sự thể thế là quá đáng rồi. Bố con Hoàng Thanh Toàn mời bà con anh em trong họ tới. Khấn vái tổ tông xong, ông trưởng tộc tường trình mọi việc từ lúc họ Lục không theo khuôn phép xưa, mang cỗ đến nhà cô Liên, cô Hồng. Mọi người được mời rượu, hăng hái phản ứng sôi sục. Có đứa gồng căng bắp tay như thép thỏi. Có đứa ưỡn ngực, hét dậy lên. Một vài người thấp giọng thầm thào.

Sáng ấy, đông đảo trai tráng họ Hoàng dàn mác dựa, gậy đòn tiến vào. Những tiếng “Tả! Tả!” vang rền từng chặp. Họ Lục huy động lực lượng đứng chặn ngay đầu ngõ. Xô xát xảy ra. Máu me tung toé. Gậy gộc gãy, gạch ngói vỡ quăng la liệt đường ngõ. Trận quyết chiến diễn ra trong vòng hai giờ. Họ Hoàng kéo về. Mỗi bên đều bị thương trên chục người. May chưa ai chết. Tầng mỏ lúc ấy chỉ toàn người Kinh đi làm. Hai họ hằm hè giữ miếng nhau, chuẩn bị cho trận “ Tả! Tả!” sắp tới.

Trận thứ hai diễn ra sau đó non một tháng. Một trận đánh dữ dội. Nhà cháy, người chết. Cả hai họ đều tổn thất nặng. Hoàng Thanh Thào ăn lưỡi đao, gãy cổ mà chết. Trận đánh ác liệt độc nhất vô nhị. Người gãy gối tối mặt, người bò lê bò càng, người vỡ đầu xẻ tai, hộc máu mồm dồn máu mũi. Người bị bắt, bị trói như trói lợn. Họ Hoàng phải rút lực lượng sau một ngày đánh như táo đổ mặt mâm, thừa sống thiếu chết. Kìm Cối chân đá mệng thét, đánh như đánh dê tế thần, đánh không cho ngáp, đánh áp mặt tiền, đánh liền mặt hậu. Họ Lục hăng hái, đánh liên hồi kỳ trận, kéo anh em vây những người họ Hoàng chậm chân. Thấy khí thế ngùn ngụt, Kìm Cối cũng hoảng, nói với Lục Thảm:

- Rút về thôi. Giặc cùng chớ đuổi, bác ạ!

Là dân ô hợp, bị kich động rất khó kìm chế. Phải hét hò mãi mới dồn được mọi người về.


Mười ngày sau, khói hương còn nồng nàn trên bàn thờ Hoàng Thanh Thào, Hoàng thanh Toàn đã thấy Lục Thảm đưa tốp người sang. Sai Lục Xì thắp hương vái vong linh người vừa mất, Lục Thảm ôn tồn:

- Trước hết, tôi xin tạ lỗi với ông, với bà con anh em họ Hoàng về những

tai ương tang tóc vừa qua. Sau nữa muốn được cùng bàn bạc, ân đền oán trả cho minh bạch. Sống với nhau về lâu về dài. Xét cho cùng, việc trước xảy ra không có lỗi của bà con anh em chúng tôi. Kẻ mạnh thường lấy thịt đè người. Vì thế, chúng tôi phải trả không cho họ Hoàng tính ra không phải ít, lại chịu đựng bao nhiêu điều ong tiếng ve, tiếng chì tiếng bấc.

Hoàng Thanh Toàn vừa đau khổ vật vã vừa buồn thương cho con và dòng họ mình nên đi đứng phải có người dìu. Con hổ đang đắc thế vờn con trâu già bằng những cái vuốt sắc. Cái vuốt ấy chưa cần thiết phải giơ ra. Ông thừa biết Lục Thảm, Lục Xì sang chả mấy tốt đẹp gì. Mặc người nhà rót nước mời khách, ông ngồi tựa trong chiếc ghế lớn, lặng im nghe.

- Hôm nay chúng tôi đến đây. Oán thù nên cởi, không nên thắt. Dù sao, sự việc cũng xảy ra rồi. Các ông tổn thất. Chúng tôi cũng vậy. Mọi việc đã qua cho qua nhưng oan có đầu nợ có chủ để người mất mát mặt, người còn sống ấm lòng. Chúng tôi sẽ có mâm cơm cúng cậu cả. Họ Hoàng phải trả lại họ Lục tôi tính ra hai mươi sáu năm bằng năm mươi hai mâm cỗ. Chúng tôi sẽ thu dọn chỗ chờ đợi. Các ông hẹn ngày mang đến. Khấn khứa xong, chúng ta cùng thụ hưởng, Các ông đưa mâm bát về. Ông thấy thế nào?

Cứ nỉ non rào dỡ thả bắt như thế, Lục Thảm khiến Hoàng Thanh Toàn vào thế ẩn khúc cầu toàn. Hoàng Thanh Toàn giận sôi sùng sục nhưng kinh nghiệm gần hai chục năm làm trưởng tộc kìm nén ông. Bình thản mời bọn Lục Thảm về, ông sẽ báo sự việc cho họ hàng biết rồi cho người nhắn lại.


Quãng đường qua lại giữa hai dòng họ ngày một rộng ra. Dịch tả dồn dập. Người chết lạnh cả xóm giềng. Lối đi chết cỏ, hết cả rậm rạp um tùm. Giục giã dồn ép mãi, Họ Hoàng mới thống nhất hứa ngày cuối tháng năm, cách nguyệt tận bốn ngày, sẽ hoàn tất mọi điều vì công việc chuẩn bị phải có thời gian và khổ công.

Lục Thảm thừa hiểu Hoàng Thanh Toàn nói thế chứ không ai chịu nhục nhã như thế. Thà thiếu thuế vua hơn thua lệ làng. Ăn mày mọi chốn mọi nơi thì xong chứ không ai mong ăn mày làng xã. Yếu phải chịu nước lép chứ ai dễ dàng chấp nhận tất cả mọi điều xỉ vả bầm dập. Chắc bọn họ có mưu mô sách lược gì đây. Kìm Cối đưa người đi nghe ngóng cặn kẽ nhưng bặt vô âm tín.

Họ ở cách nhau, có thù truyền đời nên không biết cặn kẽ nhà từng người khác họ. Dân bận làm ăn, thật thà chân chỉ, không cần biết gì, hiểu gì về chính quyền. Suốt đời họ chỉ biết, chỉ muốn làm lụng yên ả kiếm ăn thôi. Trưởng tộc là người có vai vế, uy tín do dòng tộc, do giàu có hơn. Oai quyền họ lớn, có ảnh hưởng rất mạnh với mọi nhà, mọi người. Những trưởng tộc có thế lực, tài sản dồi dào còn được mọi người tin tưởng. Mất trâu, mất lợn, lạc gà, đến báo trưởng họ, nhờ giải quyết, lợn ốm gà rù đến nhờ giải quyết, vợ chồng lục đục, cắn cấu nhau cũng đến nhờ. Vợ đẻ khó, họ đến báo. Tất tần tật.

Lục Xì nghe Kìm Cối cử người đi thăm dò chỉ có hạn. Dịp tết Đoan ngọ mồng năm tháng năm âm lịch, mọi người nô nức sửa soạn nhưng họ nào vẫn theo thói quen họ ấy, không giao tiếp với nhau. Họ Lục, họ Hoàng chuẩn bị làm bánh cúng Khuất Nguyên. Ông là nhà thơ lớn, là vị trung thần của Sở Hoài Vương. Do thẳng thắn khuyên can vua không được, ông uất ức gieo mình xuống sông Mịch La tự tận. Thương xót người trung nghĩa, dân Trung Hoa lại làm bánh, quấn những sợi chỉ nhiều màu bên ngoài cho cá sợ không dám đớp, ném xuống sông vào dịp mồng năm tháng năm là ngày ông mất để tưởng nhớ. Núi Trọc không có sông thì cúng trong họ, trong nhà chỉ cần tấm lòng thành là được. Người Kinh chả biết Khuất Nguyên, Khuất Lẻ là ai. Mồng năm tháng năm vào giai đoạn chuyển mùa, chuyển tiết, dịch bệnh dễ phát sinh, họ đua nhau lấy lá ngải cứu phơi khô treo trên mái bếp để trừ tà, theo nhau xin đào, xin mận…sáng sớm cho con cháu ăn, gọi là tết giết sâu bọ rồi rủ nhau vào rừng lấy lá thuốc về phơi khô nấu làm nước uống quanh năm trừ trùng dịch. Con cháu họ Hoàng cũng chặt từng vác lá, chất chật sân. Khi thấy vắng vẻ bất thường, Lục Xì đưa người vào mới biết toàn bộ họ Hoàng đã biệt xứ rồi. Hơn sáu chục gia đình bỏ đi. Bao nhiêu việc phải chuẩn bị, bao nhiêu cuộc bàn bạc chả ai biết. Cách đó ba hôm, Hoàng Thanh Toàn còn cởi trần, đập tôn xủng xoảng. Chắc ông rời nhà sau cùng. Những bó lá thuốc chưa héo hết. Ba căn nhà lớn nhất của họ Hoàng chỉ có Lục Xì và Kìm Cối biết. Choán giữa nền nhà Hoàng Thanh Toàn, một mô đất mới bên trên có bát cơm và nắm chân hương. Trong căn thứ hai, bức tranh to treo giữa nhà, có hình Lục Thảm, Lục Xì kéo theo dòng người lờ mờ quỳ mọp xuống trước ban thờ viết chữ Hoàng khá đẹp. Bộ bạch ở trên chữ vương ở dưới, nét thoáng, khoẻ và đài các. Nhà thứ ba, phía núi Con, một chậu còn dính tiết đen xì và con dao chặt sâu vào cột gỗ. Những vết tiết đọng dưới chân cột. Lục Xì kéo rấp lại, không cho ai vào. Những căn nhà khác bừa bộn cát đá, chẳng còn thứ gì dùng được. Lục Xì đứng xem, khâm phục ra miệng, nói với Kìm Cối:

- Lạ! Chuyển cả dòng họ đi không ai biết. Tài thật! Tài thật!

Từ bấy giờ, không ai gặp người Hoa họ Hoàng về núi Trọc nữa. Những căn nhà túp lều ấy, qua vài mùa mưa nắng mục nát. Cỏ le rậm như rừng. Ngôi nhà lớn ở phía núi Con, cáo bầy vào ở. Khi đi ngang qua, người ta bắt gặp. Chúng nhởn nhơ đùa rỡn như chẳng thấy người. Ngôi nhà có treo tờ tranh sau khi sửa chữa, Lục Xì cho Kìm Cối vào ở. Muốn lấy vợ, chọn trong đám người Hoa họ Lục mà lấy. Được nửa năm, vào một đêm lạnh, Lục Thảm, Lục Xì bị đâm giữa ngực. Kìm Cối bị cắt đầu. Một dòng họ còn đang tưng bừng rộn rã như rắn mất đầu, như cờ mất xe. Bàng hoàng kinh sợ, họ sống lui cui, câm lặng, ăn bữa trưa chừa bữa tối, đầu mâm đĩa muối cuối mâm đĩa rau, xa cánh dần những người thân thuộc cũ. Ông Ca - một người Kinh sống lâu năm trên núi Trọc - được cử ra lo toan điều hành mọi việc. Ông thì làm được gì mà mà điều hành, điều tỏi. Aó có tràng làng có lí. Ông có lán chứa phu. Giàu có một chút, nói có người nghe, đe có kẻ sợ, ông được cử ra thay mặt dân phố, để làm vì.

Sỏi có vợ ở quê. Anh ra mỏ, định làm dăm bảy năm, dành tiền đem về quê tậu ruộng tậu đất. Vợ chồng đầu gối tay ấp hai năm chưa có con. Anh nhắn người về mấy lượt, bảo chị ra ngoài này. Vỡ mộng để giành tiền, Sỏi ít chí thú, làm ăn được sao hay vậy. Nhấm nhẳng sao đó, vợ anh không ra kể cả khi Đồng lấy Yên. Mấy năm rồi, chồng nam vợ bắc. Của cải kiếm được bằng mồ hôi nước mắt chui tuột vào xóc đĩa. Lấy phải con vợ lúc thế này khi thế khác, chồng rẫy thì lơ chơ chồng chờ thì lổng chổng. Nghĩ đến, bực cả mình. Những đêm tiền nhẵn túi, nằm khàn ở nhà. Chai rượu nhạt dốc ngược. Sao mà chán thế. Nhiều lúc, Sỏi định bỏ, lấy vợ khác.


* Thóng nhể: ăn cắp vặt (tiếng pạc và)


... CÒN TIẾP ...



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 13.12.2016.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004