Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới






Gương Đồng Xuất Hiện




N ăm ấy, lần mò trên cánh đồng làng Cự, Nam mua được một vật quý, đó là cái gương đồng nhỏ. Một nông dân đào mương, cuốc phải nó đã bán cho anh. Anh lấy thước đo đường kính, được biết gương đồng có D= 85mm,, nặng khoảng 75gram. chỉ tiếc nó đã bị sứt một miếng nhỏ.

Chưa biết tính chất của quý vật, Nam gói ghém cẩn thận, mang đến nhà một chuyện gia khảo cổ.. Đó là một học giả có tiếng trong ngành văn hóa. Nay cụ đã cao tuổi, nhưng tính tình hòa nhã, sẵn sàng mang cái hiểu biết của mình để phổ biến với xã hội

- Kính chào cụ ạ

- Nam đấy à, cụ nhận ra anh, vui vẻ hỏi tiếp – Có việc gì mà anh đến với tôi thế

- Thưa cụ, cháu có một quý vật, hôm nay mang đến xin ý kiến của cụ

- Nó là cái gì mà anh cẩn thận thế ?

- Thưa cụ, đó là một cái gương đồng, do một ông cuốc ruộng vấp nó , ông ta nhặt lên, bán lại cho cháu. Cháu không hiểu về khảo cổ, nên mang đến đây xin ý kiến cụ

Chỉ qua mấy thông tin như vậy, mà cụ Trần đã quay về phía Nam vui vẻ nói :

- Đưa đây ta xem nào

Khác với vẻ già nua hàng ngày, ông lão cầm chiếc gương lên, lấy kính lúp săm soi mặt trước mặt sau rồi cất tiếng :

- Đây là một cổ vật đời Hán, có tên là “đồng cảnh” , ta gọi là gương đồng, nhưng hiện vật này khác với gương đồng bản điạ bởi chất liệu chế tạo và hoa văn khác biệt . Do hợp chất chế tạo bao gồm cả kim loại quý vàng, bạc, nên hợp kim này càng để lâu, càng lên nước đen bóng. Đối với người chơi cổ ngoạn ,lớp đen bóng đó được gọi là hắc tắc cổ, phương Tây gọi là plaque noire.

Cụ giơ chiếc gương lên nói tiếp :

- Đời Hán, chưa có kỹ thuật chế tác mặt gương như hiện nay, nên người thợ phải gia công mặt gương đồng cho thật nhẵn, các tiểu thư khuê các cầm “đồng cảnh” trong tay, ngắm dung nhan mình, tưởng tượng dung nhan người yêu cùng lồng bóng, hình ảnh hạnh phúc ấy thật là quý giá.

Nghe tới đây, anh láu táu cướp lời cụ :

- Cháu có đọc câu chuyện “Gương vỡ lại lành” phải chăng người xưa chặt gương khi chia tay nhau vì hoạn nạn là chặt chiếc gương đồng này .

Ông cụ cười to :

- Đúng là chặt chiếc đồng cảnh này, có ai chặt gương thủy tinh để mong được “Gương vỡ lại lành” đâu, vì gương thủy tinh khi vỡ nó tan thành nhiều mảnh, không sao chắp lại được, cậu ạ

Ngắm bề mặt chiếc gương, thấy nổi lên những chấm sáng, lấp lánh ánh kim. Nam hỏi tiếp :

- Cụ chỉ dẫn cho cháu biết về những ánh kim này

- À, đó là do cái gương này bị chôn ở dưới đất lâu ngày, nó đang trong quá trình oxyt hóa ,nên bị sùi lên bề mặt những ôxyt kim loại đã cấu tạo thành gương đồng này. Người chơi cổ ngoạn gọi đó là “Thủy ngân tẩm” Nhà Hán tồn tại 300 năm trước Công nguyên,, tính đến nay cổ vật này đã có hơn 1200 năm tuổi. Hiện vật này quý và hiếm, đối với người đi sưu tập văn hóa cổ châu Á nói chung, và của đời Hán nói riêng . Trong quá trình chôn vùi, chiếc gương đã bị vỡ, khi thu nhặt lại thiếu một mảnh nhỏ, đó là điều đáng tiếc, song không thể chê trách được vì tuổi cổ vật này đã qua 1200 năm chôn vùi trong lòng đất Đắt giá lắm đó.

Từ ngày ấy, chiếc gương đồng luôn trong túi, Nam mang theo nó đi chơi, đi làm việc các nơi chủ yếu để khoe với bạn mình đang có trong tay một quý vật

Năm ấy, do sự cấm vận của Mỹ nên ngoài Bắc thiếu vật tư trầm trọng, nhất là các cỡ giây ê may mà xí nghiệp Hải Hà không có giây ê may thì phải nghỉ việc đến một nửa Với trách nhiệm trưởng phòng Vât tư, mấy lần Nam lên Vụ Kế Hoạch của Bộ xin cấp hàng nhưng đều không có. Các anh cho biết trong Thành phố Hồ Chí Minh có xí nghiệp chuyên gia công cán kéo đồng đỏ thành giây ê may, nếu đơn vị có đồng đỏ mang vào thuê họ gia công, chắc là sẽ giải quyết được khó khăn về vật tư. Nam nắm lấy ý kiến đó, đề xuất xí nghiệp cho mang 2500 kg đồng đỏ vẫn tồn kho lâu nay vào Thành phố Hồ Chí Minh thuê Cán Kéo gia công thành các loại giây ê may. Lúc này đang có một công việc lớn đó là kiểm tra sản xuất và tài chính tại một phân xưởng ở phía Nam, lãnh đạo đang chọn người. Khi thấy Nam đề xuất với xí nghiệp cho mang đồng đỏ nguyên khối vào Thành phố Hồ Chí Minh thuê Xí nghiệp Cán Kéo gia công thành các cỡ giây theo yêu cầu sản xuất, tẩm sơn cách điện cẩn thận, thay cho các cỡ giây nhập ngoại. Ý kiến của Nam được Ban Giám Đốc đồng ý, giao anh kiêm nhiệm cả hai nhiệm vụ. Công việc được phép tự quyết . Thế là anh phải làm mọi việc để giải quyết một số khó khăn vật tư mà xí nghiệp đang mắc phải. Bây giờ kể lại, thì nhẹ nhàng, nhưng hồi đó có bao nhiêu nỗi lo, chỉ riêng mình Nam phải chịu Đường xa dậm thẳng, tiền công tác không có là bao, để tự bảo vệ cho mình anh lẳng lặng mang theo chiếc gương đồng với dự định nếu vào trong thành phố Hồ Chí Minh gập khó khăn kinh tế, sẽ cho nó tìm chủ mới, đỡ những khó khăn kinh tế gập phải.

Những năm đó, hệ thống giao thông của ta còn nhiều khó khăn , mỗi tỉnh lại đặt một trạm kiểm soát để kiểm tra hàng hóa, các cơ quan thuế vụ, quản lý thị trường mặc sức tác oai. Nếu đi đường sắt thì chạy chậm như bò, hay phải tăng bo, chỉ có dùng xe vận tải, ngày đi , đêm nghỉ mới thông suốt. Nhiều phương án đi Nam đã được vạch ra, nhưng đường bộ, đường sắt đều khó khăn, Nam nghĩ tới phương án thuê xe bên quân đội, nhờ chiếc biển đỏ mà đi qua các trạm kiểm soát.

Được lãnh đạo chấp thuận, Nam thuê xe bên Quân Đội ngày đi, đêm nghỉ, ba ngày sau vào tới Thành phố, nhờ bè bạn tìm cho một chỗ trọ tại nhà một y sĩ lưu dung . Ông ta nguyên là y sĩ của Viện Pasteur cũng đã cao tuổi, không di tản mà vẫn ở lại làm việc với chính quyền mới, ông có một quan niệm rõ ràng “mình làm chuyên môn, chứ có làm chính trị đâu mà ngại”.

Đến Sài Gòn, hàng ngày anh làm việc tại hai nơi trước hết là đưa đồng đỏ vào xí nghiệp Cán Kéo lo phần ký hợp đồng gia công giây ê mail. Sau rồi mới đến công tác kiểm tra sản xuất của Phân xưởng phía Nam, thành thử không có thời gian mà trò chuyện cùng ông chủ với gia đình

Có người khách lạ trong nhà, gia đình lúc đầu e ngại lắm , các cháu ăn nói khép nép, sau thấy chú Nam tính tình cũng khoáng đạt, vui vẻ với gia đình, nên mọi người đều quý mến, gọi là Chú Nam Mà cũng thật không ngờ, người quý mến chú Nam lại là Út Xuân, con gái ông chủ nhà. Đó là một cô gái 100% Sài Gòn, Nói và cười đều mang nét một cô gái Sài Gòn có học, Út kể :

- Vào độ giải phóng, Út đang học lớp cuối trong chương trình văn học, khi giải phóng ào đến, các học sinh sinh viên đều lao vào công việc cải tạo Sài Gòn. Ngày đó vui lắm, chú à, Tụi cháu nhận mọi việc mà Đoàn Thanh Niên khu phố giao cho, Mười năm sau, thành phố vẫn chưa bỏ chế độ kinh tế bao cấp, lại bị phong tỏa kinh tế , nên kinh tế Sài Gòn, gập nhiều bế tắc . Gần ba chục năm chiến đấu, kinh nghiệm giữ nước có thừa, nhưng làm thế nào để dân được no ấm, hàng hóa được thông thương, các cấp còn tranh cãi hoài hoài. Ut hỏi chú Nam

- Cho Út hỏi nhé , ở ngoài Bắc có khó khăn như trong ni không ?

Câu hỏi của Út làm Nam thấy khó trả lời. Đúng là anh đã từng lặng lẽ ngắm.những quầy hàng Bách Hóa tổng hợp không có hàng bán, mấy cô mậu dịch viên đi ra đi vào trong cửa hàng, phảy bụi một cách chiếu lệ, không trả lời khách lấy một câu về tình hình hàng hóa có hay không có

Xí nghiệp Hải Hà đóng gần khu công nghiệp cao su, chiều chiều đứng bên này đường nhìn sang bên kia thấy một số công nhân khoác chiếc lốp trên vai, tới cổng chìa tờ giấy biên nhận cho tổ bảo vệ rồi đi ra khỏi cửa. Họ là những công nhân đến ngày lĩnh lương, nhưng tiền mặt không có, nhà máy trả sản phẩm thay lương. Còn việc tiêu thụ ra sao thì công nhân tự lo liệu, nhưng không phải lo cho họ đâu. Chỉ cần các bác công nhân đó ra đến mặt đường, đã có nhiều cô lao vào hỏi mua. Xã hội gọi các cô mua hàng đó là “con phe” Út ạ. Họ mua hàng của các công nhân rồi bán lại cho người có xe đạp nhưng lốp xe đã quá cũ, không được phân phối hàng thay thế, ngày ngày vẫn phải đi, đành dùng cách quấn những vòng giây chung quanh lốp xe, anh em chua chát đùa nhau là đi xe “cố vấn” !

-Trời, ngoài Bắc, hậu phương lớn mà như thế a ! Út kêu lên. Chú Nam cũng chột dạ, nhắc Út “ .Khẽ thôi, làm cái gì mà la to vậy” Út bẽn lẽn giơ hai tay xoa mắt, nói với chú Nam : Út cứ tưởng ở ngoài đàng hoàng giàu có lắm, nên đã có sức đánh bại hai đế quốc xâm lược sao lại nghèo thế hả chú ?

-Khi đối phó với cuộc chiến tranh xâm lược, để bảo vệ Tổ Quốc, Thống nhất đất nước, Bác Hồ đã ra lời kêu gọi : Toàn dân quyết chiến,quyết thắng giặc Mỹ xâm lược, dù Hà Nội, Hải phòng, và các thành phố khác có bị máy bay Mỹ đánh phá nặng nề, chúng ta quyết không sợ. Không có gì quý hơn Độc lập Tự do, đén ngày chiến thắng, chúng ta sẽ xây dựng lại đất nước ta to đẹp hơn, đàng hoàng hơn. Nhân dân miền Bắc đã một lòng nghe theo, vất vả khó khăn đến mấy cũng chịu, nên bây giờ ảnh hưởng của chiến tranh kéo dài, cuộc sống vất vả , Út à

Út nghe nói, đôi mắt trong veo cứ đăm đắm nhìn, cô ta đang suy nghĩ về những lời nói của cán bộ thanh niên khu phố. Họ cũng nói như chú Nam, nhưng sao mà không cuốn hút

Có một hôm, sau khi đi làm về, Nam có việc lên quận 1 gập anh bạn, Nghe vậy Út lẹ miệng nói theo:

-Chú Nam ơi, đường đi không quen biết, dễ lạc lắm đó. Để Út chỉ cho.

Biết là Út đã muốn đi chơi riêng với mình, nhưng để lấy lòng ông Y sĩ, anh phải chờ ông về, công khai xin phép gia đình cho Út đi chơi cùng với anh.

Hai người đi trong thành phố. Sài Gòn cái thuở 1982 tiếng xe lambretta chạy qua chạy lại ồn ã. Út giơ tay lên vẫy, chiếc xe vội ngoặt táp vô ven đường, rồi thắng đột ngột đón khách lên.

Để tới nhà anh bạn, Nam vẫy một cháu bé hỏi thăm đường, sau khi nghe cháu trả lời, anh vội quay đi Chợt có tiếng gọi theo :

- Chú ơi, chú còn quên một điều

Nam giật mình quay lại hỏi nó :

-Chú quên điều chi ?

- Dạ, chú quên cám ơn con

Anh xấu hổ trước câu nói của em bé, Út đỡ lời :

- Bé à, cho chị xin lỗi thay chú nhé. Chú ấy chưa quen sinh hoạt trong ta, bé ạ. Nói xong, Út để bàn tay phải lên ngực trái, cúi đầu nói với bé “ Cảm ơn con đã chỉ đường, nghen”

Thằng bé cúi đầu chào trả hai người rồi rẽ sang ngả khác. Út nói với anh “chú đừng trách nó. Đó là nếp giáo dục mà từ khi Út đi học đã có đấy” .

Nam lặng lẽ đi bên Út, mỗi bước đi lại nghĩ đến điều gì đã hình thành nên tư cách của em bé đó . Cùng là dạy các cháu những điều về đạo đức, ngày xưa đã dạy điều gì khác biệt mà anh không được biết, cứ tưởng mình hơn người, ai ngờ gập đứa trẻ địa phương mà cũng không giao tiếp đúng phép .

Hôm sau, Út lấy quyển Quốc văn cũ đưa Nam đọc. Chỉ qua mấy trang đầu, anh đã thấy chúng ta dạy trẻ khác quá. Ở đây, người ta đưa vào sách những câu chuyện phổ thông, để các em biết cách sống . Bài học đơn giản lắm nhưng mà càng nghĩ càng thấm :

Nhà Tý có khách. Tý lễ phép chào khách, Tý giúp ba pha trà tiếp khách. Xong việc, Tý vào buồng học bài,

(Ghi nhớ: Tý không quấy khi ba đang tiếp khách)

Thì ra cái nếp nghĩ khác nhau đã tạo nên hai nền giáo dục khác nhau



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 11.12.2016.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004