Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




NHỮNG NGƯỜI ĐỒNG HƯƠNG





Lời người kể chuyện:


Họ, là những con người đồng hương với nhau, ở một làng đạo lâu đời, vùng Đồng Bằng Sông Hồng giáp ranh với Thăng Long – Hà Nội. Trong những con người này, có năm người chung một tổ. Hai người thuộc dòng nội, còn ba người kia dòng ngoại. Ở đây, chuyện chỉ kể đến ba người, còn hai người kia chỉ thoáng hiện rồi chìm đi. Nhưng lại để dấu ấn đậm bản sắc của tổ tiên họ. Theo lời các cụ kể lại, có một thầy địa lý không biết ở đâu, một lần đi qua làng, khi đến khu nghĩa trang của làng, đã dừng chân bên một ngôi mộ, nói rằng mộ này sẽ phát, ứng vào dòng ngoại. Mộ này chính là tổ ngoại của Cẩn, một trong những kẻ đồng hương. Các nhân vật trong truyện được thay đổi và nếu có trùng tên với ai thì đó là sự ngẫu nhiên.



HAI.


.............................................



BA.



V iệc ông Minh và ông Đồng, hồi tục lấy vợ, nó làm mất mát nhiều về niềm hy vọng, một quê hương phát triển về văn hóa, một xứ đạo thăng tiến về đạo đức và xã hội. Mất mát này ảnh hưởng nhiều đến cả làng, kéo dài mãi cho đến những năm 80 thế kỷ cũ, mấy thập niên mờ mịt trong chủ nghĩa, trong đời sống tập thể hóa và nghèo khổ. Trong khi đó, tại miền đất mới, ông Minh tham chính và trong vị trí chiến lược, ông đã là một thành viên của một bộ phận đầu não trong guồng máy chính trị, nhiều quyền lực. Thật sự Cẩn tự hào về người anh trong họ này, cho dù trước mắt một số người thuộc thành phần trí thức đứng bên ngoài, không nhìn hết được những vấn đề của đất nước đang ở giữa những thách đố, những thế lực thù địch với sức mạnh ngàn cân, từ trong nước cũng như từ một “đồng minh”, cho nên ông không tránh khỏi sự chỉ trích. Bây giờ thì người ta hiểu rằng, đấy là những biểu hiện sai lầm khi người ta không đánh giá được sự nguy hiểm của các lực lượng bên phía xã hội, nên các thành phần trí thức cũng như một số đảng phái chính trị của miền Nam, và một vài ông tướng ông tá vô tích sự, tham vọng quyền lực và danh vọng, ngửa bàn tay nhơ bẩn cầm tiền của kẻ gọi là “đồng minh” đang muốn nhận chìm đất nước mình vì quyền lợi của đất nước họ, đã làm cho miền Nam rối mù lên và yếu đi. Họ phạm lỗi lầm là chia rẽ, thù địch và muốn xóa bỏ người cầm quyền lúc ấy. Họ đặt quyền lợi của mình và phe phái mình lên trên sử mệnh của dân tộc. Tuy nhiên, về vấn đề đạo đức lãnh đạo, người ta không bắt bẻ ông Minh và cấp trên trực tiếp của ông được điều gì về sự trong sạch của họ từ buổi chấp chính đến lúc phải gạt nước mắt ra đi, sống quãng đời lưu vong còn lại ngắn ngủi. Cẩn nói lên điều này, hoàn toàn không để bênh vực người anh họ mình, song cuộc đời liêm chính của ông đã được chứng minh từ bản thân đến gia đình và họ tộc. Cẩn bước vào tòa soạn một tờ nhật báo thời hoàng kim của ông, không do ông gửi gắm. Chỉ một lần duy nhất là ông gửi Cẩn cho ông chủ tàu, Cẩn nhớ tên con tàu này là Như Long, chạy đường sông Tân An đi Mộc Hóa. Cái thời xa xưa ấy, miền Nam không chỉ có một mình ông Minh lương thiện và nhân cách của một trí thức dấn thân, miền Nam còn có cả những thế hệ trên dưới Cẩn nhiều năm, mặc dù vướng mắc vào chiến tranh, họ đã sống một cuộc sống nhân bản, lấy cái tâm làm đầu, xây dựng một miền Nam nhân nghĩa, phồn vinh và hùng mạnh. Ông Minh bỏ nhà tu vì thấy đời tu không cho phép ông tham chính, và dành hết thời giờ của mình cho công việc ông chuyên trách. Ông cũng hiểu được những hệ lụy, những chống đối, những thất bại và cay đắng khi ông chọn chính trường cho sinh mệnh của mình thay vì môi trường tôn giáo, đi đâu cũng được người ta tôn kính. Cẩn cũng hiểu rằng tại sao lại có chủng sinh, thế hệ của ông Minh, từ chối đi gặp Chúa để cầu nguyện, xin ơn soi sáng cho một việc làm không thuộc phạm vi tôn giáo, để đi biểu tình chống Pháp, cũng chính vì cái tình tự dân tộc, tiếng gọi của lương tri. Con đường này, ngày ấy, không chỉ có vài chủng sinh chọn, mà hầu như cả những thành phần khác trong xã hội cũng nhận ra việc giành độc lập cho dân tộc là điều tất yếu, một sự chọn lựa của tình thế. Chỉ tiếc rằng, các chủng sinh ấy đã không sớm nhận ra được sự thật của con đường mà họ đã chọn, một con đường không dẫn đến nhà thờ ! Còn với các thành phần xã hội khác, lúc này, sau gấn 100 năm, không thiếu những lời tự thú, những sám hối, ăn năn. Cẩn bất chợt nhớ đến nhân vật Gióp trong Kinh thánh Cựu ước. Việt Nam, gần 100 năm nay đã trầm luân trong bể khổ, không lẽ cứ mãi mãi đi trong tăm tối và thần linh của Việt tộc đã theo dòng người bỏ xứ đi xa và dựng lại nước ở một hoang đảo, bỏ lại miền đất Tổ hình cong chữ S, từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau !


Sau ngày vào Sài-Gòn, Cẩn cũng đã gặp lại ông thầy giáo Đồng ở Đà Nẵng khi anh đi công vụ ra ngoài ấy, sau những biến cố rung chuyển, cơ hồ như một cơn sóng thần có sức mạnh xô ngã giải đất miền Nam Việt Nam xuống Biển Đông. Đó là những xáo trộn ở miền Trung năm 1966, kéo theo cả một đơn vị quân đội hùng hậu do một ông tướng cầm đầu, toan chia cắt miền Nam làm hai. Hai năm sau, trận tổng tấn công dịp Tết Mậu Thân 1968, nổ ra. Lúc đó vợ chồng ông cư ngụ tại thành phố Đà Nẵng, đường Thành Thái và đã có bốn con, nếp tẻ đủ cả. Vì sau khi rời xứ đạo ở quê Cẩn, ông Đồng đã gia nhập Quân đội Quốc gia, nên ông đã đưa gia đình vào ngay Đà Nẵng theo đơn vị của ông. Hôm Cẩn đến thăm ông bà Đồng thì bà đã dẫn Cẩn sang Tiểu Chủng viện Thánh Gioan bên Mỹ Khê thăm hai cậu con trai mình đang học ở đấy. Bà bảo các con gọi Cẩn bằng chú, vì là em tinh thần hay linh tông với chồng bà.


Trong hai người con này, Chúa đã chọn người em, tên là Trần Yên Bình, sinh năm 1955 tại Quy Nhơn, còn người anh là Trần An Hòa sinh năm 1954 tại Hà Nội. Đại Chủng sinh Phê-rô Trần Yên Bình thụ phong Linh mục tại Nhà thờ Chính tòa Đà Nẵng vào ngày lễ Truyền Tin, 25-3-1998, sau 31 năm thử thách. Đã có thời, tu sĩ Bình thường lui tới với các trẻ đường phố, kể chuyện đạo, chuyện đời cho chúng nghe, dạy chúng học chữ, mua những truyện ngụ ngôn hay cổ tích phát cho chúng, có ngày tu sĩ Bình còn rủ các bạn nhỏ cùng ăn một bữa ăn tối, rồi đi với chúng về nơi trú ban đêm. Có ngày, chỗ trú đêm là gầm cầu, có ngày là một góc chợ, có ngày lại là dưới ngôi chùa trong thành phố hay một góc công viên. Do đó, Cẩn được biết, trong ngày Yên Bình chịu chức Linh mục, có hơn mười em nhỏ sống bên lề đường của thành phố Đà Nẵng, mỗi em mua một bông hoa tươi thắm, đủ màu sắc, tượng trưng cho các nghề khác nhau của các em, như đánh giầy, bán báo dạo, bán vé số, bán kem hay giúp việc cho các tiểu thương tại các chợ trong thành phố, họ bảo gì thì làm việc ấy v.v…Rồi kết những bông hoa này thành một bó lớn trao tặng cho “Anh Ba Bình”, giữa lúc vị Giám mục Chính tòa Đà Nẵng và Giám mục Phụ tá giáo phận Ban Mê Thuột, cùng hơn 50 Linh mục thuộc các giáo phận Sài-Gòn, Xuân Lộc, Quy Nhơn, Huế, Đà Nẵng, sau thánh lễ truyền chức ngày hôm ấy, đang đi trong đoàn rước trở lại “Nhà vuông”, tức nhà mặc áo của các Linh mục.


Cũng trong ngày đó thì tại nhà Cẩn ở Sài-Gòn, người anh của Yên Bình là Trần An Hòa, đến thăm Cẩn. Họ chia sẻ với nhau trong hơn 2 giờ đồng hồ về hồng ân Thiên Chúa, về chính con người của Trần Yên Bình, đã được thử thách trong gian nan, về quyết tâm tận hiến cả cuộc đời mình của Yên Bình. Họ nói với nhau trong giao cảm và trong yêu thương, đến nỗi họ nhắc đến tên nhau một cách trìu mến, gần gũi một cách lạ lùng. Ngày 21-4-1998, tân Linh mục Yên Bình trở về giáo xứ Ngọc Lâm, thuộc giáo phận Xuân Lộc cử hành thánh lễ Tạ ơn. Trước lúc thánh lễ diễn ra, người dẫn chương trình đã giới thiệu đôi nét về cuộc đời tu trì của Yên Bình :


Năm 1975, lúc còn là chủng sinh, ngài được sai đi phục vụ tại một giáo xứ truyền giáo rộng mênh mông miền núi, đó là Hòa Ninh, Đà Nẵng. Năm sau, ngài được gọi về để tiếp tục học Triết học và Thần học tại Đại Chủng viện Hòa Bình, Phú Thượng, Đà Nẵng.

Trong suốt thời gian này, 1976-1981, ngài vừa tu học vừa cùng anh em lao động sản xuất, không ngại nương sâu rừng cao, cầy bừa cấy lúa trồng rau, lên non phá rẫy kiếm củi đốt than, một nắng hai sương, rạm mầu da thịt.

Năm 1982, ngài trôi dạt về xứ Ngọc Lâm, giáo phận Xuân Lộc. Ở đây, ngài làm đủ nghề để sinh sống, có thời phải dong duổi bán kem khắp thôn làng, đêm về thắp đèn đắp tượng. Hình tượng có lẽ ngài thích nhất vẫn là khuôn mặt Đức Ki-tô trên khổ giá, nơi mà Tình thương được bộc lộ hoàn toàn.

Vì thế, câu châm ngôn của ngài là : Chúng tôi rao giảng Đức Ki-tô chịu đóng đinh. (1Cr 1,23)


Trong bài giảng thánh lễ hôm đó, Linh mục Yên Bình đã diễn giải về câu châm ngôn này. Đại ý ngài nói rằng, làm linh mục trong thời đại này không phải là để được ăn sung mặc sướng hay để được người khác phục vụ mình, song là để đồng hành với những con người khốn cùng nhất…

Cẩn được gia đình mời lên Ngọc Lâm dự lễ, vì đây mới là nơi gia đình chứng kiến những niềm vui thật sự được bộc lộ một cách cụ thể và chân thật nhất. Trước đó mấy ngày, tân Linh mục Trần Yên Bình đã dâng lễ Tạ Ơn tại nhà thờ giáo xứ Hòa Hưng, quận 10 Sài-Gòn, nơi cư ngụ của cha mẹ và các em ngài sau khi rời Đà Nẵng. Còn thánh lễ trên Ngọc Lâm, Xuân Lộc, Ban tổ chức thánh lễ đã mời Cẩn đọc một bài thánh thư.


Trước ngày lễ mấy ngày, ông thầy Đồng và Cẩn đã lên giáo xứ Ngọc Lâm. Dịp này Cẩn thật sự được thấy tận mắt thành quả lao động bằng chân tay của Yên Bình tại đây, từ hơn mười năm về trước, sau ngày Chủng viện Đà Nẵng bị đóng cửa, các Chủng sinh trở về gia đình. Ai còn tiếp tục sống đời tu trì thì gia nhập một chủng viện nào đó đang được phép hoạt động. Chủng sinh Trần Yên Bình chọn giáo phận Xuân Lộc. Tuy nhiên, giáo phận Xuân Lộc còn nhiều chủng sinh vẫn nằm chờ để chịu chức Linh mục, mà Bình là một người của giáo phận Đà Nẵng, muốn là người thực thụ của Xuân Lộc thì anh phải chờ lâu hơn họ. Cho nên, khi giáo phận Đà Nẵng được phép phong chức cho những chủng sinh cũ của mình mà vẫn theo đuổi đường tu, thì Trần Yên Bình đã trở lại giáo phận Đà Nẵng, anh lập tức được lãnh chức Linh mục trong ngày 25-3-1998, mặc dù dịp này, cả giáo phận Đà Nẵng chỉ có một mình anh chịu chức Linh mục trong ngày đó. Còn Trần An Hòa thì vào Đại Chủng viện Thánh Giuse Sài-Gòn (Tp.HCM). Về Ngọc Lâm, chủng sinh Yên Bình đã chọn được một ngọn đồi nhỏ lặng lẽ giữa rừng cây, bên một dòng sông hiền hòa, có vài miếng đất mầu mỡ trồng trọt bên dưới chân đồi (gọi là Gò Mây). Trên đồi này, anh san bằng, dọn dẹp sỏi đá, cất một căn nhà nhỏ, sơ sài, không then cài không cửa khóa, mà chỉ là một tấm liếp che chắn để bớt sự trống trải mỗi khi anh cầu nguyện và tĩnh tâm. Dần dần, nền nhà này được mở rộng và cất thêm hai gian nhà nhỏ nữa, có sân, có đường đi vào nhà, có cây ăn trái. Mục đích mở rộng nhà như thế là để có chỗ dạy học cho những người trẻ đã học xong chương trình văn hóa cấp ba phổ thông mà có ý định tìm hiểu về đời tu.


Đây không phải là lần đầu trong đời anh được ngủ trong không gian u tịch như thế này, còn những lần trước, Cẩn đã từng ngủ nhiều đêm tại những khu rừng thuộc con đường sắt chạy qua, lúc anh là công nhân của ngành này, dọc dài từ ga Sài-Gòn ra tới ga Mường Mán ở Phan Thiết. Nhưng cũng có thể bảo đây là lần đầu Cẩn được sống trọn vẹn mấy ngày mấy đêm giữa một không gian tĩnh mịch với một ông thầy cũ tại trường làng của Cẩn. Mấy đêm này, anh cùng ông thầy Đồng thoải mái, thanh thản thức khuya, uống trà, cà phê và tâm sự buồn vui giữa tiếng chim rừng, hơi gió đi và côn trùng dìu dặt, nỉ non thâu đêm. Đây cũng là thời gian hoài niệm về quá khứ sau mấy chục năm, từ ngày ông bỏ cha xứ, bỏ anh em Cẩn, bỏ nhà thờ An Mỹ, bỏ xứ Kẻ Lường, lao mình vào hiểm nguy mà không biết sợ hãi là gì. Ông bảo, thời gian đầu ông đã cùng mấy anh em nhà tu với nhau, trong số này có nhạc sĩ Thiên Phụng, có ông Phạm Công Ất v.v…đã đi nhiều xứ xây dựng đoàn thể Công giáo…Nhưng tình thế mỗi lúc một thêm khó khăn, Pháp lui quân dần, bỏ trống nhiều vùng, nhân cơ hội này Việt Minh xuất hiện. Các ông bị lộ, nên về sau ông gia nhập quân đội Quốc gia, lúc đó ông đã cưới vợ, đẻ con trai đầu là Hòa ở Hà Nội, vợ con sống với bà ngoại ở Hoàng Hoa Thám mà Cẩn đã đến mấy lần trước kia. Rồi theo đơn vị vào thẳng Đà Nẵng, đóng quân ở Sơn Trà. Ông bảo, đã mấy lần đi miền Tây phát lương cho lính xuống đó công tác, về Sài-Gòn thì ở bên nhà chú em tại quận 8, bên kia cầu chữ Y, có biết Cẩn đang làm báo. Ông Đồng cũng nhắc đến ông Minh, sau ngày ông Minh rời Đại Chủng viện Xuân Bích ở Liễu Giai về nhà. Ông nói, lúc đầu hai anh em cùng làm việc với nhau, về sau ông Minh được một người giới thiệu vào một tổ chức chính trị. Mục tiêu ban đầu của họ là các thành phần trí thức Công giáo, có khuynh hướng xã hội. Một thời gian sau, ông Minh lại muốn tôi (lời ông Đồng) cùng làm việc với nhóm của ông, nhưng tôi không thích làm chính trị. Hơn nữa, lúc đó tôi đã gia nhập quân đội quốc gia, công việc cũng khó khăn, phải đối mặt với nhiều tình huống phức tạp. Từ đó tôi không gặp Minh nữa. Khi vào đến Đà Nẵng, tôi cũng biết viêc Minh ra làm việc với Bác sĩ Tr.K.T bên Sở Nghiên cứu xã hội. Nhà tôi đàn bà, cũng đôi lần phàn nàn về việc Minh không tiếp xúc với chúng tôi nữa. Riêng tôi thì nghĩ rằng ông ta cũng có những khó khăn của ông ta. Càng làm lớn thì càng phải biết giữ mình. Hơn nữa mình cũng có thiếu thốn gì đâu. Khó khăn gì mình cũng trải qua. Lương lậu hay ốm đau gì thì đã có quân đội, không lệ thuộc ai, đó là hạnh phúc…


Nói đến đó, bỗng nhiên ông Đồng đứng dậy bảo Cẩn đi với ông ra phía ngoài cái cồn đất này đến khu dân cư để mua gói thuốc. Hai thầy trò đi bên nhau, có ánh đèn pin cầm tay dẫn đường. Đi một quãng mất khoảng 10 phút thì tới khu dân cư. Ở đây, từ đường lớn phía ngoài, có nhà thờ Ngọc Lâm, phải đi xe máy hoặc xe lam, mất khoảng 15, 20 phút, nhà cửa không nhiều. Dân sống về làm rẫy. Ông bước vào một tiệm nhỏ. Vợ chồng người chủ cửa tiệm, vừa trông thấy ông từ ngoài bước vào, đã đon đả chạy ra mừng rỡ, mời vào nhà. Bà vợ nhanh nhảu chúc mừng ông lên chức “ông cố”, còn ông chồng thì hứa cả nhà cũng sẽ đi nhà thờ dự lễ mừng tân Linh mục vào ngày hôm sau. Ông cố có phúc quá, cả xứ Ngọc Lâm này ai cũng mừng khi biết thầy Bình thụ phong linh mục. Nhưng cũng lại rất buồn và tiếc… Ông Đồng vội hỏi, “vì sao vậy?” Bà nói ngay, vì thầy, ấy chết, xin lỗi ông cố, vì cha làm linh mục thì phải ra tận ngoài Đà Nẵng, chứ đâu còn được ở lại đây nữa - Không sao, cháu nó vẫn coi đây là nhà của mình…Bà chủ cửa tiệm lại ngắt: Nhưng mà tụi nhỏ trong xứ không còn được thầy, xin lỗi, tôi quen miệng, cha Bình trực tiếp sinh hoạt với chúng nữa - Ờ thì biết làm sao. Giám mục sai đi đâu cũng phải đi thôi. Nói thí dụ, nếu cháu Bình có chịu chức linh mục tại giáo phận Xuân Lộc này, thì sau đó cháu nó cũng đâu có được ở lại đây nữa. Nhưng mà, tôi nói thực lòng nhá, khi nào về hưu, cháu Bình cũng sẽ trở về ở trong cái nhà tranh vách nứa đó. Cháu nó muốn thế. Người khác làm linh mục thì sung sướng cái thân, còn cháu Bình một khi có tiền lại đem chia sẻ cho các trẻ không cha không mẹ, sống lang thang trên đường phố. Mọi người có thương cháu thì cầu nguyện cho cháu là chúng tôi mừng rồi. Làm linh mục lúc này khổ lắm…Ông bà cứ nhìn vào cuộc đời của Chúa Giê-su khi sống tại Nazareth thì biết, Người phải làm nghề thợ mộc cùng với bố nuôi của mình là thánh Giuse. Trong ba năm cuối đời, Chúa Giê-su đi giảng đạo thì một “hòn đá cũng không có gối đầu.”


Hai thầy trò lại đi bên nhau, quay trở về lều tranh, sau khi chào vợ chồng cửa tiệm tạp hóa, có ánh đèn pin soi đường. Khu dân cư này, mặc dù có ít nhà song vẫn có sinh hoạt về đêm. Ánh đèn từ trong các gia đình hắt ra ngoài, tạo nên một hình ảnh nghèo nàn của một chợ nhỏ ở nông thôn. Cẩn nhớ quê, mặc dù anh chưa bao giờ sống cái cảnh này ở quê nhà anh lúc ban đêm. Ông thầy Đồng thấy Cẩn lặng lẽ từ lúc ra đến ngoài khu dân cư này đến giờ, vẫn có ý muốn nói với anh một chuyện gì đó, nên khi thấy Cẩn như vậy đã tạo dịp cho ông nói chăng. Ông cầm lấy tay anh, giọng hạ xuống:


-Chú Cẩn này, nhà tôi cũng như các cháu vẫn coi chú như người trong nhà. Những người làng vào trong này, chú là người duy nhất còn đi lại với chúng tôi, nhà tôi nó thương chú lắm. Nhưng nó cũng giận chú vì chú dự lễ cưới của thằng Hòa. Bà ấy bảo, vợ thằng Hòa nói với bên nhà nó rằng anh Hòa có người chú dự đám cưới của chúng nó. Người ta nghĩ đó là em ruột của ba nó, chứ ai biết chú chỉ là…Chắc cháu Hòa cũng đã nói với chú, nhà tôi nó kỳ vọng rất nhiều vào cháu Hòa. Bà ấy chăm lo cho nó từng năm từng tháng sau khi nó vào Tiểu chủng viện thánh Gioan, giới thiệu nó với cha này cha kia, gặp ai là nói chuyện về con trai đầu lòng của mình, làm như thể nó làm linh mục ngay ngày mai không bằng. Chẳng hạn, ngày chú ra Đà Nẵng đến nhà thăm chúng tôi, bà ấy đã vội vã dẫn chú sang Chủng viện giới thiệu hai đứa ngay với chú…


Hai thầy trò Cẩn đã về đến lều tranh lúc nào cũng không hay. Hình như con đường này ông đã quen lắm, vì ông đã ở đây nhiều năm với con trai của ông mà bây giờ đã trở thành linh mục. Cho nên, vừa đi ông vừa mải mê nói, còn Cẩn thì lặng lẽ nghe từng câu từng chữ, vì những gì ông nói có liên quan đến anh.

Bấy giờ Cẩn mới nói rằng :

-Em dự lễ cưới của cháu Hòa, chỉ để cầu nguyện cho cháu. Với cháu Hòa, đám cưới của cháu quá tầm suy nghĩ của mọi người. Anh chị cũng biết, cháu Hòa quý em như thế nào. Năm cuối của cháu ở Đại Chủng viện, cháu nó nói em viết cho nó những gì em nghĩ về cuộc đời của nó, nếu nó tiếp tục tu và làm linh mục và cuộc đời của nó sẽ ra sao nếu nó ra đời lấy vợ. Một lần, chị nói với em rằng có mấy thầy học cùng lớp với Hòa ở Đại Chủng viện tới nhà chơi, gặp lúc cháu Hòa không có nhà, các thầy ấy nói là thầy Hòa sung sướng quá, có một người chú rất sáng suốt, giúp cho thầy Hòa những suy nghĩ về cuộc đời tu trì hay cuộc đời làm giáo dân bình thường ở đời. Chúng con muốn được gặp chú của thầy Hòa quá. Anh biết chị nói với các thầy ấy thế nào không ?

-Tính nhà tôi thẳng, lại hay nói làm cho người nghe bực mình. Bạn bè của nhà tôi ở Đà Nẵng trước kia, bây giờ ở Sài-Gòn cũng thế, ai chả biết cái tính ấy. Nhưng bình thường thì lại rất dễ gần gũi…Cẩn ngắt lời ông :

-Chị nói rằng, tôi còn lạ gì các thầy nữa, mấy ông cha cũng thế, có coi giáo dân ra cái gì đâu. Chú của Hòa là nhà báo, đi đây đi đó, có mấy khi ở nhà. Đi để tìm đề tài viết. Ông ấy thương thằng Hòa nhà này nên mới viết cho nó cái thư ấy. Gặp ông ấy cũng khó như giáo dân gặp ông cha xứ của mình. Chưa gặp ông ấy thì thôi, chứ các thầy trông thấy ông ấy chắc cũng hết muốn gặp.

-Tại sao vậy bà cố ?

-Vì người chú ấy xấu xí, đen đúa lại lùn nữa. Thấy người là hết muốn gặp… Các thầy ấy muốn nói gì đó, song tôi chặn lại ngay.Chú biết tại sao tôi nói về chú như thế không ?

-Sao hả chị ?

-Vì mấy ông đó hình thức lắm, chỉ trọng cái bề ngoài. Mấy ông cha nào được như ông cha Cừ nhà mình, như cha Chính Vinh ngoài Hà Nội, ông tướng lừng danh của Pháp sang Hà Nội, vào nhà thờ lớn dự lễ, cha Chính Vinh cũng không nể nang gì, bắt ông tướng đó phải ngồi ghế sau ông Thủ tướng Việt Nam. Trong lúc các ông cha ra ngoài đều mặc theo kiểu bố đời, cây thánh giá phải đeo trước ngực như quy định, cũng chẳng có mấy người đeo, không tài nào nhận ra người linh mục, thì ông cha Cừ nhà này, vẫn mặc áo dài đen mỗi khi ra ngoài. Chú ăn mặc cũng lôi thôi lắm, còn các ông ấy thì mượt mà, chải chuốt. Ông Minh lúc về nhà không tu nữa cũng vậy đó. Cho nên tôi nói thế để mấy ông thầy ấy không đòi gặp chú nữa.

-Đấy cứ nói thế, nói để cho người ta nản. Không ưa thì nói vậy. Chắc nghe xong mấy ông thầy ấy vội chuồn mất chứ gì.

-Em cũng biết vậy. Còn lý do thứ hai em dự lễ cưới của Hòa là gì, anh biết không ? Như anh biết, chị đã tức giận nhiều như thế nào lúc nghe tin Hòa lấy vợ. Chị đe sẽ phá cái lễ cưới của Hòa. Cho nên em cần phải có mặt để, nếu sự việc xảy ra thực thì em sẽ can thiệp. Chắc anh có nghe, cha Giám đốc Đại Chủng viện Sài-Gòn cũng đến, sau khi thánh lễ cử hành được ít phút. Thấy tình hình êm ả, ngài mới ra về. Anh có nghe Hòa nói lúc còn trong Đại Chủng viện Sai-Gòn không, thỉnh thoảng người của ngành an ninh mời lên để trao đổi. Hòa nói với em là họ nói rằng bạn bè của anh ở trong trường muốn tốt cho anh, tốt cho giáo hội anh, nên đã nói với chúng tôi tất cả những gì anh nói xấu xã hội. Hòa nói rằng Hòa biết ai là người nói những điều này. Cho nên, Hòa quyết định rời trường tu, và để chuyển hướng ý nghĩ của mọi người về mình, Hòa quyết định trong đau đớn là lấy vợ. Dù ở bậc sống nào, Hòa nói với em, là cháu vẫn phục vụ Giáo hội hết mình.

-Chuyện đó đâu đến nỗi nào nó phải làm như vậy. Có nhiều người phải nhắm mắt qua cầu cho xong, miễn là tới được mục đích của đời mình. Bây giờ tôi mới biết cháu Hòa nói với chú những điều đó. Chỉ có chú là người duy nhất nó vẫn giữ mối dây liên lạc. Còn tất cả bạn bè, nó đều không muốn gặp nữa. Ngay cái lễ tạ ơn của em nó đây, nó cũng không muốn dự, vì nó không muốn gặp lại những người bạn cũ ở Chủng viện Đà Nẵng trước kia.


Đêm hôm đó, Cẩn không ngủ được. Cả ông Đồng cũng vậy. Với Cẩn, cảnh ban đêm ở chốn quạnh hiu này, nằm nghe côn trùng đua nhau cất tiếng reo vui, hòa tiếng ếch nhái kêu ộp ộp, tiếng gió lùa qua liếp tre, anh thấy nhớ mười năm về trước, anh làm công nhân đường sắt, nhiều lần đi công tác tới những ga nhỏ dọc tuyến đường từ Sài Gòn tới ga Mường Mán, công tác xa nhà cả tuần lễ hay hơn, có những ga thuộc vùng có muỗi gây bệnh sốt rét, người ta nói những vùng này là cái “tủ lạnh”. Ai mắc bệnh sốt rét là ôm cái tủ lạnh vào người, không đưa tới bệnh xá kịp thì chỉ có chết. Đó là những ga như Sông Phan, Sông Dinh, Suối Kiết, Gia Huỳnh v.v…Đêm khuya tại những nhà ga ở các nơi này, cũng có tiếng chim rừng, tiếng lá rụng nhất là vào mùa mưa bão. Vậy mà, Cẩn lại thích những nơi này.


... CÒN TIẾP ...


@.Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 10.12.2016.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004