Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới






GIÁP THÂN NĂM ẤY MỞ HỘI DIÊN HỒNG




T ết đại hàn năm Giáp Thân (1284) niên hiệu Thiệu Bảo thứ 6 đời vua Trần Nhân Tông rét hơn các mùa đông khác. Gió Bắc vít cong ngọn tre xơ xác ném nhưng chiếc lá khô bay dọc đường thôn. Tại đình làng Thiên Bản các bô lão đã tề tựu. Lâu ngày mới gập nhau, người các giáp hồ hởi hỏi thăm . Cụ Cửu miền Đông thân mật nắm bàn tay người bạn già trong đội hương binh làng Thiên Bản năm xưa :

-Ô kia, cụ Chải đáy à. Trông cụ vẫn quắc thước lắm. Vẫn như cái thời năm Nguyên Phong chúng ta đánh giặc ấy nhỉ.

Người bạn già vòng tay thi lễ rồi mới nói “ xin cụ thứ lỗi, đông quá, nên tôi chưa nhận ra. Năm nay nhà ta cấy hái ra sao ? Cụ vẫn luyện môn thiết lĩnh đấy chứ ?” Hai người bạn già cùng cười, nhường bước nhau bước vào trong đại sảnh . Câu chuyện thời Nguyên Phong của hai cụ nhắc lại đã khơi gợi một thuở hào hùng thời trai trẻ.

Tháng 9 năm Đinh Tỵ niên hiệu Nguyên Phong thứ 7(1257) đời vua Trần Thái Tông, nhà Nguyên đã chiếm gần hết nước Đại Tống và đang lăm le cất binh xâm chiếm Đại Việt . Triều đình đã lường trước cử binh đến trấn giữ những nơi hiểm yêu theo sự điều động của Tiết chế tướng quân Trần Quốc Tuấn

Có sự phòng bị như vậy thế mà đến tháng 12 khi Ngột Lương Hợp Thai mang quân sang xâm lấn. Quân Nguyên chia 2 đường tiến sâu vào đất Việt. Vua Trần Thái Tông đã dàn phòng tuyến tại vùng Bình Nguyên (Vĩnh Phúc) đón đánh. Không lường được sức mạnh thiện chiến cua đạo quân kỵ mã Mông Cổ, phòng tuyến quân Đại Việt bị tan vỡ, quan quân nhà Trần núng thế.

Trong tôn thất đã xuất hiện tư tưởng đầu hàng mong bảo toàn cuộc sống. Chỉ có Thái sư Trần Thủ Độ khi được vua hỏi về tình hình chiến sự , ông đã khẳng khái trả lời “ Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin Bệ hạ đừng lo”

Câu trả lời của người đứng đầu tôn thất nhà Trần cũng là tổng chỉ huy chiến cuộc đã nhanh chóng truyền tới hàng vạn binh sĩ. Người lính nào cũng tự coi như mình đang đứng trước hoàng thượng mà tâu rằng

-Đầu tôi chưa rơi xuống đất xin bệ hạ đừng to

Được khích lệ bởi tinh thần yêu nước của binh sĩ, vua Trần đã hợp binh, đánh phản kích quân Nguyên tại bến Đông Bộ đầu, tiến tới giải phóng Thăng Long ngay trong năm ấy

Sự việc thời Nguyên Phong được ghi vào lịch sử như một nét son chiến thắng và thi ca cũng đã nhắc tới :

Bạch đầu quân sĩ tại

Vãng vãng thuyết Nguyên Phong

Dịch :

Người lính già đầu bạc

Kể mãi chuyện Nguyên Phong

Đến bây giờ, các cựu chiến binh đã về tuổi lão, thế mà Quan gia xuống chiếu mời các bô lão về triều là để dự bàn việc chi ? Các bô lão đang hỏi nhau thì ông Câu đương làng Thiên Bản đã đến. Ông ta chắp hai tay xá dài về bốn phía vái lễ các bô lão xong rồi thưa chuyện :

Trình các vị bô lão, thôn ta vừa nhận được giấy sức của quan huyện mời các bô lão ra đình để nghe tuyên đọc Thánh chỉ . Nay đã tới giờ Hoàng đạo, xin cho phép được bày hương án, thắp nhang thơm nghe tuyên đọc

Cửa giữa tòa đại bái đình làng Thiên Bản rộng mở, nén hương thờ thắp lên, ngọn nến đại cũng đã cháy bập bùng, soi sáng một cái hộp gỗ sơn son thếp vàng, vẽ cảnh long vân hải hội đặt trên án thư

Bô lão của 4 giáp theo tuổi quỳ nối nhau hai bên sập đình, chắp hai bàn tay ngang trán lắng nghe. Ông Câu đương trịnh trọng mở hộp lấy ra tờ lệnh chỉ viết trên giấy bản Hội Phong giơ lên vái một vái rồi đọc to. Các bô lão lắng nghe và nhận ra ...

Đó là tờ chiếu truyền chỉ ba quân các trấn, các lộ, các thái ấp đều phải chấn chỉnh đội ngũ sửa sang khí giới, chuẩn bị lương thảo và đôn quân đến các nơi theo lệnh của Quốc công Tiết chế Hưng Đạo vương. Tờ chiếu cho biết : Thượng hoàng đặc biệt ban chiếu mời bô lão trong nước về Kinh sư để nhà vua được hỏi ý, lắng nghe lòng dân trước họa binh đao sắp tới

Lời tuyên chiếu lắng vào lòng từng người nên sau khi lễ tạ, các bô lão ra về đã ồn ào nói chuyện . Hai vua đã cho gọi bọn ta về kinh sư nhưng không thể ai cũng đi, mà phải cử người cao tuổi hơn, từng trải hơn, được lòng dân quý mến thì về Kinh sư mới nói hết lòng dân.

Một bô lão lên tiếng “ Theo lệ, triều đình trọng tước, làng nước trọng xỉ, vậy ta cử mỗi giáp một cụ cao tuổi về Kinh, tiền tài, vật dụng đi đường thì làng cử con em đi theo hầu hạ

Lại thấy ồn ào bàn tán, Một ông lão ở Miền Cuối lên tiếng :

-Từ thuở Nguyên Phong tới nay, không năm nào mà sứ nhà Nguyên không đến để hạch sách, ép hai vua sang chầu. Hai vị đã nhún nhường nhưng nếu giặc cứ lấn tới định cướp nước ta thì tôi xin là Quyết chiến. Đó là ý chung của Giáp chúng tôi , vậy xin nghe ý kiến các giáp khác.

-Còn nghĩ sao nữa, Miền Cuối còn có nghĩa khí như vậy thì các Miền Trên cũng xin nghe theo. Nếu về kinh sư, Thượng hoàng hỏi ý chúng ta là nên chiến hay nên hòa , tất cả chúng tôi xin thưa : Nên Chiến

-Phải đó, Lộ này làm được thì lộ khác cũng làm được. Xứ Thiên Bản quê ta không có kẻ hèn nhát đâu.

Đường đi từ phủ Thiên Trường qua Tức Mặc rồi đến Sơn Nam hạ về Thăng Long, Mưa bụi, mưa xuân, gió bấc rét lạnh không cản được ai. Các bô lão vui vì về kinh sẽ gập lại vị quốc vương thời Nguyên Phong –biểu tượng chiến thắng của quốc gia,

Quan thừa chỉ đón các các vị khách về trạm xá nghỉ lại sức, hôm sau mới dẫn các bô lão đến điện Diên Hồng. Thượng hoàng Trần Thánh Tông lên điện, sau khi đón nhận lời tung hô Vạn tuế của thần dân Ngài hỏi thăm sức khỏe các bô lão, tươi cười truyền chỉ cho nội thị bầy tiệc , Nâng bát rượu trên tay, Ngài nói “ Năm xưa ta cùng vua Cha Trần Thái Tông được sự đồng lòng của ba quân đã làm nên chiến thắng giải phóng Thăng Long, đuổi bọn giặc Nguyên về nước, Năm nay gặp mặt nhau, những chiến binh đã lập chiến công năm Nguyên Phong ấy có mặt ở đây không ? ” Khắp hội trường có nhiều bô lão đứng lên chắp tay thưa “Muôn tâu Quan gia, Thần có mặt đây ạ” Thượng hoàng đi chúc rượu khắp các bàn tiệc, Ngài nói

-Thế mới biết dân tộc ta rất anh hùng, Năm Nhâm Ngọ (1282) ta đã họp cùng các vương hầu ở bến Bình Than để bàn việc nước, Năm đó Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản vì còn nhỏ tuổi không được dự bàn đã tức mình nắm chặt tay, bóp nát quả cam đang cầm rồi về Thái ấp chiêu mộ nghĩa binh lấp nên đội quân “Phá cường địch Báo hoàng ân”. Nay ta mời các bô lão đến đây cũng để hỏi về việc nước : quân Nguyên đang ngấp ngó ngoài biên ải, Thoát Hoan và Toa Đô đã chia đường nói là đi đánh Chiêm Thành nhưng thực chất là chiếm Đại Việt. Vậy các ngươi cứ vui tiệc, lát nữa Hoàng thượng khai triều, sẽ nghe các người bày tỏ tâm nguyện”

Câu nói của Thượng hoàng làm các bàn tiệc đều sôi động, địa phương nào cũng thấy chụm đầu bàn tán, không chú ý đến ăn uống, chỉ chờ Quan gia và các tướng ra khai triều.

Từng cỗ kiệu của Thái sư, Tướng quốc, Tiết chế và các văn thần võ tướng vào triều. Bô lão các trấn cũng thôi bàn tán đứng theo địa phương nghiêm chỉnh chờ Hoàng thượng lên triều Hoàng thượng Trần Nhân Tông nói :

-Thế nước ta hiện nay rất nguy. Nhà Nguyên đã diệt nhà Tống từ năm Kỷ Mão. Tả thừa tướng nhà Tống đã cõng vua nhảy xuống biển tự trầm. Năm nay, nhà Nguyên củng cố thế lực đang lăm le đánh sang Đại Việt. Sứ thần Trần Phủ được ta sai sang nước Nguyên đã trở về cho biết : Vua Nguyên sai thái tủ Thoát Hoan làm Trấn Nam vương cùng với Bình chương A lạt Alý hải đem quân mượn cớ đi đánh Chiêm Thành nhưng thực chất là chia đường sang đánh Đại Việt. Ta cho gọi các khanh về đây để hỏi “Thế nước yếu nên hòa hay nên chiến ?”

Nhà vua vừa dứt lời, không ai bảo ai mà hàng ngàn phụ lão đều đứng bật dậy trong điện Diên Hồng. Họ dập đầu gậy xuống sàn mà hô to : “Chúng thần xin bệ hạ cho đánh. Nên chiến ! Chiến đến cùng !”

Hàng trăm cánh tay trần giơ lên, lộ rõ dòng chữ “Sát Thát” mới chích, máu còn chảy dòng. Tiếng bô lão lại hô vang “ Chúng thần xin được quyết chiến. Dòng chữ Sát Thát này sẽ truyền cho con cháu chí khí của ông cha. Trước quang cảnh hùng vĩ ấy, vua Trần Nhân Tông đứng dậy, Thượng hoàng cũng đứng dậy giơ tay chào. Hai vua đều cảm đông trước khí thế của toàn dân và toàn quân. Bât giác, vua Trần Nhân Tông đọc vang một câu thơ cảm khái chợt nghĩ ra :


Cối Kê cựu sự quân tu ký

Hoan Diễn do tồn thập vạn binh

Dịch

Cối Kê việc cũ người nên nhớ

Hoan Diễn còn đây chục vạn binh


Sau hội nghị Diên Hồng, dân ta bình tĩnh chiến đấu đón nhận cuộc xâm lược của nhà Nguyên. Đến tháng 8 năm Ất Dậu (1285) thì đuổi được giặc Nguyên ra khỏi bờ cõi. Trong cuộc chiến tranh vệ quốc lần này có nhiều tấm gương trung nghĩa như Bảo nghĩa vương Trần Bình Trọng, và cũng lộ mặt kẻ hèn như tôn thất Chiêu quốc vương Trần Ích Tắc đầu hàng giặc tìm vinh rồi chết nhục ở cõi ngoài.

Với người Việt Nam chúng ta, Hội nghị Diên Hồng (1284) là niềm tự hào khơi gợi ý chí làm chủ của nhân dân trước vận mệnh đất nước ./.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 26.11.2016.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004