Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




NHỮNG KẺ ĐỒNG HƯƠNG




Kỳ Thứ 1.


Lời người kể chuyện:


Họ, là những con người đồng hương với nhau, ở một làng đạo lâu đời, vùng Đồng Bằng Sông Hồng giáp ranh với Thăng Long – Hà Nội. Trong những con người này, có năm người chung một tổ. Hai người thuộc dòng nội, còn ba người kia dòng ngoại. Ở đây, chuyện chỉ kể đến ba người, còn hai người kia chỉ thoáng hiện rồi chìm đi. Nhưng lại để dấu ấn đậm bản sắc của tổ tiên họ. Theo lời các cụ kể lại, có một thầy địa lý không biết ở đâu, một lần đi qua làng, khi đến khu nghĩa trang của làng, đã dừng chân bên một ngôi mộ, nói rằng mộ này sẽ phát, ứng vào dòng ngoại. Mộ này chính là tổ ngoại của Cẩn, một trong những kẻ đồng hương. Các nhân vật trong truyện được thay đổi và nếu có trùng tên với ai thì đó là sự ngẫu nhiên.



MỘT.



Đ êm nay là một đêm có trăng đầu tiên Cẩn ở trên con tàu này. Ánh trăng sáng quá, dọi vào khoang tàu, chiếu thẳng vào chỗ anh nằm, khiến anh không sao ngủ được. Những người cùng làm việc với anh trên con tàu chạy đường sông từ Tân An đi Mộc Hóa này, gồm một chị lo cơm nước, hai vợ chồng người thợ máy chính, một thợ phụ, một người bán vé tàu kiêm thủ quỹ, người nhà của chủ tàu, còn Cẩn thì do một người anh họ gửi gắm. Mỗi khi tàu tới một trạm gác trên bờ, Cẩn lên trình báo giấy tờ. Tất cả đã ngủ rồi. Anh cũng muốn ngủ như họ, thật hạnh phúc. Nhưng trăng đêm nay đẹp quá, kỳ diệu quá. Hình như Cẩn đã trải qua một đêm trăng như thế này, nó cũng ở trên một con tàu… Rồi Cẩn nhớ ra… Con tàu ấy đang đi trong một chiều mùa Thu trên một dòng sông đất Bắc. Và anh rời chỗ nằm, ra ngồi ở đầu con tàu, hết nhìn trăng trên mái đầu lại nhìn trăng dưới con sông Vàm Cỏ Đông. Cẩn nhớ lại đêm trăng ngày ấy, cũng chưa xa xôi gì, gần mười năm thôi.


Đó là chuyến tàu trên Sông Hồng, đi từ đồn Mai Xá bên bờ sông về Hà Nội, sau ngày trường Hoàng Nguyên bị đạn pháo của mấy ông Tây bắn tới. Trường Hoàng Nguyên, có một lịch sử trăm năm, nay phải khép lại, đóng cửa mãi mãi ! Chuyến tàu trên sông Hồng ngày đó cũng có trăng, nhưng mênh mang hơn và lại như u uẩn, nghẹn ngào. Ánh trăng trôi theo con tàu đậu trên đầu, lan tỏa trên mái tóc học trò của anh. Ký ức tuổi học trò của Cẩn ngày đó như thế, không ngờ cứ vương vấn mãi bên anh, có lẽ nó sẽ theo anh về một miền nào thật xa và bình yên.


Cẩn không thể ngờ rằng, ánh trăng trên dòng sông Hồng ngày đó, đêm nay anh lại như đã gặp nó trên dòng sông của đất phương Nam. Cẩn vừa rời khỏi trường, xa bạn bè. Những nỗi buồn làm anh như mê như tỉnh, anh thật không biết mình vừa trải qua những cay đắng, vì bạn bè lừa gạt. Anh không hiểu được điều gì đã xô đẩy anh đến chỗ này. Mọi người trong khoang tàu đã yên giấc, còn anh ra đây thức với dĩ vãng, với trăng với sông nước. Định mệnh nào đã đưa anh đến thân phận của một kẻ không nhà, đưa đẩy đến những nơi mà chắc giờ này ở quê, mẹ anh không sao ngờ được, vì những ngày sống bên người, mẹ anh tất tưởi, ngược xuôi, lo toan để gửi anh đi học, vừa tiền học tiền ăn, lại còn tiền “đóng góp” cho mấy ông Việt Minh, gồm cả xuất của Cẩn, bất kể Cẩn còn đi học. Tất cả cho con trai út của mẹ. Thế mà giờ này, lẽ ra anh phải ngồi dưới ánh đèn học bài như anh đã hứa với người cha già của anh trước ngày anh vào Sài-Gòn. Người đã lên Hà Nội để đưa anh về quê, nhưng Cẩn đã xin phép cha để vào Sài-Gòn “ tiếp tục học”.Vậy mà giờ này, anh lạc dòng, đi mãi xuống miền sông nước của phương Nam.


Chỉ mới gần đây thôi khi Cẩn còn đi học, anh và các bạn học của anh cũng vậy, ai cũng chỉ chú tâm vào việc học, không nghĩ gì đến các chuyện khác. Các anh được một ưu đãi rất lớn là học tại một trường trung học dành cho học sinh di cư, nên không phải đóng học phí, trái lại, những ai thuộc vào trường hợp như Cẩn, nghĩa là không có cha mẹ cùng đi mà chỉ có người bảo trợ, còn nhận được học bổng cho cả năm học nữa. Nhưng anh phải bỏ dở học, vì một người bạn anh bao bọc ở chung nhà trọ, đã phản bội anh, lừa dối để anh trao gần hết số tiền học bổng năm ấy, nói là để “mua thuốc cho mẹ già ở quê đau nặng” rồi nhân lúc Cẩn đi học, anh ta bỏ đi, Cẩn hết điều kiện tiếp tục học và thuê nhà trọ. Một lần anh tình cờ đọc một bài của Hoàng Hải Thủy trên mạng, bài báo có nhắc đến tên người bạn cũ của anh đó. Tác giả hỏi bạn ấy (BĐ, tên thật là Q.), “đêm nay ngủ ở đâu?” Bạn ấy xòe tay ra và Hoàng Hải Thủy cho bạn ấy tiền. Thật tình, ngày ấy cũng như bây giờ nhắc lại chuyện cũ, Cẩn không bao giờ có tư tưởng phiền trách bạn. Nếu không đọc được bài báo của Hoàng Hải Thủy, cũng chỉ mới đây thôi, thì Cẩn không nhắc lại việc ấy làm gì.


Chiến tranh tưởng đã qua đi với những đổ vỡ và chết chóc, và không bao giờ phải sống với nó nữa, vì nó là một điều quá hãi hùng, man rợ. Như ngày Cẩn còn ở nhà, anh đã nhìn thấy một xác người đàn ông nằm chết bên bờ giếng. Người ta bảo ông này không phải người làng mình, thỉnh thoảng ông ta mới đến, mà mỗi lần đến ông ta đều cầm một cái ống thủy tinh, dài khoảng một thước, to bằng ngón tay cái, đi quanh làng, thấy chim ở đâu là thò tay vào một cái túi vải đeo bên vai, lấy ra một hòn sỏi hay đất đã vo tròn và phơi khô, rồi để nó vào trong một đầu ống, đầu kia đưa lên miệng, nhắm con chim đang đậu, thổi mạnh một cái, con chim trúng đạn rơi xuống chỗ nó đậu, ông ta bước tới cầm con chim lên cho vào túi, rất lẹ làng. Có người thì nói rằng người đàn ông nằm chết kia là gián điệp, tay sai của địch. Mấy đứa bạn trong làng, nhỏ hơn Cẩn, thấy ông ta là đi theo, bảo ông kể chuyện vui, chuyện đi bắn chim, vì ngoài cái ống thủy tinh ra, ông ta còn một cái súng cao su, loại súng này bọn nhỏ và Cẩn cũng có. Ở cùng ngõ với Cẩn, có một học sinh lớn đi học ở Hà Nội, thỉnh thoảng về quê, lần nào cũng đến nhà rủ Cẩn đi bắn chim và chèo thuyền đi câu cá quanh làng. Rồi một ngày mẹ của anh ra nhà Cẩn nói với anh là “nó” đã đi xa, dặn bà ra nói với Cẩn như vậy và “nó” muốn cháu đi Hà Nội học. Có một lần Tây về làng, mọi người phải tản cư xuống mãi Cống Thần, chợ Đại, ở đây bà nhìn thấy con trai của mình cưỡi ngựa đi qua. Anh ta theo kháng chiến. Từ đó người trong làng có vẻ dè dặt với gia đình bà.


Cũng trong lần Tây về này, người ở làng giáp ranh với làng của Cẩn, theo đạo Phật, họ nhìn thấy trên nóc nhà thờ có một cụ già tóc bạc phơ, tay cầm gậy giơ cao, cử chỉ như xua đuổi ai, cứ đi từ đầu nhà thờ đến cuối nhà thờ. Người làng của Cẩn nghe người ta nói như thế thì nghĩ, đó là Thánh Giuse. Lần đó làng của Cẩn thoát được cảnh tàn phá và chết chóc, chỉ có một thiếu nữ bị ốm không chạy được và cũng không biết trốn ở đâu, nên bị một thằng Tây hãm hại. Người cha của Cẩn cũng không chịu đi lánh nạn, thì bị bắt dẫn lên đồn. Khi quân Pháp rút đi, mọi người mới lục tục trở về nhà. Riêng gia đình Cẩn vắng mặt người cha. Mẹ và anh chị của Cẩn lòng dạ bất an. Nhiều người trong dòng họ đến hỏi thăm, chẳng ai biết một tí gì tin tức về ông, nếu bị Tây bắt đi, chắc ông cũng khó trở về. Năm đó, Cẩn đã đi tu, vào ở trong nhà xứ. Khi lính Tây về làng thì mấy anh em cũng đi tu như Cẩn vội mặc quần trắng áo dài thâm vào, trèo lên gác chuông, tính chui vào trong trần nhà thờ để trốn. Cảm thấy không xong, đồng thời cha xứ đã mở cửa nhà thờ gọi mấy anh em Cẩn xuống. Khi xuống tới nhà thờ thì thấy một người lính Tây, chắc là một sĩ quan, đi bên cạnh ngài, yêu cầu ngài dẫn hắn lên gác chuông. Còn người cha của Cẩn, mãi đến chiều tối mới được tha về. Lại một lần nữa, họ hàng và con cháu kéo đến đầy cả sân hỏi han và vấn an ông. Thấy ông khỏe mạnh, ai cũng vui mừng, nhất là mẹ và các anh chị của Cẩn, mọi người lo nước nôi mời bà con trong họ và hàng xóm. Thân phụ Cẩn nói rằng chính mình cũng không dám tin được tha, vì có mấy người các làng bên cạnh, già hơn ông nữa, đã bị tụi Tây bắn chết ngay ở đồn. Khi một thằng đến bên ông, ông sợ run lên, nhưng khi nó nói cho về, ông vẫn không dám tin đó là sự thật.


Phải chăng ngày đó người cha của Cẩn cũng được “Cụ già tóc bạc đi trên nóc nhà thờ” là thánh Giuse cứu !


Năm 1980, Cẩn về thăm nhà lần đầu tiên sau gần 30 năm xa cách. Tuy đã ngoài 40, lênh đênh đã nhiều mà vẫn cứ như một nhà tu khổ hạnh. Một tháng ở nhà với cha già, có đứa cháu nói trông cậu chẳng giống một thanh niên nào ở làng. Cẩn không biết nó nói thế là khen hay chê, anh cũng mặc kệ. Nó còn nhìn xuống bàn chân anh nói rằng bàn chân của cậu sao bé thế ? Bà chị lớn của Cẩn, một thời theo chồng sống ở Hà Nói nói, cả đời cậu cháu đi giầy thì nó phải bé. Rồi anh kín đáo nhìn xuống bàn chân của đứa cháu, Cẩn giật mình vì nó to bè, không đối xứng với thân hình nhỏ bé và đẹp gái của nó. Sau đó Cẩn lặng lẽ tìm hiểu mới biết ngay từ tuổi còn nhỏ, người dân làng quê anh, nam hay nữ, đàn ông hay đàn bà, đôi bàn chân của họ đều to phình ra vì họ phải lao động sớm, gồng gánh nặng, đi ra ngoài ruộng đồng và nhất là đi “dân công”, phục vụ cho chiến trường, xưa kia thì đánh Tây, rồi qua đánh Mỹ “xâm lược”. Như vậy thì chẳng những đôi bàn chân phình to ra, mà đôi vai của họ cũng nổi u lên, chai lỳ. Một buổi sáng Cẩn đang ngồi ở nhà với bố thì một cán bộ từ ngoài sân bước thẳng vào trong nhà, thản nhiên như vào nhà mình, không chào hỏi ai, chỉ nói vài câu Cẩn cần gì, anh ta sẽ giúp rồi quay ra đi ngay. Cẩn nói rằng bố anh rất bực mình về cái lão ấy. Nó quấy nhiễu ông đủ cách để ông không phục vụ nhà Chúa trong lúc làng không có linh mục. Chẳng hạn, ông không được xuống làng Chuôn Trung tiếp xúc với một linh mục đang bị quản thúc tại đây, đó là cha Giuse Đích Nguyễn Ngọc Oánh. Cán bộ nói với ông, có việc gì thì lên Hà Nội, hoặc xuống Hoàng Nguyên, chúng tôi sẽ giúp tiền đi lại. Ông bảo cán bộ, tôi già rồi không đi xa được, tôi cũng không cần tiền. Vì công tác mục vụ, thân phụ Cẩn phải tiếp xúc với ngài những khi cần thiết, mặc dù cha bị nhận một kỷ luật nghiêm ngặt : “Không được đi ra khỏi thôn. Không được nói chuyện với bất cứ người nào trong thôn. Khách muốn đến thăm phải có phép của công an. Không được làm lễ trước mặt giáo dân” (Chân dung Linh Mục Việt Nam, Trang Thông tin Điện tử Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, lưu hành nội bộ, trang 208)


Một lần khác, Cẩn cũng ở nhà nói chuyện với bố, ông chỉ tay lên bức ảnh thánh Giuse treo trên tường, nói : “Thầy đã cầu nguyện với ngài cho thầy được gặp hai anh em con rồi hãy đưa thầy đi. Bây giờ chỉ còn anh con…” Nói đến đó người dừng lại, hình như còn muốn nói điều gì. Năm đó người đã ngoài 80 rồi. Người anh của Cần còn đang ở trong trại cải tạo. Hai năm sau ông về. Đến năm 1983 ông dẫn vợ về thăm bố, nhưng lúc này người đã yếu, không nhận ra được ai nữa. Tuy vậy, nói đến tên thì người nhớ. Ít lâu sau, người nhà của Cẩn viết thư cho anh, nói rằng bố anh đã cầu nguyện với thánh Giuse: “Xin để con đi”. Người được nhận lời, năm 1984 thì mất.


Còn về cha Nguyễn Ngọc Oánh, sau 20 năm bị quản thúc (1965-1985) cha được tự do, ngài về xứ Hà Thao ngoại, tiếp tục dạy Đại chủng viện, đặc trách người dân tộc Mường vùng Hòa Bình và làm thư ký cho Hội đồng Giám mục. Linh mục Nguyễn Ngọc Oánh còn phụ trách vùng đạo Phú Xuyên có tới hơn 10.000 giáo dân, trong đó có giáo xứ quê của Cẩn. Một thời gian sau, cha Nguyễn Ngọc Oánh bàn tính với các bô lão và ban hành giáo làng, cần sửa sang ngôi nhà thờ đã hư hỏng và chật hẹp. Việc này khởi sự từ năm 1995, tới năm 1997 thì hoàn thành, có tổ chức một tuần tĩnh tâm và thánh lễ Tạ ơn. Dịp này Cẩn cũng về dự lễ trọn một tuần. Sau ngày này, anh theo ban hành giáo lên Tòa Giám mục chào Đức Hồng y Phạm Đình Tụng, Đức cha Lê Đắc Trọng, ngài đã về làng chủ sự Lễ Tạ ơn hôm trước và vào chào cha Nguyễn Ngọc Oánh. Đối với cha, Cẩn là người xa lạ. Cho nên sau khi vào đến phòng của ngài, Cẩn đứng lên tự giới thiệu với ngài, “con là con của cụ Xã Thí”. Vừa nghe đến đấy, cha đã đứng ngay dậy, bước nhanh lại ôm chầm lấy anh, nói “tôi và cụ Xã đã có một thời gian nan”. Nghe cha nói vậy, Cẩn đã muốn khóc vì thương bố quá. Chẳng những vì ông cụ phải đối mặt với sự dữ ngoài xã hội, mà còn phải đối mặt với ma quái trong nhà. Sau nhiều năm sống với xã hội mới, không tin thần thánh và làm mọi cách để “xóa sổ” một niềm tin mãnh liệt trong dân, ít hay nhiều nó cũng có ảnh hưởng nơi những người cứng lòng tin vào Thiên Chúa, trong số này, một bà chị dâu trong gia đình của Cẩn đã theo ma quái, tin dị đoan. Bà đã mang bùa ngải về nhà, lấy tên của một cậu con trai bỏ nhà đi đã lâu không thấy về, đặt tên cho cái bùa này, đặt ở các chân cột trong nhà, bà tin rằng con bà sẽ về vì thày bùa nói thế. Đêm đến các chỗ này lóe ra một thứ ánh sáng xanh sợ hãi. Bà đã chờ và hy vọng mãi, nhưng cậu con trai của bà vẫn biệt tăm. Sau khi nghe bà chị lớn nói ra điều này, Cẩn cứ nhìn lên di ảnh của thân phụ khóc mãi, nhất là trước khi từ giã mọi người để trở lại Sài-Gòn, Cẩn đứng trước ảnh các cụ nghẹn lời, hối hận và trách mình bất hiếu đã bỏ cha mẹ mà đi, để bố ở nhà chịu nhiều nỗi đắng cay như vậy.


Sau ngày Cẩn vào Sài-Gòn, sống với ông chú trong họ được ít lâu, Cẩn có nghe ông nói về chuyện trong dòng họ, từ “trong họ” đến “ngoài làng” như mồ mả, ruộng đất, hàng giáp, việc đạo, việc đời v.v…Việc nào ông cũng nói đến một cách rành mạch. Nhất là những việc liên quan tới dòng họ của anh, với một vị thế được mọi người kính nể, chẳng những về tài sản, đất đai mà còn có tiếng nói trong làng ngoài xã. Anh tiếc lúc đó mình còn nhỏ, không quan tâm đến chuyện họ hàng, làng nước ở quê. Tuy nhiên, chuyện về mồ mả của Tổ tiên thì anh lại nhớ. Ông chú của anh nói rằng, các cụ trù tính trước cả năm việc bốc mộ của Tổ ngoại, để phân công người nào nuôi lợn và nuôi mấy con, người khác lo nếp và nếp loại nào, bao nhiêu cân, người khác nữa thì lo rượu, bao nhiêu lít, rượu ngon loại nào, mua ở ngoài hay con cháu nấu, vì làng Cẩn có truyền thống nấu rượu, người khác nữa lo đậu, tính cho đủ với số cân nếp v.v…Việc phân công rõ ràng minh bạch và công bằng. Vì thế, năm đó các con cháu trong họ chỉ mong sớm tới ngày bốc mộ cụ Tổ ngoại thôi, bận rộn mà vui. Nhưng một điềm chẳng lành đã xảy ra. Đó là đêm hôm trước ngày bốc mộ, con cháu ngâm mấy chục cân đậu để ngày hôm sau thổi xôi, ngâm vào bao nhiêu chậu thì sáng hôm sau, tất cả bốc mùi thối hết, một việc chưa xảy ra bao giờ. Dưới nghĩa trang thì việc bốc mộ cũng xảy ra sự cố. Tất cả năm người con trai của cụ Tổ đều cầm mỗi người một cái mai cùng mở nắp áo một lúc. Nhưng, cả năm cái đều…gẫy cán ! Cuối cùng thì nắp áo cũng mở ra được. Nắp vừa mở, các cụ nhìn vào trong, bỗng có cụ ngã lăn ra bất tỉnh. Bên trong, xác cụ Tổ ngoại còn nguyên, toàn thân trắng như tuyết. Nắp áo được đậy ngay lại. Ngay lúc đó các cụ vẫn không hiểu rằng cái mộ của Tổ ngoại của mình đang trong giai đoạn phát, chưa thành. Người hiểu chuyện thì nói rằng, cái lộc đó đã bị chính con cháu vì không tin hay chưa nghe nói đến bao giờ, trong làng cũng chưa có hiện tượng nào như thế ở các phần mộ, nên tự mình phá đi. Thời gian sau đó, năm cụ lần lượt qua đời hết, con cháu cũng sa sút.


Ông chú họ của Cẩn còn nói rằng, trước ngày các cụ bốc mộ cho Tổ ngoại, không nhớ là bao lâu, đã có chuyện xảy ra rồi, song các cụ không tin việc đã xảy ra, lại còn nghĩ rằng Tổ ngoại qua đời đã lâu và vì không nên để lâu hơn nữa, nên mới bốc mộ ấy. Đó là việc ông xã Thức, người cùng làng, mời thầy địa lý về tìm đất tốt để cải táng mộ cha. Thầy địa lý chỉ vào ngôi mộ của Tổ ngoại trong họ hàng của Cẩn, bảo mộ này có phát, nếu có đức thì mới được. Hai người con trai ông xã Thức đem cái tiểu sành hài cốt của ông nội mình, đang đêm đào huyệt đặt cạnh mộ ấy. Sáng ngày hôm sau, cái tiểu sành bật tung khỏi mặt đất, dựng đứng lên. Ông xã Thức phải rời huyệt bố mình đi chỗ khác. Và chỉ ít lâu sau, cả hai anh em trai nhà ấy đều chết. Gia đình này tuyệt tự từ đó. Riêng dòng họ của Cẩn, có một thầy địa lý nói rằng, mộ ấy sẽ phát trở lại, sau 60 năm nữa, ứng vào bên ngoại.


Một chuyện khác liên quan đến sự sa sút của dòng họ nội của Cẩn, đó là việc mở một con mương khơi dòng nước đi qua khu vực dòng họ của Cẩn ở, con mương này có một cái mạch chạy phía dưới mộ của một người nữ trong họ. Người ta bảo con mương đã cuốn trôi hết phúc lộc của cả một dòng họ này, còn cái mạch chảy bên dưới mộ một người nữ kia thì mang theo lộc về cho bên họ nhà chồng của mình. Trong thực tế thì việc này được minh chứng là có như vậy. Nghĩa là một số người nữ trong họ đi lấy chồng, đều giúp cho nhà chồng phát triển, cả về tinh thần và vật chất. Trái lại, các người nam thì hầu như không phát triển được gì, họ không nghèo lắm nhưng cũng không giàu. Họ có chung một mẫu người là chất phác, hiền lành, chịu đựng, thương vợ con, không ham danh lợi, không màng phú quý, sống an phận. Từ ngày Cẩn khôn lớn, đất nước trải qua hai cuộc chiến với những biến động hãi hùng, máu và nước mắt đổ ra khắp mọi miền, từ thành thị đến thôn dã, người nằm chết trước cửa chùa và ngoài thánh đường, linh mục thì gục chết nơi bàn thờ tế lễ v.v…, những người nam trong dòng họ Cẩn không một ai làm lớn trong chính trường hay quan quách trong hàng binh lính. Chỉ có hai người, làm quan vừa thôi. Một người thuộc ngành nữ, Nguyễn Văn Đông, Cẩn chỉ nghe nói mà chưa gặp mặt bao giờ. Trong gia đình ông, người nào cũng theo họ cha, riêng ông theo họ mẹ. Ông theo kháng chiến từ ngày đầu, “chính ủy” của một đơn vị lớn. Sau một chiến thắng lừng lẫy, nghe nói trận Hòa Bình năm 1950 (?), chiến lợi phẩm thật nhiều. Với cương vị của mình, ông đem phát hết cho lính, không giữ cho mình một cái gì. Ông bị kỷ luật và tự ý xin giải ngũ, về quê vợ sống. Ra đi thanh thản. Còn người kia, Nguyễn Văn Bảo, ngành nội ở bên này, em họ của “chính ủy” kia, gần 30 năm trong hàng quân, cầu vai vẫn chưa có gắn sao, chỉ một thời gần kết thúc cuộc chiến, ông hai lần làm “ông Quận trưởng” tại hai địa bàn giáp với chiến trường, đúng hơn giáp với chiến khu của địch quân. Một lần ông muốn nhảy lên đấu trường Bến Nghé, song quá nhiều gai góc, nên phải rút lui. Ông cũng trong sạch, cuộc chiến tàn, ông tay trắng. Những ngày đi cải tạo ở Vĩnh Phú, người chị ruột ở quê thỉnh thoảng lên thăm ông, có gì ăn cái nấy. Còn vợ con ông trong Sài-Gòn, hy sinh, chịu đựng. Gần mười người con, trai gái có đủ, trưởng thành, chăm chỉ, sống an vui.


Chính trường không là “đất sống” của phái nam trong họ hàng Cẩn. “Đất” ấy ở bên ngoại. Có vị cao tuổi trong họ ngoại nói rằng, ông Phạm Đức Minh đã ứng vào lời ông thầy địa lý nói về cái mộ ấy. Ông là cháu ngoại (chi thứ nhất, đời thú hai) của cụ Cao Tổ họ nội của Cẩn. Chính ông Minh đã gửi Cẩn cho ông chủ có con tàu chạy đường sông Tân An – Mộc Hóa.


... CÒN TIẾP ...


@.Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 05.10.2016.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004