Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




GIAN NAN LÀM NGƯỜI






Chương 7.


CON CHÓ TAI HUYỀN


  N gày trước ở góc đình làng Vân nơi tôi tản cư có một túp lều nhỏ. Đó là nhà của ông lão hát rong. Ông ta không có tên đến từ đâu mọi người cũng không nhớ. Chỉ biết rằng có một chiều thu lá vàng bay lao xao trước gió, tại góc chợ

đầu đình vang lên tiếng hát và tiếng đàn. Ai hát mà hay thế

Này anh Khóa ơi

Em tiễn chân anh đến tận bến tầu.

Lời phân ly em chưa cạn

Con tàu nó đã quay

Tiếng hát như đau, như xé vào lòng người. Ông lão hát rong chứ không phải là hát xẩm bởi ông ta còn tinh mắt. Chỉ phải cái hình hài quá đỗi thảm thương. Một chân bị tật èo ợt lắt lay, suốt ngày ông ta ngồi xệp mà hát, chỉ có lúc đi lê về đầu đình nguời ta mới phát hiện ra.

Nhà tôi ở gần chợ, gần túp lều của ông nên ngày nào tôi cũng sán vào xem ông đánh đàn, nghe ông hát. Cái đàn gì mà có một hộp gỗ dài, một cần tre vút cong, một sợi giây thép căng qua lòng vỏ bầu bằng gỗ tiện. Bàn tay ông ngả nghiêng theo đàn hát Kiều, Nhị độ mai, Phạm công Cúc hoa. Ai muốn tích gì cũng chiều ý. Tôi nhớ mãi bài hát

Này anh Khóa ơi

Người ta thì lắm bạc nhiều vàng

Sao anh chẳng vào luồn ra cúi để vênh vang với đời.?

Khi nhớ về ông lão hát rong tôi lại nhớ chuyện con chó tai huyền của ông nhiều hơn, vì từ chuyện con chó này mà tooicamr nhận được ý nghĩa những lời hát. Ông lão nghèo nhưng không hèn, bằng tài hoa của mình mà kiếm sống, bằng tiếng hát giúp đời đạo lý làm người nên đã sớm có bè bạn. Bác Hai Thìn nói với ông :

-Này ông lão ơi, nhà tôi có ổ chó đẹp lắm, tôi biếu ông một con đấy, nuôi cho vui cửa vui nhà.

Nghe nói thế ông lão mừng lắm :

-Thế thì quý hóa quá, lão mà có một con chó thì vui lắm. Bao giờ nó đầy tháng tôi sang xin ông.

Ngày chó đầy tháng, ông lão lần đến nhà bác Hai Thìn ngắm nghía đàn chó con . Nói thật ra cảnh hai nhà cũng không hơn gì nhau, nên ổ chó cứ như nắm dẻ khoai vo lại nằm cuộn với nhau. Lão ngắm kỹ rồi bất ngờ ném cái đóm lửa vào ổ. Con chó mẹ hực lên một tiếng nhổm ngay dậy, mắt nó long lên, nhe răng gừ gừ rồi đớp vội một con tha ra phía sau. Cái đóm tắt ngấm trong ổ - chủ nhà kinh ngạc nhìn. Ông lão vẫn ngồi như không có chuyện gì xẩy ra, con chó mẹ thấy yên lại tha con về chỗ cũ, mấy mẹ con quấn lấy nhau.

-Chú Hai ơi, chú có lòng tốt cho tôi vậy tôi xin con này- ông chỉ vào con chó mà mẹ nó vừa tha ra – nhưng để cho có khước chú vui lòng cầm lấy mây hào gọi là mua đứt bán đọan để cho nó có chủ mà thờ.

Từ khi về với ông lão, con chó trở nên cao ráo đẹp dáng và khôn, nó hiểu ý chủ, biết giữ nhà. Chiều chiều sau khi đi hát về, cơm nước rồi ông ngồi vuốt ve con chó thủ thỉ tâm sự. Nó ngước mắt nhìn ông, dúi dúi cái mõm vào lòng bàn tay như muốn chia sẻ với chủ mà không nói nên lời.

Con tai huyền càng lớn càng nhanh nhẹn nhưng nó có tật xấu là tự đắc và hiếu thắng đe dọa mọi địch thủ bén mảng tới lãnh địa của nó.

Chủ nó chỉ ở túp lều góc đình nhưng nó tự cho mình có quyền cai quản cái cơ ngơi đồ sộ ấy, nên thường đứng choạc chân trước cửa đảo mắt nhìn quanh, chỉ thoáng thấy bóng các ccon chó khác nó đã gừ gừ nhe nanh dọa dẫm. Ông lão tàn tật hình như cũng cảm thấy điều đó nên tiếng đàn của ông trong đêm lại kể lể khuyên răn điều nhân nghĩa. Nhưng con tai huyền đâu hiểu được điều đó. Tuổi lớn và tính tham ăn đã đưa nó xa dần chủ, túp lều chỉ còn là nơi nó chạy về phang mấy đòn gánh hoặc bị trẻ con ném đá. Những lúc đó ông lão lại xoa xoa nói :

-Con ơi, đời nhiều vất vả gian truân lắm, đừng có thị hùng kiêu ngạo mà khổ, đừng tham ăn mà mang nhục Phải nhớ lấy câu :

Con không chê cha mẹ khó

Chó không chê chủ nghèo

Nó nằm rên ư ử ra vẻ hối lỗi

Câu chuyện về ông lão hát rong và con chó Tai huyền đã là một bài học luân lý mà tôi được chứng kiến.



Chương 8.


CHÚ TIỂU ĐI HỌC TRƯỜNG CHU VĂN AN


  T ôi trở thành đệ tử nhà Phật trong một giai đoạn gay cấn của gia đình Đó là năm 1952 sau khi dự thi tốt nghiệp Tiểu học với danh nghĩa “thí sinh tự do” tôi đã trúng tuyển. Vui mừng quá. Thế là gần 7 năm từ khi mất cha, rồi chiến tranh xảy ra, gia đình đi tản cư lang thang hết nơi này đến nơi kia. Đến ở đâu, dù chưa biết là được ở lâu hay ngắn nhưng mẹ tôi cũng tìm cách xin cho anh em chúng tôi được đi học. Hai anh em đã ngoan ngoãn bảo nhau học ở thầy, ở bạn, ở trường, ở sách vở mỗi nơi một ít kiến thức góp lại thế mà thi Tốt nghiệp Sơ Học Yếu Lược lại đỗ cả hai. Bây giờ phải tính đến chuyện phải thi vào trường Công để học cho thành tài. Hai anh em nộp đơn xin thi vào trường Chu Văn An. Thời gian này trường Chu Văn An ở tại phố Cửa Bắc , cạnh ngã tư Phan Đình Phùng – Nguyễn Tri Phương bây giờ.

Một ngày đầu thu năm 1952 chuyến tàu điện từ Bưởi chạy đến quãng số nhà 75 Quán Thánh thì dừng lại ở bến tránh. Trời mưa rào, gió đập các hạt mưa lộp độp trên nóc toa rồi chảy dài xuống cửa. Anh em tôi xuống tàu đến trường .

Hôm nay là ngày học sinh đi thi tuyển vào lớp đệ Thất trường Trung học đệ nhất cấp Chu Văn An. Từ sáng mẹ tôi đã dậy nấu cơm cho cả nhà ăn , xem xét các con chuẩn bị bút, thước và giấy nháp đến trường. Mỗi người mang theo một tờ đơn dự tuyển, tự tay viết theo mẫu đơn nên chữ to như con gà mái ghẹ. Tấm ảnh dán ở góc đơn có dấu đỏ đóng trùm lên một góc làm lấm cả áo sơ mi tôi đang mặc.

Nước mưa lạnh rơi trên vai, lạnh cả dưới bàn chân đi đôi dép cao su “Con Hổ” màu trắng có quai hậu, món hàng xa xỉ đối với anh em tôi hồi bấy giờ. Anh tôi giục “ Đi mau lên, sắp trống rồi đó” Tôi nhìn đồng hồ nhà dân thấy mới chỉ 7h20 còn lâu mới đến giờ thi, nên trả lời “Cứ nhẩn nha aanh ạ”

Mấy quả bàng chín vàng bị gió lắc rơi ngay trước mặt

-Anh ơi, bàng rụng nhiều quá.

Cái tuổi thơ ấy đứa trẻ nào mà chẳng thích ăn bàng. Quả chín, cùi bở vừa thơm vừa ngọt, quả nào còn ương hơi có vị chát. Chúng tôi thường ăn hết cùi thì xếp hạt bàng lấy gạch đập để khêu nhân. Ở Thường Tín phải lên đường số 1 mới có, thế mà ở đây bàng chín rơi ngay trước mặt

Tôi quên cả xấu hổ nhặt vội quả bàng khỏa nước mưa rồi đưa lên mồm nhai. Từ chỗ đỗ tàu đến phố Cửa Bắc có mấy quả bàng ngon tôi đều nhặt và ăn hết. Quên cả một lúc nữa thôi sẽ là một cuộc thi căng thẳng đọ sức với những bạn học có cơ bản, trường lớp cẩn thận để dành một chỗ ngồi học trường Nhà nước. Cuộc thi khắc nghiệt năm ấy tôi đã đỗ vào lớp Đệ Thất, còn anh tôi thì trượt. Ngày người ta báo tin về quê, mẹ bảo anh “Từ xưa nay vẫn vậy cùng là một dịp đi thi, người thì đỗ Trạng, người thì về không. Con không đỗ vào trường công thì mẹ xin cho con vào trường tư. Không phải buồn”.

Tôi đã học hết một niên học 1952-1953 lớp Đệ Thất B3 tại Chu Văn An, nhưng đến hè năm 1953 thì gia cảnh nhà tôi không thể cáng nổi việc nuôi hai đứa lớn đi học, hai đứa bé chưa làm nổi việc gì. Nguy cơ thất học là có thật và cái đói đang dần đến.

Năm mẹ con bỏ làng lưu lạc theo đường Láng –Ngã tư sở rồi trọ lại một ngôi chùa ven sông Tô Lịch. Hàng ngày, anh em tôi đi làm thuê cho một nhà hàng đậu phụ, còn mẹ tôi đi dọc sông kiếm củi bán kiếm tiền từng bữa.

Một hôm sư trụ trì rỗi việc đi xuống nhà ngang. Đó là một vị sư già, cuộc sống tu hành đạm bạc tạo cho người một dáng phiêu phiêu thóat tục. Bàn tay dàì ngón nhưng cánh tay đã nhăn nheo, bàn tay phải luôn cầm theo một chuỗi tràng hạt lên màu đen nâu bóng nhẵn. Hôm ấy mẹ tôi mệt nằm nghỉ ở cuối nhà, bốn anh em đang quây quanh chẳng biết làm gì. Nhà sư lên tiếng :

-Thí chủ và các cháu sao vậy ?

Nghe tiếng hỏi, mẹ tôi mở mắt nhìn và khi nhận ra nhà sư trụ trì bà chắp tay trả lời :

-Adi đà Phật. Bạch cụ hôm nay con chẳng may bị cảm nên ở nhà, cụ quá bộ xuống thăm con không biết , xin cụ đại xá cho.

-Ấy chết sao lại khách khí thế. Nhà chùa nơi đây đón người đến nghỉ là chuyện thường tình. À mà thầy chưa hỏi bà và các cháu người ở đâu ta?

Mẹ tôi thật thà kể lại cuộc đời và quê quán Câu chuyện khiến cho nhà sư có vẻ trầm mặc, cụ ngồi im lắng nghe. Ngoài hiên nắng nhạt lúc nào không biết, chợt cụ quay vội ra sân nhìn trời rồi nói

-Câu chuyện của bà cũng là một nỗi khổ, nhưng trần ai còn nhiều nỗi khổ. Máu đổ, đầu rơi làm chét bao nhiêu sinh linh, bao nhiêu nhà tan cửa nát. Vậy ta khuyên thật đừng nghĩ mình là khổ hơn người khác, hãy gắng lên. Bay giờ chiều rồi, ta phải lên Tam bảo làm lễ Phật, có dịp ta sẽ nghĩ cách giúp.

Sư cụ quay lên nhà trên, mấy mẹ con vẫn bàng hoàng như vừa trải qua một giấc mơ. Nhà chùa đã cử một sư bác mang cho ấm lá thuốc và mấy phẩm oản lộc. Có thuốc để uống, có lộc Phật để ăn đỡ lòng, bữa ấy tự nhiên mẹ tôi khỏe hẳn.

Bẵng đi một thời gian ngày hè đã sắp hết mà chúng tôi còn ở một nơi xa lắc không biết có về học trường cũ được không hay phải bỏ học ? Thuở ấy thi đỗ vào trường Trung học Chu Văn An đâu phải dễ. Ngay lớp 7B3 cũng đều là con nhà quyền thế, giàu sang ở Hà Nội. Các bạn ấy từ cái áo sơ mi, cái quần sooc, cái cập sách cũng đều sang trọng Thế mà nay tôi phải chịu thua không đua tranh cùng họ trong các buổi học hay sao ?

Đang lúc phân vân thì sư cụ lai đến dẫn theo một vị sư nữa đã cao tuổi nét mặt cũng hiền như Phật . Sư cụ nói :

-Hôm nọ thầy đi hạ nhân kể chuyện về gia cảnh của thí chủ và các cháu, thương vì cậu này (thầy chỉ vào tôi) có sức học mà không thể tiến được vì hoàn cảnh nghèo. Nên xin với chư tăng một việc thiện là nuôi cậu này trong chùa và cho đi học để giúp ích cho đời sau này. Vậy nay thầy Thanh Hoàn sẽ nhận cháu làm môn đồ, cháu hãy theo thầy về chùa mới. Công việc thế nào thầy sẽ dạy cháu sau.

Đêm hôm đó tôi được nhà chùa cho ở lại để chào mẹ, chào anh và các em. Mẹ tôi bảo “ Con hãy cố gắng đi theo cụ Thanh Hoàn mà học. Nếu mà Phật tổ phù hộ thì sau này con sẽ nên người. Mẹ chỉ giữ con đến đây thôi ”

Hôm sau từ biệt ngôi chùa cổ bên dòng Tô Lịch có hai người cùng đi. Đó là sư thầy Thanh Hoàn và người học trò cậm cụi cùng cuốc bộ đi ngược con đường Cầu Giấy về nội thành Hà Nội.

Tôi đi theo thầy, ôm chặt vào ngực cái cập da, quà tặng của bác thợ da cùng trọ tại chùa. Biết anh em tôi là học sinh trung học lại từ vùng tự do về đây để học nên mọi người có vẻ mến. Bác thợ da cũng đến thăm, tặng cho tôi cái cập và nói “Tôi biết ít chữ lắm, chỉ biết làm bằng tay thôi. Em được nhà chùa cứu giúp thế này là duyên số đấy. Chúc em đi mạnh giỏi nhé.”

Thầy Thanh Hoàn vẫn đang dự lớp học hạ ở chùa Quán Sứ. Một tuần sau thầy nói với tôi :

-Hôm nay thầy làm lễ thế phát cho con. Thầy đã lo đủ hành lý áo quần của một chú tiểu. Nhưng thầy còn bận học hạ, học xong thầy về chùa cũ, con mà theo thầy thì không được đi học nữa. Làm như thế hóa ra thầy đã lừa dối các cụ trong lớp, lừa dối gia đình nhà con. Vậy từ mai thầy sẽ đưa con trọ tại một ngôi chùa sát với trường học . Con tu ở đó. Hàng ngày đi học về hãy làm các việc theo bổn phận mà nhà chùa giao cho. Thầy không ép con phải đi tu suốt đời nếu con không muốn mà chỉ đặt một cái cầu đỡ bước cho con trong lúc này. Nhưng con phải nhớ là học cho giỏi đừng phụ lòng Phật tổ từ bi

Đêm hôm ấy tôi được cạo trọc đầu, thay quần áo học sinh bằng bộ quần áo dài, áo cánh nâu và chiếc áo dài cũng mầu nâu. Thầy lo mua cho tôi cái mũ vải đội đi học đến đôi săng đan. Tất cả một mầu nâu. Lễ thế phát không có không có một nén hương và nghi thức nào nhưng từ đáy lòng tôi có một cảm xúc trào dâng. Tôi đã khóc vì hàm ân lớn mà tôi được hưởng, đời nay còn ai hơn thầy nữa đâu !

Từ buổi ấy tôi đã là chú tiểu trong chốn Phật môn, ngày ngày cấp cập đi học như một học sinh trần thế, tiếp tục học lớp Đệ Lục B3 niên khóa 1953-1954

Là chú tiểu được nửa năm, một hôm tan học về tôi được gọi lên phòng của Thầy Nghiêm. Lạ quá, tôi cứ tự nghĩ mình đã có lỗi gì mà sao các cụ không gọi lên nhà trai để sám hối mà lại gọi riêng đến phòng thầy chủ tự

-A di đà Phật. Bạch thầy con đã tới.

-Chú Ty đấy à. Ngồi đấy chờ ta.

Thầy dời bỏ quyển kinh đang đọc bước đến nhìn đăm đắm vào mặt tôi như tìm hiểu xem đây là ai. Tôi cũng sợ. Đứng trước vị cao tăng không dám thở mạnh, chắp tay trước ngực cúi mặt xuống chờ nghe. Lát sau mới thấy thầy hỏi nhẹ nhàng :

-Có phải chú là con ông lang ở ga Thường Tín không ?

-Bạch thầy vâng ạ

-Thế tại sao chú tìm đến cửa Phật

-Bạch thầy mẹ con đã nói rõ với nhà chùa rồi ạ

-Điều này ta đã biết, nay hỏi thêm chú : ông lang ở Thường Tín vì sao lại chết ?

-Dạ, hồi ấy con còn nhỏ chỉ biết là sau hôm Pháp càn về ga Thường Tín bố con bị chết cùng một người nữa.

-Ai bắn chết ?

-Dạ, con chưa biết

Thầy chợt nói “ Ta tạm dừng câu truyện ở đây. Con về hãy suy nghĩ trả lời câu hỏi của ta. Ta dặn câu này : con không dược nói với ai nghe rõ chưa”

Môn quy nhà chùa rất nghiêm, các sư thầy dặn điều gì là tiểu răm rắp làm theo không được hỏi. Tôi về giở sách học bài nhưng không sao yên lòng được . Phút chốc trong tâm tưởng hình ảnh những ngày thơ bé lần lượt trở lại. Trận càn năm 1947- người ta đến báo tin bố chết- mẹ tôi lăn ra khóc dưới ruộng- cả nhà bác Hai nhốn nháo

Lúc cả nhà lên cánh đồng vồi để chôn bố tôi , vavs chị xì xào kể lại : bọn Pháp bắn chú Ba trong lúc đang cõng thương binh chạy, đạn xuyên làm chết cả hai người. Một tia sáng lóe lên : câu trả lời thầy hỏi tôi đã tìm ra .

Hôm sau thầy Nghiêm lại gọi tôi lên hỏi :

-Con trả lời câu hỏi của ta được chưa ?

-Bạch thầy con nhớ ra rồi . Bố con chết vì bị quân Pháp bắn cùng với mộ người nữa ạ

-Vậy thì Pháp tốt hay xấu ?

-Bạch thầy quân Pháp xấu ạ

-Con đang đi học tại Chu Văn An lại gần trại lính Pháp hàng ngày có thấy các anh lớn bị chúng bắt không ?

- Dạ . Có thấy ạ\

-Vậy thì con hãy nhớ trong lòng : là nên làm việc thiện để giúp các anh ấy không bị chúng nó bắt đi lính

-Bạch thầy con biết làm gì ạ, con còn bé quá.

-Con đã lớn rồi, nhiều thiếu niên ở tuổi con họ dã làm giỏi hơn con, rồi đây sẽ có lúc con được giao việc.

Lúc này đang là tháng 3 năm 1954, cuộc chiến ở Điện Biên Phủ thu hút hàng vạn quân Pháp. Để chắp vá lực lượng, Bộ chỉ huy Pháp bắt lính tràn lan trong thanh niên. Đã nhiều lần tôi chứng kiến cảnh các anh lớn chạy từ ngoài phố vào trong trường lẩn vào học sinh để trốn lính. Những lúc như vậy, giám thị đi từng lớp để kiểm tra sĩ số, nhưng vẫn có người được học sinh che chở, trốn thoát. Một hôm trống ra chơi vừa điểm, tôi ra cửa lớp thì gập một anh đi đến nửa đùa nửa thật hỏi to “sư này có phải gái giả trai không nhỉ” rồi anh bế tôi chaỵ lên cầu thang, vừa chạy vừa nói to “ lên đây xem có phải là Hồn Bướm mơ tiên không nào” Học sinh đứng dưới sân cười ồ, không ai nghi ngờ điều gì.

Khi lên đến tầng Ba, anh để tôi xuống cười nói “ xin lỗi em, anh đưa em lên đây làm nhiệm vụ đấy” Anh đưa tôi một tập giấy rồi nói nhanh “tung xuống sân xong chạy ngay” Cả hai tung ào nắm truyền đơn. Tôi nhô đầu nhìn theo những tờ giấy trắng bay lượn lên lượn xuống theo chiều gió trông đẹp như đàn bướm quên nguyên tắc bí mật là phải giữ kín hành động.

Việc trong sân có truyền đơn khiến giám thị chặn vội các cầu thang, Họ bắt được tôi khi đang xuống và đưa vào phòng hội đồng. Nhiều khuôn mặt lạ đang ngồi ở đó. Quần áo bị cởi hết ra, tôi trần truồng trước mặt các vị và trả lời từng câu hỏi

-Ai tung truyền đơn ?

-Thưa tôi không biết.

-Không biết sao mày lại đứng đấy mà xem ?

-Dạ, hình như tầng trên bay xuống con thấy lạ nên nhìn theo

-Tại sao giờ ra chơi không xuống sân ?

-Dạ, con là sư, người tu hành không ưa đùa nghịch nên không xuống sân

-Có trông thấy đứa nào chạy qua cầu thang không ?

Tôi bị căn vặn nhiều câu, nhưng có lẽ cái vẻ nhà sư ngờ nghệch của tôi đã được giám thị cho là vô can trong vụ này, đến gần hết giờ mới cho phép mặc quần áo đi về.

Về chùa, tôi cất cập sách và lên buồng thầy Nghiêm thì thầy đã đi khỏi chùa từ lúc nào không biết nữa



Chương 9.


GIẢI PHÓNG


  H ọc hết Đệ Lục thì vừa lúc chiến thắng Điện Biên Phủ rồi Hiệp định Genève được ký ngày 20/7/1954. Hà Nội trở thành một vùng chờ ngày giải phóng . Không khí các nơi cứ như nóng lên vì những tin đồn, những chuyện rủ rê người di cư vào Nam

Thấy cơ sự đã đến ngày vui, mẹ tôi đến chùa thưa với cụ Đàm Tiệm xin cho tôi được hoàn tục. Nhà sư trầm tĩnh nói

-Tôi được thầy Thanh Hoàn gửi nuôi chú Ty để học, nay ý gia đình đã vậy cửa Phật cũng không giữ người lại. Chúc em về nhà học tập cho tốt, giúp đỡ mẹ cũng là người có đạo em ạ.

Mấy mẹ con tôi về làng cũ, sau máy năm tạm chiếm bị o ép đủ bề , tuy quân Pháp còn đấy nhưng bà con tin chắc ngày trở về của đoàn quân jhasng chiến nên không e dè nữa. Mấy đứa bạn tôi tối tối đến gọi “ Đi lên đình, Ty ơi” Đình làng còn lại một ngôi nhà nhỏ nằm giữa gạch vỡ ngổn ngang, khộng có đèn điện chiếu sáng, chúng tôi bí mật đi hai , ba người lẻn vào đấy. Sau khi điểm danh, anh phụ trách nói nhỏ

- Hôm nay anh dạy các em bài hát “Giải phóng Thủ đô”

Các bạn có thể tưởng tượng trong cái bóng đêm nhập nhòa ánh nến có 12

đứa trẻ cùng cất giọng hát “ Khi đoàn quân tiến về ...” và mơ đến ngày đón bộ đội.

Hàng ngày xe nhà binh Pháp vẫn chạy ngược, chạy xuôi , từng tốp hiến binh cao lớn lăm lăm tiểu liên vẫn tuần tra liên tục trên đường. Nhưng trong các làng mọi người đang sống bằng tâm trạng háo hức bằng tâm trạng háo hức. Thật là kỳ lạ. Bây giờ mới thấy nhà nọ kể với nhà kia về người con yêu dấu của gia đình đang ở ngoài kháng chiến. Có nhiều chị may áo sơ mi, để tóc kiểu kháng chiến và nhà nhà may cờ đỏ sao vàng.

Đã sang tháng 10/1954, theo Hiệp định Genève và thỏa thuận đã ký ở Trung Giã thì ngày 10/10/1954 là ngày Quân đội Nhân dân Việt Nam tiến về Giải phóng Thủ đô

Để đón chào bộ đội, mừng ngày giải phóng nhân dân tự động tổ chức các công việc chuẩn bị cờ đỏ sao vàng và viết khẩu hiệu lên tường, làm cổng chào trên đường chợ Bưởi để đón quân ta đi qua,

Tôi còn nhớ làng tôi lúc đó có ông Ký viết chữ đẹp lắm được các cụ giao cho việc kẻ vẽ các khẩu hiệu. Nhưng mà nội dung là gì nhỉ ? Người nọ hỏi người kia không ai dám quyết. Cuối cùng các cụ thống nhất câu “Hồ Chủ tịch muôn năm” và “Hoan nghênh Quân đội nhân dân Việt Nam về giải phóng Thủ đô”. Ông Ký mua mấy hộp sơn mầu đi dọc làng thấy tường nhà ai sạch đẹp là hạ bút viết ngay. Nhà ai cũng vui vẻ nời ông viết lên, có nhà còn quét vôi sẵn để chờ ông đến. Ai cũng hãnh diện bởi có dòng khẩu hiệu cách mạng trên tường. Các anh thanh niên thì tập trung tre gỗ làm khung cổng chào. Vốn quen những động tác cắm trại , họ làm khung chắc chắn chờ lúc quân Pháp rút khỏi đồn Bưởi là đào đường dựng lên

Đó là một ngày hội, một ngày vui mà không ai có thể quên được . Chín năm trong tạm chiếm nay một sớm bừng lên ánh nắng thu, đoàn quân áo xanh về như từ phép Tiên hiện ra, thân thương và oai hùng biết bao. Nhờ có những đêm học hát , Đội thiếu nhi Yên Thái đã thuộc các bài từ “Quốc ca” cho đến “Giải phóng Thủ đô, Giải phóng Điện Biên” Chúng tôi cũng mua được bộ trống tập đánh theo nhịp, hôm ấy được dân làng cho phép đứng lên phía trước. Ai cũng muốn làm một vài nhịp trống, chỉ mới thuộc “ Rình...ta ta rình ” thôi nhưng nghe đã là nhịp quân hành nên thích lắm

Một cánh quân đi từ Cầu Giấy lên đã rx về đường chợ Bưởi. Quân đi tới đâu, có tiếng reo tới đấy và như đồng loạt phố Yên Thái này bỗng như cùng chung nhịp cờ đỏ sao vàng bừng sáng lên . Thằng Quang rối rít thúc trống, rồi cuống lên không thành nhịp nữa, giơ cả hai tay lên hoan hô. Lúc đầu cả đội chúng tôi gân cổ hát để đón đoàn quân, nhưng sau đó tiếng hát của mấy đứa trẻ chìm trong tiếng reo của hàng nghìn người dân đang ùa ra từ các cổng làng, đứng chật hai bên đường.

“Bộ đội mình đấy” có người vừa chỉ, vừa nói như giớ thiệu về quân ta. Đi đầu hàng quân là ba chiến sĩ mang lá quân kỳ. Người nào cũng có thắt lưng ngang áo ngoài, có anh đeo huân chương. Lá cờ của đơn vị được người đi giữa hai tay giương cao. Đi hai bên lá cờ là hai chiến sĩ ôm ngang ngực khẩu súng có băng đạn cong chéo. Đoàn quân xếp hàng đi thường, cứ thế họ mang tươi vui về mọi nhà.

Bộ quần áo màu xanh, mũ nan bọc vải vẫn còn vài dây mảnh vải dù buộc ở trên phất phơ bay như có con bướm lượn. Anh nào cũng đi giầy vải bước nhẹ theo nhau

Các bạn ơi, những ngày trong tạm chiếm chỉ nghe tiếng giầy đinh rầm rập nay quân mình đã về mà êm nhẹ như thường, chỉ cái cảm giác đó đã làm lòng người xôn xao khác lạ.

Chúng tôi cứ như bơi trong nỗi vui của mọi nhà, nhiều đứa đã bỏ hàng ngũ chạy ra đường cứ tăng tăng bước theo. Trẻ con ra được thì người lớn cũng xô ra theo, có chị mạnh dạn tung cả nắm hoa vào các chiến sĩ. Có bà mẹ níu tay anh chiến sĩ mà hỏi “ Anh có thấy thằng Huy nhà tôi không ? Nó cũng đi bộ đội như các anh đấy !”

Làm sao mà biết được anh Huy có đi cùng đoàn quân này. Năm cánh quân chia theo năm cửa ô cùng lúc tiến vào Hà Nội. Đây mới chỉ là một đơn vị nhỏ. Ai cũng biết như vậy nhưng không ai dám trả lời mẹ là không gập. Anh bộ đội chỉ dừng lại, ôm lấy mẹ rồi nói “ Mẹ ơi . Chúng con đã về. Anh Huy của con cũng về đây. Mẹ yên tâm “

Người đi cuối cùng đoàn quân là các chiến sĩ anh nuôi. Lần đầu tiên người vùng tạm chiếm trông thấy các chiến sĩ nuôi quân Họ gánh theo đơn vị những cái nồi, chảo lớn chĩu nặng bên vai, đòn gánh nhún nhẩy như đi quẩy lúa, tay giữ đòn gánh, tay vung vẩy “hoan hô”

Đoàn quân đày sức mạnh đạp lên đầu thù trong kháng chiến nay trở về Hà Nội hiền lành như vậy đó.

Các anh đã về. Ngày Giải phóng Thủ đô đã mở một trang sử mới. Trong mỗi đứa trẻ tham gia đón đoàn quân về ngày ấy đều có một ấn tượng, một ước muốn : “Vì nhân dân quên mình”. Và đó là động lực cho chúng tôi sau này cống hiến trên mọi miền đất nươc.

Đã quá ngày khai trường, nhưng Trường Chu Văn An còn bận rộn việc thu dọn tu bổ các phòng học. Ba tháng vừa qua, ngôi trường ở Cửa Bắc bị chính quyền Pháp dùng làm nơi tạm trú cho người di cư. Buồng nào cũng bị hư hỏng bàn ghế, hành lang bừa bãi các bếp đun, chiếu rách vứt khắp nơi. Còn trường học cũ ở phố Thụy Khuê thì là trại Lính Dù. Nay quân Pháp đã rút đi, nhưng bom đạn còn đó, chưa thể cho người vào được.

Học sinh vẫn được tạm nghỉ . Bọn trẻ suốt ngày lẽo đẽo chạy xem bộ đội nghe bộ đội kể chuyện chiến đấu. Đơn vị thành lập một đội tuyên truyền hát múa, phổ biến chính sách đối với vùng mới giải phóng. Đêm nào ở sân đình Yên Thái cũng có liên hoan. Chẳng có micrô như bây giơ thế mà tiếng hát nghe rõ. Tiếng đàn tiếng sáo nghe rõ. Nhân dân im lặng say sưa nghe hát, xem bộ đội khoác cái dải lụa xanh đỏ rồi múa quạt, múa sạp. Bộ đội hát, cũng lôi kéo chúng tôi hát và tập múa. Các bạn nữ hồi đó nhiệt tình lắm, nhiều nhân tài lắm. Cánh con trai cũng học cách diễn kịch, mà vở kịch được nhân dân hoan nghênh nhiều nhất lại là một vở kịch hát bài chòi “Hẹn ngày thống nhất” . Cậu Chỉ bạn tôi hát rất giống điệu khu Năm, ai cũng thích.

Bộ đội , cán bộ ở kháng chiến về, quân phục toàn kiểu áo đại cán, áo may có bốn túi là dành cho chỉ huy, áo may có hai túi là dành cho chiến sĩ. Cán bộ dân sự thì may áo bốn túi mầu xanh đen, mầu xanh nhạt hoặc vàng để phân biệt với áo quân phục. Không có quân hàm, cấp hiệu nên ra đường trông bình đẳng lắm. Nhưng bọn trẻ con cũng chịu khó quan sát phân biệt từ ngôi sao trên mũ dến đôi giầy nên rõ ai là chỉ huy cấp nào

Hai anh chị tôi hồi 1946 đi theo kháng chiến, sau 9 năm nay đã trở về nên ai cũng thấy là lạ. Chỉ có mẹ tôi là mừng, bà mời các ông bà xung quanh đến cùng chia vui. Nhìn tấm huy hiệu vuông đề chữ “Kỷ niệm Kháng chiến 1946-1954” cũng thấy các anh chị “oai” lắm. Thế mà họ chỉ cười, kính cẩn chào bà con trong họ ngoài làng

. Các anh chị hỏi tôi về tình hình học tập, về nỗi long đong 9 năm vừa qua. Làm sao mà một lúc nói cho hết được, bởi từ ngày cha mất đi rồi kháng chiến toàn quốc, gia đình chia hai ngả. Nay về đoàn tụ một nhà, nên mẹ tôi gạt đi , bảo rằng “ Bây giờ mẹ con, anh em cùng về nhà cũ, có hòa bình rồi kể chuyện cũ làm gì nữa!”

Việc dọn dẹp tại trường Bưởi cũ (Chu Văn An ngày nay) đã tạm xong. Chúng tôi làm một cuộc lao động lớn tập trung chuyển bàn ghế đến trường mới. Chia tổ nào mang bàn ghế tổ nấy, mỏi đâu nghỉ đấy. Có xe thì đẩy. Không xe thì vác vai, bám vào nhau mà khiêng. Đoạn đường từ phố Cửa Bắc lên trường là khá xa, nhưng chúng tôi cứ đi, hò hát mà đi nên chỉ trong buổi sáng lớp nào cũng đưa đủ bàn ghế đến trường mới. Mấy ngày sau, trường chính thức khai giảng biên chế lại các lớp.

Do năm học chuyển tiếp nên nhà trường vẫn giữ tên gọi các lớp theo hệ trung học đệ nhất cấp, trung học đệ nhị cấp. Năm ấy, tôi bắt đầu tiếp xúc với các thầy học ở kháng chiến về giảng. Đó là thầy Châu dạy Hóa học, thầy Tương dạy Giảng văn . Các thầy cùng học trò cũ (ở lại không di cư vào Nam) chan hòa vui vẻ, cùng nhau bàn soạn cách giảng dạy. Hồi đó bắt đầu có chế độ giáo viên chủ nhiệm lớp, mỗi lớp có một thầy theo dõi học sinh về sinh hoạt, học tập và tư tưởng.

Trường Chu Văn An nằm sát với Hồ Tây. Học sinh thường kéo nhau dạo chơi bên hồ. Gió thổi xôn xao từng lớp sóng. Trên mặt hồ những chiếc thuyền đánh cá bơi qua, bơi lại, tiếng gõ thuyền vang vang. Đứng bên này nhìn sang bên kia hồ, thấy xanh ngắt mầu của những làng xóm liền nhau. Nhìn xa hơn là cảnh núi Ba Vì với ba độ cao khác nhau in lên nền trời một mầu xanh đẫm tím

Chương trình học chú trọng vào các môn khoa học xã hội , những môn chính trị xã hội mà có một thời gian học sinh không được biết.

Giải phóng cũng đem lại sức sống mới cho làng Yên Thái quê tôi. Những người làng đi theo kháng chiến từ 1946 nay trở về tiếp tục mở mang nghề làm giấy. Ông cả Đại đưa vợ con về ngôi nhà cũ ở phía bên cạnh ngõ.Ông kể chuyện làm giấy ở trên Ấm Thượng, làm giấy ở xưởng Lửa Việt Phú Thọ. Dáng ông cao lớn, hai bắp tay cuồn cuộn gân cốt, ngày ngày tiếng sì soẹt kéo tầu (đánh bột giấy tan trong nước) đánh thức mọi người từ lúc 4 giờ sáng. Cái Nga bấy giờ còn nhỏ, ở kháng chiến về có khác, nó xăng xái mọi việc hơn là bọn bạn gái cùng tuổi, lại được cái hay cười và dễ gần bè bạn, thành ra ngõ nhà Nga các bạn gái hay đi qua ríu rít nói cười với nhau.

Nghề làm giấy nên cũng để lại nhiều hình ảnh về con đường của làng. Chưa có máy nước, chưa biết khoan giếng mà nghề giấy thì dùng nhiều nước lắm. Cả làng chỉ có một cái giếng đá đầu làng, nước lúc nào cũng sâu và trong vắt. Đã có câu ca dao kể về cái giếng này đấy

Kìa giếng Yên Thái như kia

Giếng sâu chín trượng, nước thì trong xanh

Đầu chợ Bưởi có miếu thờ vua

Có đường chính xứ lên chùa Thiên Niên.

Người làng gánh nước đi rầm rập trên đường. Mỗi tầu seo phải đổ khoảng 40 gánh mà làng có nhiều nhà làm giấy. Con đường làng to, rộng, nền gạch lúc nào cũng ướt đẫm. Đến trưa nắng, con đường đã khô nóng, lại trắng lên mầu giấy của các nhà đem phơi. Nghề giấy đã trở về thời kỳ hưng thịnh.

Những ngày đó ai nấy đều vội vàng lo công việc bởi họ còn tranh thủ buổi tối đi liên hoan văn nghệ hoặc họp dân vui lắm. Một cuộc sống mới trong chế độ Dân chủ Nhân dân đang thay đổi nếp sống mọi nhà đưa làng tôi tiến tới giàu mạnh.


... CÒN TIẾP ...


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 05.10.2016.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004