Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





CẢM NHẬN VỀ TƯỢNG NGƯỜI TRÌNH DIỄN




S au mỗi hai năm định kỳ, Huế trở mình, huyền ảo lụa là như nàng công chúa trở giấc sau giấc ngủ mộng mơ, giữa cung điện lầu các uy nghiêm huyền sử. Mỗi kỳ lễ hội là một dịp dò tìm, khôi phục từng nếp xưa, tích cũ, đang chìm dần vào quên lãng thời gian, là dịp để làm mới, trang hoàng lộng lẫy thêm trên những phế tích, điện đài theo đặc tính nhân văn, lịch sử của đất cố đô, đồng thời hội nhập biết bao tinh hoa văn hóa, nghệ thuật từ các nước Á, Âu trên thế giới.

Nhìn dòng người từ khắp nơi hội tụ về đất Kinh đô đèn hoa rực rỡ, dưới nước trên cầu, tưởng rằng đó là thuần túy sự lao xao nhộn nhịp, qua những cảnh trưng bày, trình diễn hoành tráng giữa muôn nghìn đôi mắt đang háo hức nhìn ngắm, thưởng ngoạn, bình luận, phê phán…trong những ngày lễ hội. Nhưng điều ngạc nhiên lôi kéo mọi người là bên cạnh quang cảnh nhộn nhịp ấy, một cảnh trí hoàn toàn Định Tỉnh của những “TƯỢNG NGƯỜI TRÌNH DIỄN” níu chân du khách bên bờ sông Hương, khi trời bắt đầu vào đêm. Những người có một ít suy niệm về thiền học, tỉnh tâm… giữa luân lưu dòng đời và dòng người vô tận, sẽ nhận chân trong xao động cuộc sống hằng nhật, vẫn hiện hữu những giờ phút thật lắng đọng để thức tỉnh, tìm về …

Nhìn năm người (bốn nam, một nữ) được bôi đậm mặt mũi chân tay bằng nhiều màu sơn khác nhau, thay đổi trong nhiều đêm Festival ở Huế, những màu sắc trắng, đen, vàng, xanh, đỏ…mang ý nghĩa cấu tố sự khởi duyên của kim, hỏa, thủy, thổ… mà hình thành vạn vật sinh linh từ thuở khai thiên. Những màu sắc đó còn biểu hiện bằng sự sống khởi nguồn, sự đấu tranh để tồn tại, niềm đau khổ, hạnh phúc… bằng những gam màu tối tăm bôi phết trên những hình người bất động, tuy trái tim còn đập nhưng như là ngưng thở, tay chân còn đó nhưng thôi cử động, mắt nhìn mọi phương hướng nhưng chỉ thấy hư vô, đắm chìm nhưng lấp lánh, đâu đó thấp thoáng bóng phù du và vĩnh cửu, con người phải chết đi, để rồi tiếp tục hồi sinh. Có lẽ đây là chân lý mà Chủ đề của “Nghệ Thuật Tượng Người Trình Diễn” muốn thể hiện qua ba tiêu mục có hệ thống rõ ràng :

. Cuộc sống

. Trở về

. Hồi

Đó là tính triết lý của “ Hành trình của sự trở về ” mà người Họa sĩ trẻ Trần Hữu Nhật muốn đạt tới, sự luân chuyển hằng hà sa số kiếp trên cõi thế gian đầy tai ương và khổ đau. Thể hiện qua nhiều cách ăn mặc được thiết kế theo diễn biến thời gian và tiến hóa của thời đại, pha phách lẫn nhau trong cùng một chủ đề hoạt cảnh. Trong những đêm biểu diễn cuối cùng, diễn viên nữ, đầu đội mũ lát rộng vành, mang một túi xách có quai dài, áo thun hoa văn hiện đại, quần short, mặt mũi tay chân đều bôi màu sơn xanh đậm. Khi thì đứng một tay chống nạnh, một tay đặt trên bàn. Khi thì ngồi trên ghế, khi đứng cầm tay một diễn viên khác, không hề nhúc nhích trong một thời gian nhất định, im lặng tuyệt đối, bất động tuyệt đối, như sống, như chết.

Bốn diễn viên nam, đầu đội mũ lưỡi trai quay phía trước, có người quay ra sau tùy theo sáng kiến của đạo diễn. Có người đội mũ bảo hiểm, mắt đeo kính mát, trên người chỉ mặc chiếc quần short, ống quần cắt toe tua, có khi làm như bị rách một lỗ ở đầu gối để lộ màu sơn thẩm, tay cầm chiếc máy cassette thời đầu những năm sáu mươi của thế kỷ trước, khi đặt trên vai, khi để lên đùi, chuyển động cách khoảng thời gian mà người xem đôi khi không nhận biết. Một người khác cầm điện thoại di động, người cầm ly cà phê tư thế đưa ngang môi như sắp uống. Người ngồi trên xe máy, loại xe moto đời cũ, bảng số gắn trên dè phía trước, có cả loại xe @ đời mới. Một xách du lịch kiểu ba lô đặt dưới chân bàn, như một sự cố ý pha cách giữa cũ và mới, và các mốt (mode) tiện nghi thời đại.

Năm diễn viên cả nữ lẫn nam đều đi chân đất. Tất cả đều bất động trong mỗi tư thế trong khoảng mười lăm hoặc hai mươi phút, xong, thay đổi theo nhiều kiểu mẫu khác nhau. Chú ý lắm mới thấy được sự xê dịch thật khẽ khàng như họ chỉ là những hữu thể ngoại cuộc giữa quang cảnh tấp nập rộn ràng của dòng người di chuyển không ngưng.

Những ai muốn tìm hiểu, khám phá ở đó một điều gì thuộc chiều sâu tâm linh, mới thấy nhịp đập yếu ớt ở vùng tim của diễn viên, thể hiện sự điều hòa tuyệt vời của hơi thở nhưng không biểu lộ sự nén hơi trên khuôn mặt. Những cơ bắp cũng bền bỉ một cách tài tình mà không là một nổ lực có sức gồng mình.Tất cả bốn khuôn mặt đều bình thản, nhưng không vô cảm lạnh lùng, đang chìm đắm trong thế giới ngoại tại. Không dễ bị khuấy động do ngoại cảnh hay những tác động khách quan, trong lúc đối với người khác thì có thể rất khó chịu bởi những xúc tác trên người, của lớp sơn dày bít kín hết phần da bên ngoài, hoặc do côn trùng muỗi lằng bay chạm trong bóng tối.

Họa sĩ Hữu Nhật đã cố tình đặt con bướm giả trên mũ diễn viên để nói lên sự yên tĩnh của họ đạt đến mức tuyệt đối, không gây ảnh hưởng gì dù nhỏ nhặt, khiến cho bướm phải sợ hãi bay đi. Tịnh vị này đòi hỏi ở họ một ý chí kiên cường dẽo dai qua quá trình luyện tập, bởi mỗi đêm, cuộc diễn thường kéo dài tới hai tiếng đồng hồ, khi đứng khi ngồi hoàn toàn trong tư thế bất động, không phải là đơn giản. Nhiều khách thưởng ngoạn thoạt nhìn, ai cũng buột miệng :

- Ồ! Tượng Người

Có người hỏi :

- Đây là tượng hay người thật ?

Được khách xem chung quanh trả lời :

- Người thật.

Hoặc được chỉ cho xem tấm biển nhỏ ghi “Nghệ thuật Tượng Người Trình Diễn” dựng khiêm tốn trước sân diễn, phải quan tâm lắm mới nhìn thấy, lúc đó mới hiểu ra mục đích ý nghĩa của buổi trình diễn.

Nhìn những Tượng Người bất động, nếu với con mắt nhạy cảm, sẽ thấy qua bình thản của nét mặt họ, tiềm ẩn ở đó cả một dòng sống động. Dòng hóa sinh trôi siết trên thân phận đời người phải trải qua những vui buồn sướng khổ, đấu tranh và hưởng thụ, khuất vắng và tồn tại của phận người. Bao hàm cả triết lý luân hồi của nhà Phật.

Nhiều màu sơn thay đổi, bôi kín trên người diễn viên biểu hiện từng giai đoạn sống, gian truân khổ hạnh, tuy gắn buộc trên phận người, nhưng tâm linh vẫn gĩư được trong sáng, đầy ắp thiện căn và niềm tin với ước muốn vượt thoát đến bến bờ tự do. Mỗi lớp sơn là một lớp vỏ vật chất tiền tài, uy quyền, dục lạc. Ngay trong độ tuổi còn non nớt, chúng ta vẫn thấy bị nhiều ép buộc bức bách và luôn khát khao được thỏa mãn. Nếu có những phút thức tỉnh nhìn lại, tất sẽ biết được cách giải phóng ra khỏi ngục tù riêng tư, vươn tới cao đẹp của bổn tâm, thấy được bản lai diện mục để thân tâm thơ thới nhẹ nhàng. Bởi đi tìm tự do tức là đi tìm sự giải thoát. Không mấy ai bằng lòng với hiện tại của mình. Nhưng bước qua được bức màn u minh, không phải một sớm một chiều.

Đây là một loại nghệ thuật đường phố, xuất xứ từ việc một người thanh niên Châu Phi, không có nghề nghiệp, xin việc làm không ai cho, trước cảnh khốn cùng, anh ta nghĩ ra một cách, đổ sơn trắng khắp mình, đứng yên bất động trên một góc đường phố ở Chicago. Nhiều người qua đường ngạc nhiên tưởng đó là tượng thật, đến xem thật đông. Sau khi nhận ra, họ đã thật xúc động và quăng nhiều tiền bạc vào Người Tượng ấy. Từ đó nảy sinh ra ý tưởng đây cũng là một cách kiếm sống mang tính nghệ thuật, không có vẻ thấp hèn như nhưng người ăn xin ở các nước chậm tiến.

Ở nước Anh, “Nghệ Thuật Thị Giác” này phổ biến trên hầu hết mọi con đường phố của quốc gia này, và dần dần lan đến các nước khác trên thế giới, với nhiều hình thức khác nhau như đàn ca, múa rối …nhiều khi pha trộn các nghệ thuật đó lại với nhau.

Qua các lễ hội, hình ảnh “Tượng Người Trình Diễn” bắt đầu quen dần trong mắt mọi tầng lớp người dân xứ Huế, không phân biệt sang hèn, có trình độ chiêm nghiệm hay không, ngay cả những tiết mục đàn, hát, họa chân dung… cũng tiếp cận với mọi giới. Nghệ thuật cộng đồng này phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau. Phục vụ nghệ thuật, phục vụ quần chúng, phục vụ vì mục đích nhân đạo, từ thiện, hoặc là một cách để kiếm sống. Bất động nhưng vô cùng sống động, đa tầng, ẩn dụ triết lý nhân sinh rất thâm sâu. Rất tiếc, trong nhật ký của Festival Huế đã không thấy ghi lại một hình ảnh hoặc cảm nhận nào về loại hình nghệ thuật đặc biệt này, như nhiều chương trình khác như biểu diễn đàn tranh trên ruộng đồng sông nước, hoặc những hình ảnh mang tính đặc trưng bản sắc của xứ Huế miền trung…Chỉ thấy thoáng qua trên những trang cập nhật rồi mất luôn. Điều quan trọng chính là những hình ảnh lưu lại để còn suy ngẫm, chiêm nghiệm cho mọi người, mọi giới, mọi thời gian.

Lẽ ra, mỗi người trong chúng ta cũng nên biếu tặng một khoảng tiền nho nhỏ để tỏ lòng trân trọng các nghệ sĩ đã cống hiến những giờ phút thưởng thức tuyệt vời của loại hình nghệ thuật khá lạ lùng mới mẻ này. Có thể sờ mó, tiếp nhận được nguồn năng lượng thanh tẩy đầy ấn tượng, mặc dù mảng nghệ thuật này đã xuất hiện ở Festival Huế năm 2006, mang Chủ đề “ Dòng đời – Điểm chết”. Ngoài mục đích quảng bá nghệ thuật, triết lý của mạch sống, còn có mục đích cao cả là quyên góp tiền để giúp đỡ trẻ em không thừa nhận, không nơi nương tựa, chất độc da cam…do một nữ thạc sĩ nghệ sĩ Cộng đồng tốt nghiệp ở Anh biểu diễn.

Vì sự phát tán khá nhiều chương trình hoành tráng, nhiều sân khấu trình diễn rực rỡ đèn màu, nhiều tiết mục trưng bày hấp dẫn lôi cuốn, nên khó lòng để tiếp thu một hình tượng nghệ thuật nào được thấu đáo, thưởng thức một nghệ thuật cần phải tập trung tinh thần và thời gian tương đối để cảm thụ. Tuy nhiên, loại hình “Nghệ Thuật Tượng Người Trình Diễn” cũng thu hút khá nhiều khách thưởng ngoạn thuộc giới trí thức.

Ai cũng cảm giác các nghệ sĩ đang hành thiền, nhưng thật sự nó đánh động vào thị giác, vào tư duy của chúng ta, hơn khi nhìn một nhà sư thiền định, vì thực cảnh đó phản ảnh đời thực của chính chúng ta đang thiếp ngủ trong vô thức u minh. Hình dạng bên ngoài của diễn viên tuy lấm lem thô thiển, nhưng trong tâm thức chói lòa ánh sáng tại tâm, thầm trao đổi cùng chúng ta về câu chuyện đấu tranh, sinh diệt của kiếp người để kịp thời tu tịnh, trở thành một con người đích thực.


(Festival Huế 2008)



.Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ NhaTrang ngày 03.10.2016.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004