Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

tiểu thuyết


ĐẤT BỎNG



        PHẦN THỨ HAI


CHƯƠNG 1



 N hững quả đồi tròn đầy như mâm xôi, những quả đồi dài hình cái chày giã cua, những dải đồi ngắn vặn vẹo như quả bí đao khổng lồ èo uột xen kẽ những khe suối chỗ hẹp chỗ rộng, khi sâu khi nông. Con đường chính phải đi qua hàng chục cầu và lòng suối. Cầu Một ngay đầu Cẩm Phả. Cầu Hai Mươi sát khu Cửa Ông. Đường còn phải vượt qua nhiều trảng cát nông rộng vào mùa khô và sôi sục nước trong mùa bão lũ. Người dân lam lũ bới đất nhặt cỏ, chăm lo cày xới cho yên dạ mình. Họ vô tình hay cố ý ngày một ngày hai, năm này năm khác xẻ đồi san dốc, đào đắp cho bằng cho phẳng. Thiên nhiên từ thuở khai thiên lập địa đã làm. Những dốc cao khe sâu trải dài một vùng đất bằng phẳng rộng dài, rậm rạp lau le nứa róc đã có tên làng. Làng Cẩm Bình. Làng Cẩm Bình rộng lắm, kéo dài từ những dãy núi đá chồng chất vùng Quang Hanh sang tận Cẩm Phả mán. Đất hoang hoá nhiều hơn thuần thục. Tre róc nứa dùng…um tùm tạo thành đầm. Đầm Róc. Đất đai ẩm ướt mặn ngọt chua phèn quanh năm. Mùa mưa, làng lổng chổng những vạt đất do dân khai phá. Màu xanh ngập nước hoang sơ, ẩn chứa bao nhiêu bí mật. Mùa khô, hùm beo báo sói…lần về kiếm ăn, gieo nhiều tai ương tật ách cho vật nuôi trồng. Dấu vết còn để lại rành rành từ rắn rết đến các loại sóc chồn cầy cáo hươu nai mang hoẵng. Cây cành ríu rít chim đàn chim bày chim lẻ chim đôi. Những con diều hâu bay chót vót bất ngờ xà xuống quắp mồi kéo lên con rắn dài lê thê loằng ngoằng giãy giụa trên lưng trời. Trăn từng bày. Những con ăn no nằm ngang đường, thấy người không chạy. Hoẵng nai vào kỳ động dục, kỳ sinh nở tác lên từng hồi khiến đồi núi hoang vu càng ảm đạm hơn. Người dân ngày ngày lấn biển lấn rừng lấn đầm lấn bãi, trồng cấy chăn thả làm than và sinh sống như thế đã bao đời.

Bãi lấy chồng, không làm mỏ nữa, cùng mẹ chồng thu hái rau xanh. Rau xanh Cẩm Bình có tiếng từ lâu. Đất đai màu mỡ nhất vùng. Con người cần mẫn không ngại khổ. Những cây cải dài hàng gang tay đều chằn chặn. Những vạt rau cao nhìn không thấy đất. Mùa xuân hè, mồng tơi đay muống…Mùa thu đông, cúc và các loại cải cần… Giống được bảo quản, được đưa ra từ mọi miền quê nghèo khó… Những giống cây con củ quả của bà con dân tộc chọn lựa lâu đời… Cải soong là loại rau ăn sống của Pháp đưa sang được trồng và lớn rất nhanh trở thành loại rau chủ lực có thể luộc, nấu canh, xào tái… Mùa nào thức ấy. Rau quay vòng và người lớn lên.

Lấy nhau chưa nóng chỗ, Hoán giục mẹ cho ăn riêng. Bà Dâu chia cho vợ chồng hai sào đất, thúc giục con cái đóng góp sức lực, làm căn nhà mới. Coi như hoàn tất trách nhiệm, bà lại tích cóp, giành cho đứa kế tiếp. Vợ chồng mới, nhà mới, con cái chưa có, thoải mái rinh rang. Thứ nhất còn son thứ nhì con lớn. Mày phải chí thú, vợ chồng bảo nhau, ăn dè hà tiện đừng có vung tay quá trán. Sau này, con cái lốc nhốc khổ sở lại ngồi mà cắn cấu nhau. Hoán vô tâm, tháng tháng làm, lĩnh tiền đưa vợ. Vợ chỉn chu hơn. Cô lên nhà Ao - mẹ mất rồi - nhặt nhạnh khi con dao cái rổ, lúc nồi vấu chảo tách từ nhà anh mang về. Cuộc sống đâu chả vậy, có bao nhiêu vẫn thấy thiếu thốn. Sóng trước đổ đâu sóng sau đổ đấy. Ai cũng vun thu đồng lương chút vốn, giữ gìn đề phòng cho mình đỡ cực thân. Nhà nhà dựng lên cũng bằng nếp sống ấy. Ai thấy cũng chép miệng cho là nợ đồng lần. Nhà Hoán hai gian, vách bằng đất trát. Kèo cột xà gỗ, mái lợp gianh tre gọn ghẽ chắc chắn. Vợ chồng ăn riêng nhưng ngày nào bà Dâu cũng đảo qua dắng dả trông nom, bảo ban cách thức. Gà đã bắt đầu dáo dát ngoài sân.

Ngày nghỉ, Bưởi đến nhà em gái. Cải rủ anh vợ sang nhà Ao. Ao đang muốn xuống nhà Bãi. Mấy anh em cùng đi. Bãi với Đảm đang trồng rau. Hoán đi vắng. Hai cô ríu rít nhờ mấy anh trồng hộ. Chuyện trò rôm rả từ xa đến gần, từ chung đến riêng. Vạt muống cấy diếp và xà lách. Những cây diếp xanh, ngắt có nhựa mủ. Xà lách xanh vàng, ẻo lả. Gặp thời tiết thuận, chỉ một tuần, chúng bén chân, lên ào ào. Họ tán về các loại rau. Rau diếp hái lá, ăn đăng đắng nhưng có duyên ngầm. Rau xà lách chờ cuộn xoắn to ngang miệng bát, cắt cả cây. Đó là những loại rau ăn sống với riêu cá. Chuyện rau cỏ đến chuyện cửa nhà chẳng lâu la gì. Chuyện cửa nhà sang chuyện vợ con, công ăn việc làm cách nhau một đoạn. Khoảng hai giờ sau, nửa sào rau trồng xong. Mấy người vào nhà. Bãi vơ vội đống quần áo, bỏ sang góc giường. Trên bộ bàn ghế bằng tre ghép chôn chân xuống đất, Đảm giúp Bãi múc nước đổ vào mấy cái bát con vừa được mang ra.

- Mời các anh!

- Nhà cô Đảm cũng gần đây chứ?

- Em ở bên này!

- Ông bà cụ còn khoẻ không?

Những câu bâng quơ như thế rồi hết chuyện.

Vài ngày sau, Ao lại rủ Bưởi xuống chơi nhà Hoán. Mấy câu đưa đẩy của Bãi về Đảm. Dăm bữa nửa tháng sau, vợ Hoán dẫn cô gái láng giềng lên thăm anh trai, tiện chân ghé qua nhà Bưởi.

Mấy tháng sau, Bưởi lấy Đảm. Mạ già ruộng ngấu. Cỗ bàn qua loa cho đủ lệ bộ. Nhà Đảm khá hơn nhưng bố mẹ mất cả, còn hai chị em. Chị chăm lo vun quến việc nhà. Dì Đang ít hơn chị bốn tuổi, làm ăn cũng thường thường. Có chị quán xuyến đùm bọc rồi, lo lắng làm gì cho già người đi. Cô tung tăng chạy nhảy cùng chúng bạn. Đảm vùi tuổi xuân của mình chăm nom, săn sóc em. Khi nhận ra em lớn, chị mới ngẩn người ra. Gìa rồi. Ngót nghét ba mươi cái tết đi qua đời người con gái thì ai người ta còn nhìn ngó ỏ ê gì tới nữa. Đảm âm thầm dưới mái nhà trùm bóng cây xanh. Mỗi khi xuân về xôn xao ngoài ngõ, chị giở áo mới ra mặc còn ngường ngượng với chính mình. Đang đã về nhà chồng. Dì phơi phới đẩy chị trôi về cõi già nua. Mỗi khi thấy chú em rể tương lai đến nhà, Đảm thường tìm chỗ lánh. Khi sang nhà hàng xóm, lúc bận việc trong góc vườn, xó bếp nhà mình. Dì Đang cứ vô tâm đỏng đảnh đến lúc về nhà chồng. Đảm buồn đến nửa tháng. May rồi cũng quen. Tưởng cuộc đời thong thả trôi xuôi, thế nào chị lại gặp Bưởi.

Bưởi nghĩ mình sóng gió đã từng, khổ đau đã trải, sống lặng lẽ đến cuối đời trả lại hết những gì vay mượn từ kiếp trước. Sau ngày gặp Đảm, những gì tươi mới ngày một ngày hai dần dà nảy nụ trổ hoa trong lòng anh.

Vợ chồng Cải Bí xúm vào đắp đắp vun vun. Bà Của - gọi theo tên người con trai lớn - vui mừng khôn xiết, chăm sóc đứa cháu nội, giục con dâu về chỗ anh dọn dẹp cho vừa mắt. Người ta còn trông vào. Bà bế Thuần. Nó là con gái, kháu khỉnh khoẻ mạnh. Bà ủng hộ hăng hái bằng tinh thần. Vợ chồng Cải như giao con cho bà, đi làm về, bận bịu vào ra bên nhà Bưởi.


Thằng Vòi đã lớn. Một bên mắt hơi lác. Vốn ít nói, hai mi mắt sùm sụp càng khiến nó trông lì lợm. Nó bắt đầu vác than, nhặt than bòn phụ giúp bố. Bỉnh cũng khoẻ mạnh ra. Mặc dù việc làm tầng vô cùng nặng nhọc nhưng gương mặt anh đã sáng lên nhiều. Thằng Vòi đi làm, có tiền nuôi được thân mình thì Bỉnh lấy vợ. Cô Trắm cùng làm một tầng, tháo vát và khá xinh. Họ góp sức sửa sang lại nhà riêng như nhiều phu mỏ khác. Những mái nhà tranh tre, tường trình đất, tường gỗ cây, vách róc đắp đất đua nhau dựng lên. Lớp lứa phu phen mới tiếp tục ra những dịp nông nhàn. Nhà chứa phu phần đông những con người ấy. Chủ nhà trọ đóng giường hai ba tầng chật chội. Phu phen ngủ trên những chiếc giường cũi chó, ở chuồng cầy. Nhiều người chủ kiêm cả việc nấu ăn cho người thuê. Sáng sáng phu phen leo tầng, tối tối về. Họ ăn ở chập chuội, làm vài tháng kiếm chút tiền còm mang về quê. Năm sau, họ lại ra hoặc không bao giờ ra nữa. Những người ở lại, năm trước năm sau, phá đồi lấy đất hoặc tìm chỗ xa xôi hơn dựng nhà. Những căn nhà tuyềnh toàng, thiếu thốn đủ thứ nhưng được tự do ra đóng vào mở.

Thằng Thao đã lên năm. Cuộc sống của Cheo bê bết quá. Bà Nhắng đem thằng Thao về nuôi thay con gái mình. Cháu bên nội tội bên ngoại. Cheo không thể vừa làm tầng vừa chăm sóc vợ. Người bệnh không được trông coi nâng đỡ dễ dàng nặng thêm. Nhằng không phải là mẫu người khoẻ lâu sức dai, ngày một suy kiệt. Bà Nhắng bắn tiếng Cheo phải lấy vợ cho có người coi sóc Nhằng. Cô Mại, một người phụ nữ không khôn ngoan lắm nhưng chăm chỉ đã được bà Nhắng gợi ý. Mại chịu khó chịu khổ nhưng ù lì chậm chạp. Mọi việc trong nhà bề bộn đến đâu cô cũng nhẩn nha làm cho đến xong. Thức khuya dậy sớm, cô chăm lo chồng, rửa ráy giặt giũ cho Nhằng không nề hà bẩn tưởi, không kêu ca ta thán nửa lời. Rất ít khi thấy cô rỗi rãi chân tay. Khi có việc, giở được mã thì rã đám. Lửa đốt đít cũng mặc, từ từ đã, việc gì phải vội.

Sau ngày ông Đục mất, vợ chồng Bào ở lại căn nhà mấy bác cháu ông con buổi đầu xây dựng. Cải Bí làm nhà kế bên. Bà Của thường qua lại hai nhà, trông dắng cho con trai, con gái, thu dọn lại những gì thấy vướng mắt. Cả mấy đứa con, bà đều thương yêu nhưng mỗi đứa một khác, mỗi đứa một kiểu. Bào hiền lành, thói quen dựa dẫm vào người cha từng trải. Nay cha mất, anh thiếu dứt khoát, không dám quyết một điều gì hệ trọng. Việc nhà dự tính xong nhưng làm dây dưa lê thê. Vợ anh, chị Thãi lại cam chịu, lấy chồng được sao hay vậy, không đòi hỏi yêu cầu gì hơn. Chồng cho thế nào nhận thế. Nhận để dè sẻn chắt chiu. Thờ chồng nuôi con và cầu mong yên ổn là phương châm sống của chị. Với gia đình ấy, ở đâu và thời buổi nào cũng nghèo hơn người. Thương con gái lắm nhưng bà đâu có mà bù chì cho. Lấy chồng khác gì con ở, chỉ được ngủ với chủ. Tuổi tên cũng mất. Lấy chồng mang tên chồng, có con mang tên con, suốt đời lầm lụi.

Bà Của vừa thu dọn cửa nhà cho con gái vừa lụng bụng trong miệng. Những lúc làm lụng một mình, bà có thói quen ấy. Dọn xong cấn rác, bà cài cửa, bế xốc con Bi ra. Con Bi đi đứng được rồi. Bà đặt nó xuống sân, đẩy cửa. Cái Thuần - con Cải Bí - cũng nhổm nhổm đít tập bò, tập ngồi. Đứa này kéo thêm đứa khác không khéo phải trông cả con cho anh chị Bưởi. Nhà âm i tiếng trẻ. Suốt đời bế em, bế con, bế cháu, ít lúc được thảnh thơi. Mấy luống rau trồng, đất đã khô trắng. Vài mái gà đói chạy xớn xác quanh bà mong kiếm chút thức ăn. Bà luôn tay luôn chân như thế ngày này sang ngày khác, ốm đau cũng vội vã khỏi để làm lụng. Chị Bưởi cũng vài tháng nữa chứ mấy. Hôm nọ đã nghe anh vợ thì thào với em gái, mong nhờ vả dựa dẫm bà rồi.



CHƯƠNG 2


Động trở lại mỏ. Dấu vết những ngày anh làm than chỉ còn trong ký ức một số người. Động tìm cai Nam. Ông đã mất. Bạn bè than gio thuở xưa, tíu tít hỏi han, đưa anh vào lán phu. Đi cùng anh còn vợ và hai đứa con thơ. Bốn người vào lán cai Công. Sau một hồi nghe kể, mợ Nam nhận ra người có đứa em chết khổ trong nhà mợ. Chân tình thân thiết hơn, mợ cho mượn chiếu, tự tìm chỗ trải cho vợ chồng con cái Động ở.

Thế là cuộc đời phu mỏ tăm tối lại bắt đầu đeo bám, giằng níu anh.

Động về làng. Nhà cửa đất cát cũ hơn xưa. Hai bác Độp đã mất. Tờ - con út của ông bà - anh họ Động, nhớ mang máng. Động ở có hai hôm. Chị Nhiều lấy chồng làng bên, xắn xả chạy sang, nghe chuyện thằng Đậy rất lâu, khóc lóc một hồi rồi lúi cúi về. Sáng hôm sau, Động ra mỏ nhưng đến đầu Bình Lục gặp người ta đăng lính sang tây. Đằng nào chả vậy, Động đăng ký, điểm chỉ vào tờ giấy, nhận ba đồng. Nhờ chuyển cho chị Nhiều, anh Tờ mỗi người một đồng. Nhét đồng bạc còn lại vào trong cạp quần, Động theo người ta, tập hợp thành đoàn lên Phủ Lý, dấn thân vào binh nghiệp. Rời Phủ Lý, Động chả còn biết đi đến đâu. Chỗ nào cũng đói khổ, nheo nhóc, trộm giật và cướp bóc. Xuống tàu thuỷ, lên tàu hoả, đi ô tô, đi máy bay…đủ cả. Cũng đánh nhau, bắn súng bòm bòm, sợ vãi đái. Nhịn đói nhịn khát, bùn đất ngập ngụa, ăn uống kham khổ, đạn rít ràn rạt quanh người. Bụi đóng trên da từng cục từng mảng, tóc tai dài, bết bát xù xì như con bú dù. Bước chân chai sần đặt lên nhiều thành phố hoa lệ đã bị đạn bom làm cho xơ xác. Nhà cao không nhìn thấy mái, thấy nóc và những khu nhà đổ nát, tường vỡ loang lổ. Không rõ bắn chác, đánh đấm thế nào, các anh cũng thắng trận và đại chiến thế giới kết thúc. Quê Thanh Liêm nhưng đăng ký ở Bình Lục, anh khai luôn Bình Lục là quê hương. Đi chết nhiều sống ít ấy mà, nghĩ ngợi xa xôi làm gì. Thanh Liêm, Bình Lục cũng sát cạnh nhau. Bạn bè gọi anh là Binh Bình. Sau chiến tranh thế giới, anh về quê được thưởng Bắc đẩu bội tinh, ăn lương “mãn đại” nên nổi tiếng khắp vùng. Anh cưới vợ. Trong ngày khai hạ cái Bắc đẩu bội tinh và tòng bát phẩm, quan lại, thần dân nô nức kéo tới ăn khao. Vợ chồng anh vay mượn họ hàng, thiếu bao nhiêu quan huyện ứng cho vay trước. Binh Bình rạng rỡ mặt mày. Vợ anh luôn miệng cười chào đón khách khứa. Một ông đồ hay chữ nổi tiếng mừng đôi câu đối lừng lẫy bằng chữ nho đọc nghe như quốc ngữ. Ai cũng rượu vào lời ra, bàn tán bình phẩm sau được truyền tụng rộng khắp vùng trũng Hà Nội:

Thát phạt hoan hoàn tê ư tư sắc tứ

Binh Bình thoái thoại hát ô hô huyền hồ

Hay thì hay rồi, ai cũng trầm trồ nhưng phần đông không hiểu nghĩa, ngại hỏi sợ người cho mình dốt. Ông Binh Bình cũng vậy. Mờ u mu huyền.

Chỉ bởi chút danh hão, vay công mượn nợ đến mức cửa nhà sa sút thảm hại rồi trắng tay. Sau dịp ăn khao làng, hai đứa con lần lượt ra đời. Thằng Đảo và con Hội. Chúng không khoẻ mạnh, nhũng nhẵng vật vã. Nợ réo ầm ầm ngoài ngõ, nợ đòi nhí nhéo trong nhà. Đang ngủ, vợ chồng còn nghe người gọi, người thúc. Ra đường loáng thoáng cho nhanh rồi về. Hai vợ chồng mắt không còn nước, xấu hổ, đang đêm kéo nhau về mỏ. Số tiền lương mãn đại cầm cố cho người bà con lấy mấy đồng đi đường. Tài sản mang theo có đôi câu đối nghe nói rất hay, Động không hiểu nghĩa.


Vợ chồng Đá cũng người làm tầng, người ở nhà. Anh đổ mồ hôi công sức lấy những đồng tiền còm. Vợ ở nhà trông con. Trồng rau, chăn gà. Đất xấu lổn nhổn đá sỏi. Cây trồng không lên được. Chị sắm quang gánh, mua rau dưới Cẩm Bình gánh lên chợ bán, quanh quéo lần hồi. Đứa con lớn chạy được, bụng chị lại thây lẩy. Mềm dẻo trong cách ăn nói nên bán chạy hàng. Chị mong ngày nào đó, cửa nhà rộng rãi, vợ vợ chồng chồng con con cái cái, ao cá vườn rau là toại nguyện, không còn lo lắng gì. Mơ ước bình thường đó mà cao xa đến thật khó với. Chồng chị đi làm về là nằm thượt ra. Có khi Đá ngủ quên. Muỗi gào như sáo thổi.

Từ tối đất, vợ Đá đã gồng gánh xuống đồng. Đứa con ngủ dậy, tự chơi. Gần trưa, bán xong gánh rau quật, chị về nhà nấu cơm, chăm nom gà qué. Chiều. Chị ra vườn nhặt bớt sỏi xít, vun bón cho cây. Dần dần, chị nhận ra sức người chả là gì so với sự tàn phá của thiên nhiên. Đất đai cằn xấu, phân gio thiếu, rau không lên, chỉ nhiều cỏ. Chị bắt đầu gánh rau hai chiều chợ. Đi đêm về hôm. Sáng gánh nhiều, chiều gánh ít. Người mua lại vắng. Họ chỉ vào chợ một lần trong ngày, mua ăn hai ba bữa. Đưa rau ế về nhà, mặt chị như lá héo cọng già. Hôm sau khéo léo mang bán kèm với rau mới lấy. Công sức bỏ ra ùn ùn chỉ đủ hai tay vày miệng lỗ. Chồng con không sung sướng hơn. Thằng bé ngã, mặt mũi thâm tím, chân tay bê bết bùn than. Chị biết phải thay đổi, thay đổi cách sống cũ kỹ, cách làm ăn vất vả này mới mong khá hơn. Nhưng nào phải riêng chị nghĩ. Ai cũng nghĩ đấy chứ. Tất cả đều mù mịt.

Vợ Đá tìm mua rau, lại đến vườn nhà Bãi. Chị em nhận ra nhau, mừng rỡ quấn quýt. Sau lúc tâm tư thấu hiểu gia cảnh của nhau, Bãi khuyên chị xuống Cẩm Bình. Có tiền mua vườn tược, không tiền kiếm đất hoang, khai phá ra. Lương chồng hàng tháng tằn tiện chi dùng. Buôn Ngô buôn Tầu không giầu bằng hà tiện. Thế nào đời sống cũng khá hơn.

- Chị cứ nghe em, bàn với anh xem. Nhất quyết là xong ngay.

- Không dễ dàng thế đâu. Về nhà, anh ngủ như chết. Muốn nói không biết vào lúc nào. Ở đây lên mỏ xa, sợ anh vất vả thêm. Chị lại sắp có cháu. Thay đổi chả biết có tốt hơn hay xấu đi, lợi không bù hại, đã mệt lại mệt thêm.

Nói vậy nhưng trên đường gánh rau, vợ Đá cân nhắc kỹ càng. Một làn gió mát thổi qua ngày hạ chí. Chị sẽ để tất cả nhà cửa vườn tược cho Ao. Vợ chồng xuống chỗ Bãi… làm nhà, phát hoang, lấy đất trồng cấy. Mua bán hoặc đổi chác. Việc ấy, anh em họ bàn bạc với nhau. Ao tuy hơi liều nhưng thương em hết mực. Nhà đã ọp ẹp. Con gái Ao miệng ăn chân chạy rồi. Thằng thứ hai qua đốt đẹn sài. Vợ chồng Ao sang nhà mình ở, rộng rãi hơn. Bàn với chồng để chồng ngỏ ý với vợ chồng Hoán. Việc còn lại chắc dễ giải quyết.

Cuộc sống quẩn quanh tù túng của phu mỏ diễn ra đều đều năm này sang năm khác. Mơ ước chẳng cao xa, chỉ cốt no cơm ấm chỗ mà nào có được dù phải gồng sức gượng lực. Cẩm Phả dần dần hình thành hai khu : phố mới - phố cũ với nhiều sự cách biệt. Phố cũ phần lớn những người có máu mặt, của ăn của để. Nhà gạch, mái ngói, mái gianh. Phố mới nhà mới đan xen nhau, mái gianh, mái lá, mái ngói, tường xây, tường đất, tường vách. Nông dân kéo nhau ra mỏ đông hơn. Phố Mới nhà càng dày đặc, lấn cả xuống đầm róc, đầm le, Cẩm Bình. Người chí thú tranh thủ ngày nghỉ, giờ nghỉ, phát cây, chặt gỗ dựng nhà. Phố Mới cũng nhiều lán phu. Lán phu bây giờ cũng không chín người mười làng nữa. Họ ở tập trung. Lán phu Nam người Nam Định. Lán phu Thái người Thái Bình. Lán phu Đông người Hải Dương vì họ đều người tỉnh Đông, xứ Đông (phía đông Hà Nội)… Nhiều nơi lụt lội, mất mùa, thất bát, người kéo ra mỏ lũ lượt. Quê hương đói kém càng khổ sở hơn. Lúa cắm xuống hàng tuần đỏ như cọng rơm. Bệnh tật rề rề. Dịch tả kéo dây hàng tháng suốt mấy huyện ở Hà Nam, Nam Định, Kiến An. Người chết, nhà vắng. Làng thôn phờ phạc. Bão lũ lụt lội, đê vỡ có năm hai lần. Lúa đồng, chuối vườn phờ phạc nát nhàu như có người vo. Người người rách rưới lũ lượt dồn kéo. Sở mỏ nhận hết. Tầng bè phình ra, lưng người còng xuống cố móc cho thật nhiều than phục vụ mẫu quốc. Nhưng sở mỏ cũng dịch… người chết la liệt, chồng chéo các khu đồi. Những phu vệ sinh bịt mặt, quăng từng xác người từ nơi khác kéo về, chết dịch, không ai nhận lên xe. Sở cũng ảm đạm nhưng còn có miếng ăn. Thực vi thiên. Miếng ăn lớn như trời với người đói khát.


... CÒN TIẾP ...



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 15.9.2016.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004