Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới








Di Tích Họ Lê Trung và

Không Gian Văn Hóa Hoằng Ngọc




H oằng Ngọc là một trong 8 xã ven biển của huyện Hoằng Hóa. Ở vào thế ngày đêm đối mặt với biển, thu lợi từ biển và đôi khi cũng chịu những trận bão biển dữ dội, người dân Hoằng Ngọc đã tìm mọi cách lấn biển, để cuộc sống ngày một thay đổi.

Ông Bùi Minh Kính bí thư Đảng ủy xã cho tôi biết xã gồm 5 thôn là Hồng Đô, Nhân Nhọc, Đức Tiến, Yên Tập và Đa Văn. Hiện nay, riêng Yên Tập đã được công nhận làng Văn Hóa. Tổng số đất đa cả xã 518,23 ha đất canh tác là 390 ha, dân số toàn xã 6812 người với 1120 hộ. Người xã Hoằng Ngọc hiện nay đã có sự đổi mới về nhận thức kinh tế: Làm nông nghiệp 54%, thương nghiệp dịch vụ 30%, các ngành nghề khác và xây dựng cơ bản là tỷ số còn lại.

Chúng tôi chưa đến được các thôn Nhân Ngọc, Đa Văn, Đức Tiến và Yên Tập, nhưng tại thôn Hồng Đô nơi chúng tôi tìm hiểu đã cho nhiều giải đáp lý thú. Trong cái màu xanh ngút ngàn của dừa và tre, các mái nhà trong thôn đều đã lợp ngói. Đa số vẫn là kiến trúc truyền thống: Một ngôi nhà lớn 5 năm gian, hướng phía Nam và ngôi nhà ngang bố trí vuông góc với nhà, đa số chưa có trang trí cầu kỳ. Đôi chỗ, dọc đường giao thông chạy qua làng tới các xã trong huyện, đã có những ngôi nhà kiến trúc đẹp. Suy ra, người dân Hoằng Ngọc, người dân Hồng Đô đã biết biến chuyển, thời cơ đến là sẽ khác xa bây giờ bởi những thay đổi kinh tế du lịch sinh thái.

Mỗi thôn tuy sự phát triển kinh tế khác nhau nhưng cùng chung nét giữ gìn bản sắc văn hóa. Ông Bùi Minh Kính kể với tôi về hò dân ca của quê hương; ông cho biết: Cách đây hơn 30 năm, ở Hoằng Hóa giữa bom rơi đạn nổ vẫn vang lên tiếng hò của trai gái đối đáp trong lao động và chiến đấu. Người ta hò trong lao động, trong lúc giao duyên và cả trong những khi cõi lòng buồn nản. Hò chọn bạn trăm năm ở Hồng Đô như là một cuộc “Ú tim nên thơ”. Dưới ánh trăng, trai gái không thấy mặt nhau, chỉ nghe câu hò, giọng hò để đoán định, không cần mai mối mà ưng ý trọn đời. Đúng như nhà thơ Tố Hữu đã viết:

Đêm khuya một tiếng bầu tiếng trúc

Một câu hò cũng động trong tim.

Nhiều thanh niên khi đêm nghe người con gái cất lên giọng hò, bâng khuâng tìm bạn. Dù anh đã nằm trong màn, cũng không sao ngủ yên, chờ xem đã có ai trả lời chưa, nếu lâu lâu không nghe tiếng ai trả lời, thế là anh vùng dậy, cao giọng hò đáp lại, cứ như thế, hai bên anh ả hò mãi, trăng lên, trăng xế, trăng tà vẫn chưa thôi bởi chưa tỏ hết tình hết nghĩa.

Để chứng thực, ông Kính hò cho tôi nghe mấy câu đối đáp. Dù đã 47 tuổi rồi, giọng ông vẫn đẹp, vẫn trong và ngân dài:

Nữ: … Ơi hò… Ta về bẻ lá cắm dây

Ngày mai ta lại chốn này ta chơi

Nam: …Ơi hò… tay nâng chén rượu Kim Bôi

Tay gạt nước mắt em ơi đừng về

Người về… ta chẳng cho về

Ta túm vạt áo ta đề bài thơ

Người Hoằng Hóa( nói chung), người Hoằng Ngọc, Hồng Đô đều là dân sông nước. Họ hát hò để tìm bạn trăm năm. Rất là là ở đây, nhiều khi cha mẹ đã làm cố vấn, tham gia “vận vần” cho trai gái đối đáp. Các bậc cao tuổi khi đó, thủng thẳng ăn trầu hút thuốc lắng nghe câu hò của đối phương để xác định người này tính tình, hành trạng mà toan tính chọn dâu rể trong nhà.

Đi thăm Hồng Đô, tôi ngạc nhiên trước việc dân làng nhiệt tình làm mới, sửa chữa các di tích. Thôn nào cũng có đình, đền, có chùa, nhưng bom đạn hủy diệt đã hủy phần nhiều. Nay đã có hòa bình, đã thịnh vượng thì phải nhớ tới người xưa đến đây khai điền lập ấp, mở mang bờ ruộng góc vườn. Làng Nhân Ngọc có ông Đỗ Hạnh- một tướng giỏi đời Trần từng lập chiến công bắt sống Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp khi hắn đang ngoi ngóp trên sông Bạch Đằng. Làng Yên Tập có đền thờ quốc mẫu Bảo Anh Công chúa- vợ vua Lê Hiến Tông theo chồng đi chinh chiến phía Nam đã chết được thờ tại đấy. Làng Đa Văn có cụ Bùi Nhân Minh nguyên tri phủ Hưng An đưa dân về đây khai hoang lập nên làng xóm. Làng Hồng Đô có dòng họ Lê Trung, 3 thế hệ đều là công thần, dưới thời Lê Trung Hưng, khôi phục nhà lê, góp phần an cư nhiều xứ sở. Làng Hồng Đô( tên cũ là Đô Du, tên nôm là làng Đò) tiếp giáp các làng Lương Hà( đông), Hoàng Đông( nam), Sông Cung( tây), Nhân Ngọc( thôn cùng xã). Trong làng có 7 họ khác nhau là Lê Trung, Lê Văn, họ Chu, họ Nguyễn… nhưng họ Lê Trung là đông hơn, chiếm tới 1000 khẩu/ 2000 khẩu( làng Hồng Đô).

Với số dân đông như vậy, có thể ước định rằng từ xa xưa dòng họ Lê là người đã đến đây, vừa làm ruộng, vừa đánh cá biển. Gia phả họ Lê cho biết, cuối thời Lê Sơ, có người con trong họ Lê Trung húy là Giang, Thụy là Quảng Xuyên là một người trai khỏe mạnh, giỏi vật- được tôn là Đô Thống. Khi ông đến tuổi trưởng thành gặp lúc triều Lê Sơ đổ nát, Mặc Đăng Dung tiêm ngôi làm cho xã hội rối ren, bọn du thủ du thực đi cướp của dân lành ông liền triệu tập trai tráng trong làng, rèn vũ khí đánh đuổi bọn cướp bảo vệ làng.

Nghe tin các cận thần nhà Lê như An thành hầu Nguyễn Kim, Lý Quốc công Trịnh Duy Thuận… giúp vua Lê Trang Tông chiêu mộ quân sĩ nổi lên( 1533) ông liền đưa quân bản bộ về gia nhập, từ đó, ông trở thành một chiến tướng dưới thời Lê Trung Hưng, làm quan trải 4 triều vua( Trang Tông, Trug Tống, Anh Tông và Thế Tông). Phục vụ 66 năm trong triều đình từ thuở cầm quân đánh lại quân nhà Mạc Kính Điển dẫn theo cửa Lạch Trường, cửa Hới vào phía Nam, đến lúc thành đạt, làm tới Phụ quốc thượng tướng quân, đô đốc Tính quận công, ông là người chú ý tới việc đắp đê ngăn mặn, khai phá ruộng để cấp cho mọi người, đưa vùng biển đất bồi hoang sơ thành vùng dân cư đông đúc và trù phú. Tiếng hát tiếng hò cũng lan tỏa mọi nơi từ thuở đó.

Ngoài ông Lê Trung Giang gia tộc Lê ở Hồng Đô đã có các vị làm quan trong thời kỳ đầu của Lê Trung Hùng

_ Ông Lê Trung Hải( em) là Hộ bộ Tả thị lang, làm quan từ đời vua Lê Trung Tông- Lê Anh Tông. Con trai cả của ông Lê Trung Giang là Lê Trọng Diễn cũng được phong là Đặc tiến Phụ quốc thượng tướng quân trung, cháu là Lê Trung Thiện cũng được phong là võ tướng.

Một tộc họ làm văn cũng giỏi, làm võ cũng tài xứng đáng là nơi “ Khải văn vũ đường”. Một người mà cả đời rèn cặp cho em mình, giáo dục cho con mình cũng hết lòng lo việc phù Lê diệt Mạc đáng nơi là huân nghiệp được nhà Hậu Lê coi là Khai quốc công thần. Khi ông mất đi, được phong là thành hoàng làng Đô Du( tên cũ là Hồng Đô) được dân tôn phong lập đền thờ, đáng là nơi ân Thụ Kỳ Tứ, làng Hoằng Đông cũng thờ ông làm phúc thần.

Thông thường, trong Dân gian Việt Nam có di tích ắt có lễ hội và có lễ hội cũng là bởi tính chất của di tích ấy tạo nên để người dân được hướng tâm linh về với cội nguồn.

Làng Đô Du xưa có nếp làng, tổ chức lễ hội hàng năm với nhiều nét đặc trưng của vùng văn hóa ven biển. Cụ Lê Trung Tân- nhà giáo hưu trí- hiện nay làm công tác NCLS của huyện Hoằng Hóa cho biết: Hàng năm, ngày 20 tháng Giêng là ngày làng Đô Du mở hội Kỳ Phúc. Trước ngày đó, các phe giáp trong làng đã đã họp để củ soát mọi việc chuẩn bị cho ngày lễ. Có một tục còn lưu tới bây giờ là các hộ trong làng đều theo nếp nuôi quân ngày xưa, chuẩn bị gạo trắng nước trong để từ giờ dần ngày 20 tháng Giêng nấu cơm( nấu nồi tư cơm( 2kg gạo) mang ra đình dâng cúng. Cỗ Thánh khao quân nên mọi nhà đều rất cẩn thận, chọn lựa từ củi, đến gạo nước, nồi nấu để sao cho không bị chê trách. Nếu không may, do sơ suất, cơm không dẻo, bị sém, bị khê, coi như lương thực không dâng cũng được, mà gia đình cũng kém phát đạt trong năm.

Sau khi dâng cúng, làng bắt đầu tổ chức rước. Khi rước, có kiệu thờ của thành hoàng làng và kiệu thờ của ông Lê Phụng Hiểu một võ quan thời lý Thái Tông được phong ăn lộc vùng Hoằng Hóa, dân gọi là Thái Bưng.

Bởi cả hai vị thành hoàng hàng huyện và thành hoàng làng đều là những công thần, nên nghi lễ nghiêm túc lắm. Mọi việc đều theo thứ tự nghi vệ qui định. Riêng ở Đông Du, quê ông Lê Trung Giang vốn là đất võ vật nổi tiếng. Các cụ thường mở hội vật kéo dài, lôi kéo người ở Phú Khê, ở Bưng về dự. Thường thì có võ sinh đóng khố cởi trần khi vật, nhưng ở Đô Du lại có lệ: Mặc quần dài chớm gót khi vật để phô diễn những miếng võ điêu luyện; hạ được đối phương mà vẫn ung dung, thư thái, không để bẩn lấm quần áo mới là thắng. Đó là một thế vật bí truyền, mà ngày nay các cụ còn đang tìm cách khơi dựng lại.

Cũng ở nơi đây, từ thế kỷ XVII, đã có tục tế nữ quan( 12 người làm lễ) và múa “sanh ngô” trình diễn trước ban thờ. Theo các cụ mô tả, người múa “sanh ngô” mặc áo dài, ống tay rộng, cầm 2 tay 2 quạt rộng( hay là cái vả?). Khi lông vũ quạt và người che đỡ lẫn nhau, phiêu diêu thoát tục rất đẹp.

Mới khảo sát một vùng văn hóa riêng của Đô Du trong tập thể làng xã ở Hoằng Ngọc mà đã tìm ra được bao điều đáng quý, xây dựng nên một không gian dân dã, vừa bao hàm nét đẹp. Đúng như gia phả họ Lê đã ghi: “Người xưa nói tổ tiên ta xưa là những người dân dã, nhưng sống nhân hậu, siêng năng, học hành chăm chỉ cả văn và võ. Gặp lúc giặc giã nổi lên thì đem sức ra giúp nước, khi đã thành công, trở về vui cảnh điền viên, hòa hợp với dân làng”.

Sự hòa hợp đó, tạo nên một nếp sống có thuần phong mỹ tục, đời đời truyền nối. Từ đó suy ra người đã mở đường cho con cháu tiến tới, đã lấn biển cho dân có ruộng cày, đã chăm lo đời sống văn hóa tạo vẻ đẹp trong sinh hoạt của vùng rất đáng được đời đời ca ngợi.

Các triều vua xưa đã ân sủng đối với ông Lê Trung Giang và họ Lê ở Hồng Đô, như ban chữ “Khải vân võ đường”, ban ngự dụng( 4 đôi đũa) và sắc phong ông Lê Trung Giang là thành hoàng làng.

Một nơi thờ dù đã trải qua nhiều biến cố nhưng di vật còn đây, lòng dân còn đấy, nếp sống văn hóa của một vùng từ bao đời do vị thành hoàng để lại còn đấy, rất nên coi nơi đó là vùng di tích cấp quốc gia, để mọi người dân cùng trông theo, bảo vệ mà phát huy trong lúc cần bảo vệ văn hóa di sản dân tộc trước mọi sự xâm nhập.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 31.8.2016.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004