Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





NÓI NHIỀU HIỂU ÍT





Biết viết, biết đọc. Đôi khi cũng phọt phẹt ra được vài ba câu chữ Nho, chữ Hán. Hắn tự cho mình là người uyên bác. Chuyện gì hắn cũng chõ mũi vào được. Chuyện xe cán chó, chó cán xe tận Cà Mau, Móng Cái hắn đều tinh tường. Người ta thán phục hắn có tài bẻm mép ngang ngửa với mấy bà hàng cá, hàng thịt. Hắn nói liên tu bất tận, từ thời sự, qua thời trang, tới thời tiết…Y chang chương trình truyền hình. Khi bị ai đó chận một cục đá to tướng ngang cuống họng, nuốt không nổi, hắn mới chịu hãm thanh.

Sáng nào cũng như sáng nào, bất kể mưa hay nắng, áp thấp nhiệt đới hay bão tố. Hắn vẫn ngồi thừ lừ chỗ quán cà phê cóc, vỉa hè. Quán chui nhưng giá cả chẳng hề chui. Quán hoạt động từ ba, bốn giờ khuya đến tầm bảy giờ sáng là cuốn gói. Không cuốn thì công an trật tự cũng cuốn. Mà để mấy ổng cuốn thì khỏi phải kêu trời. Ly tách, ấm bình cứ lao nhao lốn nhốn, không gãy vòi thì cũng sứt môi. Bàn ghế thì cứ bay vèo vèo lên xe công vụ, không gãy chân thì cũng rệu rạo, long mộng, hở đinh. Khách thì chạy tán loạn. Biếu không cữ sáng cho thiên hạ là cái chắc. Cũng có lần như thế thật nhưng sáng hôm sau hắn nhanh nhảu đọc từng tên, chỉ từng người, và ông chủ quán cứ thế thu lại tiền không mất một hào. Vắng hắn, quán cũng buồn. Toàn trí thức không thì không khí cũng nhạt. Thì thầm đâu phải là cái thú của cư dân cà phê vỉa hè, ăn uống phải có người thấy, nói năng phải có người nghe. Không thế, thì thành ăn vụng, thành nói lén nhau à. Ông chủ quán lúc nào cũng dĩ hoà vi quý, ai sao ổng dzậy, nghe cũng chẳng mất mát gì, chỉ cần tiền nhét túi là xong. Có hôm im ắng quá, ông chủ quán khích hắn vài câu là rôm rả cả làng. Hắn kể về cuộc đời hắn nghe cũng tội, giống như một cuốn tiểu thuyết bi hài.

Sau giải phóng, chẳng có gì làm. Nguỵ mà. Nghĩa quân quèn nên chỉ học tập ba ngày là về. Nhờ có mẹ già và vợ buôn bán cộng với nghề sửa xe đạp của hắn, chắc cũng táy máy mà biết, nên không phải đi kinh tế mới. Hú vía. Hắn trở thành xã viên của hợp tác xã Dịch vụ sửa chữa. Thấy mấy ông thợ chính mặc bộ đồ dầu lem luốc, dơ bẩn nhưng khách hàng có vẻ an tâm khi giao xe cho họ sửa chữa nên thu nhập của họ nhiều hơn. Hắn cố kiếm cho ra bộ đồ như họ nhưng phải trét dầu mỡ dơ vào. Không làm thế thì áo quần mới quá, giống như người mới học việc, chẳng ai đưa xe sửa thì đói. Quần quật cả năm chẳng dư đồng xu ten nào. Hắn bèn o bế lão cửa hàng trưởng đôi ba bữa nhậu chỉ để xin tờ chứng nhận : Có ý chí phấn đấu, siêng năng, thật thà…là ổn. Hắn nhanh chóng thay da, đổi thịt làm lơ xe tải mấy ngày sau đó. Làm lơ xe tải thì chẳng bao giờ đói. Chịu cho người ta sai vặt là có tiền. Xe không lăn bánh thì thầy trò vác võng ra treo tòong teng dưới gầm xe mà ngủ. Tới giờ lại ăn. Ăn xong lại ngủ. Cứ thế. Sợ nhất là mùa cận tết phải chạy ngày ,chạy đêm xe vừa về chất hàng xong là đi. Chóng mặt thật. Vỏ lốp xe thì chắp vá đủ loại, đủ kiểu; sơ mi lận trong, lận ngoài. Đi trăm cây số có khi thay cả cặp, vất vả lắm. Lúc này hắn mới biết giá trị thực của thằng lơ xe là gì. Nằm dài xuống đường, kê đội, tháo tắc kê, thay bánh, lăn bánh đi vá, vá xong lăn bánh về ráp…Mồ hôi, mồ kê trộn lẫn dầu mỡ. Mặt mũi tèm lem. Khổ hơn con chó. Đã vậy, túi lúc nào cũng rỗng tuếch, chẳng mánh mung gì được. Hàng hoá có người áp tải. Mua bán thì chuyển khoản. Người áp tải cũng mo luôn. Chịu. Chịu là chịu với hắn chứ tài xế thì vẫn ngon lành, nhắm nháp chút chút dầu mỡ cũng sống qua ngày được. Chẳng ai định mức cho đúng lượng dầu mà những chiếc xe cà tàng này tiêu thụ. Một chiếc xe có tới năm, ba nhãn mác Liên Xô, Nhật, Tàu đủ mặt. Có xe uống dầu như uống bia, rú ga một cái là xong nửa lít, khói đen mịt mù. Uống nhất là xe Bò Maz của Liên Xô, xe Reo của Mỹ, chuyện này nhà nước lo. Còn hắn, chỉ cần được tài xế cưng thì ngon cơm lại rủng rẻng tí tiền, được chỉ dạy tận tình chu đáo. Đường vắng, ông ta trao xe cho chạy, lỡ có lọt xuống ruộng cũng chẳng sao. Cùng lắm là gỡ con tán đầu rô-tin, báo xí nghiệp xe lạc tay lái là xong. Xe hư xí nghiệp chịu, có phải tài sản của nhà ông ấy đâu mà ông ấy tiếc của. Nhanh lên tài cái chắc. Và hắntài . Mớitài nên người ta giao cho hắn cái xe thuộc loại cổ lỗ sĩ nhất xí nghiệp. Con Bò Maz không thùng. Loại này chỉ để kéo gỗ chứ chẳng làm được gì. Khi kéo gỗ phải có thêm một trục bánh xe rời nữa mới được. Tuỳ theo độ dài của các khúc gỗ mà đặt trục bánh xe này chỗ nào. Nó là cái rơ-mót rời, đơn giản nhất thế giới. Người ta gác một đầu gỗ lên đuôi xe, một đầu gỗ lên cái rơ-mót rời đó, dùng xích siết chặt chúng lại. Phải canh cho trục xe vuông góc với gỗ. Nếu không, thì đầu chạy một đàng, đuôi chạy một nẻo. Loại đầu kéo này rất mạnh, tuy không có cầu trước nhưng dốc cao mấy nó cũng bò lên được, miễn là đi số một. Chính vì vậy mà nó có cái tên nửa Việt, nửa Nga : Bò Maz. Loại xe này vô số một rất khó, xe gần như dừng hẳn mới vào được. Mỗi khi nhìn thấy có dốc ở đằng xa thì lơ xe phải lăm lăm cục canh trong tay rồi. Nghe tài xế hô “ canh “ là bung cửa nhảy xuống, chêm ngay cục canh vào bánh sau. Chậm coi chừng ăn giò lái. Khi tài xế vào số được rồi cũng phải có người giữ cần số. Xe nặng, số trả về mo thì vong; thắng hơi, lốc-kê cũng vứt.

Tuổi thọ của xe vốn ngắn, nên tuổi thọ của xí nghiệp cũng chẳng dài. Tải trọng của xe có hạn. Người ta khai thác chúng quá mức, sắt thép cũng không chịu nổi, hư hỏng là không thể tránh. Thời gian, số đầu xe còn dùng được ngày một ít đi. Cuộc sống chưa bao giờ ngơi nghỉ, nhưng yếu mà cứ lao theo nó thì nghẽo. Người ta không thể dùng hoài cái mác năng động khoác lên chiếc xe cút kít khi mà đói đã vã ra lưng. Cây kim trong bọc có ngày cũng lòi ra. Thiên hạ cười vào mũi chứ chẳng hay ho gì. Xí nghiệp muốn tồn tại, cách duy nhất là khoán đầu xe cho tư nhân tu sửa rồi kinh doanh. Xí nghiệp chỉ làm công tác hành chính là cấp lệnh vận chuyển và thu phí. Thấy việc vận chuyển gỗ làm ăn được, hắn nhận chiếc xe Bò Maz cũ của mình. Tuy xe cũ kỹ nhưng chẳng phải sửa sang gì. Chỉ sắm cho nó mười cái vỏ loại một ngàn hai trăm, hai mươi là xong. Mỗi tháng đi, về Sài Gòn năm, bảy chuyến. Túc tắt, hắn cũng xây được căn nhà ba tầng. Vợ hắn nõn ra trông thấy. Con hắn bắt đầu đua đòi. Hắn thì khỏi nói, bia ôm đèn mờ hà rằm. Có lần, hắn cùng bạn bè bù khú một bữa, tưng tưng, rủ nhau đi hát. Tiền túi rủng rỉnh mắc gì hát chay. Mấy em tiếp viên nhà hàng thì mát hết chỗ nói, từ từ anh nào cũng có. Bia thì năm ngàn một chai. Hít hít ngửi ngửi chút xíu mất mười chai. Nghĩ cũng ức. Nhưng đâu chỉ vậy, hạt dưa, bánh trái các em nhai rốp rốp như máy xay lúa, bia uống phà phà như vòi rồng. Đã vậy còn đá lon, đá chai đủ kiểu. Ở nhà, con xin mấy ngàn ăn sáng, mắt cứ trợn giọc. Hắn là người trần mắt thịt chứ phải thần thánh gì đâu, nên sai trái làm sao tránh khỏi. Có lần quá đà giở trò yêu tinh làm bung cúc ngực người ta, khi nghe cái bốp vào mặt đau điếng mới hoàn hồn, tỉnh rượu. Bỏ luôn, nhậu gác tay từ đó.

Trước đây, mỗi chuyến đi về chỉ mất hai ngày. Nay, ba ngày, bốn ngày hổng chừng. Vợ hắn đâm nghi, cho đứa con trai theo cảnh giới. Tội nghiệp, thằng nhỏ phải làm lơ xe cực nhọc cho cha mình. Mẹ nó làm sao biết nỗi cực nhọc đó. Cho đến một ngày. Trời mưa. Đường trơn. Chiếc xe già cỗi không na nổi những bi gỗ lên đèo. Xe chết máy giữa dốc. Hắn dùng cả hai thắng mà xe như vẫn muốn trôi về phía sau. Thằng nhỏ ôm cục canh nhảy xuống, canh vào bánh xe nhưng xe quá nặng cục canh không chận được. Càng canh vào thì càng bung ra. Thằng nhỏ lấy chân đạp mạnh vào cục canh, trượt chân té nhào xuống đường. Bánh xe cán qua cục canh, cán luôn đôi chân của nó. Nghe tiếng con la thất thanh, hắn buông vô lăng nhảy xuống mặc cho chiếc xe lao đi đâu thì lao. Hắn ôm con đứng giữa lưng đèo mưa gió, mắt lồi ra, nhỏ máu. May là đón được chuyến xe chạy ngược chiều…

Giờ, thì hắn đã lên chức ông nội rồi. Vợ con hắn buôn bán cũng khá giả. Hắn lãnh lương vợ, ngày một cữ cà phê, hai cữ cơm. Tính chi li còn hạnh phúc hơn nhiều người. Bao nhiêu thói hư, tật xấu nếu quyết tâm người ta đều bỏ được. Hắn cũng bỏ được, duy chỉ tật nói nhiều thì không.

Sau này, có người kể lại cho hắn nghe là chiếc xe của hắn lao xuống dốc với tốc độ của máy bay phản lực. Bẻ đôi cây đa to tướng cỡ năm người ôm phía cuối dốc. Gỗ trên xe bắn ra tung toé. Xe bẹp dúm. Họ còn khôi hài :” Cái đồng hồ đeo tay của bác tài để trên ca-bin xe vẫn còn nguyên. “. Vậy mà hắn cứ hỏi thăm, xem có ai nhặt được cái đồng hồ đó không, mới lạ. Hắn nghĩ ai cũng nói thật, không ai giống hắn.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ ĐàLạt ngày 29.7.2016.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004