Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới







Mối Tình Giấy Sắc




Ô ng Bình dắt chiếc xe đạp nhỏ đi cùng tôi về nhà. Đó là một căn buồng hẹp, kê tủ sách, chiếc bàn con và mấy chậu hoa cúc đặt bên cửa sổ.

_ Dinh cơ của tôi đấy. Nói xong, ông mời tôi cùng lên đệm để trò chuyện. Hai người hơn tuổi nhau, như các vị bô lão thường dạy: “Nhất tuế vi huynh- tam tuế vi thúc…” thì tôi phải gọi ông bằng chú, xưng cháu nhưng ông gạt đi và nói:

_ Ta cứ xưng hô vừa phải thôi, tôi cao tuổi là anh, cậu ít tuổi hơn là em, gọi nhau như một nhà để thân mật, chuyện trò vui hơn.

_ Đây là bác cho phép nhé. Dạo này em thấy bác xuất hiện trên các kênh truyền hình nhiều quá, đáng mừng. Mà hình như có người xin bác chỉ bảo, gây dựng làm nghề giấy sắc đúng không?

_ Chú để ý kỹ nhỉ, đúng là từ hôm VTV3 đưa nghề tổ và tôi ra giới nhiệu, tôi có nhận được nhiều đơn đặt hàng. Khổ nỗi là các cụ ngộ nhận, nghĩ rằng tôi đang làm giấy sắc nên có nhiều nơi viết thư đến yêu cầu làm cho mỗi làng vài chục tờ giấy sắc để các cụ chép lại “ lòng sắc” vì bản cũ đã bị hư hại, mất mát.

_ À ra thế. Có chuyện ấy ạ.

Ông Bình không nói tiếp, lấy từ cặp sách cho tôi xem những lá thư. Có vị ở phía Nam xa xôi, có vị ở ngay các tỉnh lân cận Hà Nội đã gửi cả thư và ảnh với yêu cầu vẽ đúng hình từ sắc cổ mà làng đã có.

Tất cả những lá thư ấy đều nói lên tấm lòng quý trọng di vật lịch sử, mong muốn vực lại "nghề làm giấy sắc" đẻ cùng bảo tồn bảo tàng giúp nhân dân phục chế nhiều bản sắc quý.

Ông Binh xếp lại những lá thư, nhìn vào khoảng không mơ màng nói:

_ Đến nay thì còn có ai làm nghề giấy sắc nữa đâu. Làng Nghĩa Đô chỉ có họ Lại mới nắm được bí quyết nghề nghiệp, là do xưa kia, vào năm Hoằng Định triều Lê, chúa Trịnh xin với nhà vua ân tứ cho riêng họ Lại được làm giấy sắc. Mệnh vua đã ban, “ Thánh chỉ tới” ai mà dám kháng, nên các họ khác có muốn làm cũng không dám làm. Bây giờ họ Lại bỏ nghề đã hơn 50 năm, từ tàu seo, khuôn liềm đến hòn đá nghè cũng thất lạc, vậy ai cùng tôi dựng nghề bây giờ, “Lực bất tòng tâm” chú ạ.

_ Thế các kênh truyền hình họ chú ý khai thác, làm phóng sự về nghề để làm gì? Tôi ngây thơ hỏi lại. Ông lão hóm hỉnh nói:

_ Chú em ơi, trong cao trào đô thị hóa, hiện đại hóa, nhiều nghề cổ truyền sẽ bị mai một. nay các kênh VTV khai thác thông tin, nhắc lại để quần chúng biết, tỷ như ngày xưa ta đọc “vang bóng một thời” của cụ Nguyễn Tuân thôi.

Trong buồng ông Bình bây giờ ngoài tủ sách nhỏ, nhỏ một cái ống bút và chiếc radio chạy pin luôn cận kề bên gối, không có một chút gì nhắc lại nghề xưa. Tôi chỉ cái hòm gỗ sơn then kê cao cẩn thận hỏi:

_ Trong ấy chắc có nhiều đồ quý lắm, phải không lão huynh?

_ Đó là những kỷ vật về nghề mà gia tộc tôi còn giữ được. Trong ấy có khuôn in các hình vẽ để người thợ tô nét kim nhũ lên. Ngày xưa làm một tờ giấy sắc công phu lắm. Ông ngâm ca câu đối:

Kim tiên tự cổ truyền gia bảo

Hoa bút kinh kim nhạ quốc phong.

Lên nhà thờ họ, ông châm hương, chắp tay vái tổ rồi nghiêm trang kể tiếp:

_ Theo tộc phả thì tổ phụ chúng tôi là vị quận công họ Lại. Từ Thanh Hóa, tổ phụ đã theo Trịnh Kiểm, Trịnh Tùng phò vua Lê đánh lại nhà Mạc, khôi phục triều Lê. Do công lao hãn mã nên họ Trịnh đời đời được phong vương, tổ phụ chúng tôi cũng được phong là quận công, trấn thủ xứ Thanh Hóa. Trong cuộc chiến đấu chung, hai họ đã gả con làm thông gia với nhau, nên sau khi về Thăng long, họ Trịnh tâu xin nhà vua ân tứ họ Lại được độc quyền làm giấy sắc của triều đình. Tờ giấy sắc ở Nghĩa Đô cũng làm từ vỏ cây gió như các tờ giấy lệnh ở Yên Thái, giấy bản ở Hồ Khẩu, có khác là khuôn mẫu to hơn, dài rộng hơn. Cái bí quyết của màu vàng là dùng nước hoa hòe nấu đặc, khi nhuộm đặt ở tờ giấy đã nghè phẳng, dùng bàn thép lá thông chấm nước, quét đều màu. Phải bốn lần nhuộm, bốn lần phơi khô tờ giấy mới bền màu. Còn hình vẽ là Long Ly Quy Phượng và Long vân hải hội, dùng bột vàng quỳ pha nước keo mà vẽ. Sau này buôn bán với tàu, mới dùng kim nhũ, ngân nhũ thay thế. Xưa thì vẽ tay, nay hàng thịnh thì khắc khuôn in mẫu cho nhanh.

Ông cho tôi xem những tờ mẫu làm bìa quyển Thần phả, gia phả với hình khắc đủ kiểu. Tôi cũng đã từng đến các đình đền xem tận mắt tờ sắc quý giá, nay được nghe ông Bình kể chuyện, thêm cảm phục.

Những tờ bìa mẫu đã lâu vẫn để trên bàn thờ nay chỉ là hoài niệm. Ông Bình kể tiếp:

_ Cách mạng tháng 8 đã chấm dứt chế độ phong kiến, tiếp theo là toàn quốc kháng chiến 1946, cha con tôi xếp lại đồ nghề, bỏ làng ra hậu phương. Cha tôi ở cùng bà con vùng Bưởi làm giấy tại Ấm Thượng- Phú Thọ, còn tôi vào Vệ quốc đoàn đi các chiến dịch. Đến khi về già, trở lại chốn cũ thì làng đã đổi nghề cho phù hợp thị trường hiện đại.

_ Thời gian đi kháng chiến, có kỷ niệm nào nhắc lại nghề tổ không?

_ Có một lần tôi về Đồng Quan- Quán Bóng. Làng này có nhiều phụ nữ lên Bưởi làm thợ seo giấy. Con gái các làng vùng Bưởi ít cô đứng seo nên thường thuê thợ theo vụ. Cô nào làm giỏi thì làng Nghè thuê đứng seo giấy sắc, vì đó là giấy tiến vua nên phải làm cẩn thận. Hồi ấy, tàu seo mọi nhà còn dựng quanh ao, từ sớm các cô đã gọi nhau đi làm, cô Xoan đứng tàu seo nhà tôi. Cô ấy có khuôn mặt thùy mị, má lúm đồng tiền, tóc vấn bỏ đuôi gà, cái vành khăn tròn lẳn đặt trên đường ngôi rẽ giữa, trông nghiêm mà có duyên lắm. Lúc nào cô ta cũng mặc chiếc áo cánh nâu nom, may sát thân, nên mỗi khi nhắc đến tên Xoan, tôi lại hình dung mùa xuân đang về với những chùm hoa xoan màu tím e ấp sau lá xanh non. Tôi mê cô ấy lắm nhưng vì cái quan hệ gia tộc, xóm làng, đăng đối của làng tôi khe khắt nên chẳng dám nói cùng ai, chỉ tìm cách đi qua liếc trộm, khi nhận những tờ giấy của Xoan làm ra, cứ bâng khuâng như cảm được mùi hương bồ kết từ mái tóc dày phả vào. Bấy giờ hành quân về Quán Bóng, thật không ngờ trong đám du kích xã đón bộ đội lại có Xoan. Tôi mừng quá hỏi:

_ Chào đồng chí Xoan. Không ngờ gặp nhau ở đây. Đồng chí và gia đình khỏe chứ? Tôi cố ý nhấn câu “Gia đình” vì chắc gì Xoan vẫn là Xoan ngày xưa.

_ A đồng chí Bình làng Nghè phải không? Tôi vẫn khỏe. Cô cười, cái lúm trên má cứ xoáy hút tôi, và má Xoan đỏ hồng dưới ánh đèn. Bộ đội và du kích xúm lại true ghẹo. Trong lúc tôi lúng túng thì Xoan mạnh dạn cầm tay tôi giơ cao:

_ Xin báo cáo với đơn vị, ngày trước tôi và đồng chí này quen nhau. Tôi là thợ seo giấy, còn đồng chí Bình là thợ vẽ hoa đẹp lắm.

_ Bây giờ có quen không? Để liên hoan nào? Có ai đó nói to. Xoan vẫn nắm tay tôi, cô trả lời: "Chúng tôi chờ độc lập ạ!" Mọi người cười rộ vui vẻ. Buổi hợp quân chỉ còn vài giờ, đơn vị tôi lên đường đi chiến dịch. Mỗi người mỗi nơi, chỉ kịp dặn nhau phấn đấu cho lý tưởng người thanh niên thời đại mới.

Mấy năm sau, tôi được tin máy bay Pháp ném bom làng Quan Bóng, Xoan đã đi phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ, rồi không biết tin nữa. Tôi nhớ về Xoan như một giấc mơ đẹp.

Đến đây, ông nhấp chén rượu ngâm khổ thơ:

Cho đến xuân nay đã bạc đầu

Rượu xuân nhắp thấy đắng lòng nhau

Hoa xoan vẫn nở, người đâu nhỉ

Giấy sắc năm xưa cũng nhạt màu.

Kể xong câu chuyện riêng, ông Bình ngớ ngẩn nhìn vào khoảng cuối vườn. Ở đó, từ bao giờ đã có mấy cây xoan đang trổ hoa. Những túm hoa tím biếc, gợi nhớ. Tôn trọng tấm tình riêng của ông, tôi biết trong lòng người già- người thợ cuối cùng của nghề làm giấy sắc vấn vương bao điều về nghề cũ, tình xưa.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 29.7.2016.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004