Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




Hai Người Đàn Bà Ấy





N hận tin, tôi về dự đám tang bà bác dâu trưởng. Về đến nhà, việc tang ma xong xuôi cả rồi - mồ yên, mả đẹp. Bức hình bà bác tươi cười ngự trên ban thờ. Chắc bác vui vẻ lắm, được về chầu giời rồi! Bác dâu tôi hưởng thọ ngoài chín chục, chính xác là chín lăm, đại đại thọ! Tên của bác được gọi là Dậu. Ngay sau khi lấy chồng, cái tên thuở con gái, không còn được dùng nữa. Mọi người gọi bà nội tôi là cụ Phó Sửu. Phó là do ông nội tôi mua chân phó lý trưởng, một thứ danh thôi; còn Sửu là năm sinh của cụ, Tân Sửu – Tây lịch là 1901. Vậy là cả mẹ chồng và nàng dâu đều mất đi cái tên thuở con gái. Tôi nhớ lần ấy, khi bà nội còn sống, cụ ngồi đầu hè, lẩm bẩm:

- Nhà Dậu (tức bác dâu tôi ấy), làm dâu năm nhăm năm rồi.

Chà chà, làm dâu tận năm lăm năm, quả là bác sung sướng, hạnh phúc quá! Bà nội tôi là hình mẫu của những bà mẹ chồng đồng bằng Bắc bộ, hành xử với nàng dâu theo phương châm: “đã mua mâm, thì đâm cho thủng”.

Bác tôi về làm dâu quãng đầu thập niên bốn mươi của thế kỷ trước. Lấy chồng, sinh nở được đứa trai đầu đôi năm, thì chồng mất. Năm ấy, bác chưa quá tuổi đôi mươi. Thế mà ở vậy, tận tụy báo hiếu, hầu hạ bố mẹ chồng và nuôi con. Tức là từ khi làm dâu đến lúc mất, trên bảy chục năm trời. Bác tôi tự hào lắm, cái gương cho cả làng, cả xóm soi vào. Bác sống trong niềm kiêu hãnh, giữ phẩm tiết người đàn bà góa.

Bác chỉ có mỗi mụn con, còn bà mẹ chồng, có tới bảy cậu trai và cô con gái áp út. Có một đàn con, song bà nội tôi nào hạnh phúc hơn gì nàng dâu đâu. Bà cũng có nỗi đơn côi của đàn bà, y như nỗi buồn hắt hiu của nàng dâu góa bụa. Ông nội tôi hay xa nhà. Dân buôn bè, ông lên tận miền ngược, mãi vùng Suối Rút, Hòa Bình mua tre gỗ, rồi thợ xuôi bè về quê. Qua Hà Nội, thợ thuyền xuôi bè tiếp. Lấy cớ bận rộn quan hệ, đãi đằng nọ kia, ông ở lại đây.

Thực ra, nào ông có bận rộn giao đãi gì đâu, ngoại trừ quanh quẩn mấy tiệm cô đầu xóm hát Khâm Thiên, hay tận dưới mãi cống Vọng, nghe đàn và hát, ngắm nhìn ca nương và mỗi năm, ông là khách làng chơi trú ngụ tới dăm, bảy tháng. Kể cả khi quay về quê nhà, phủ lỵ Tiên Hưng, Thái Bình, cũng chẳng mấy khi ông có mặt ở nhà. Chiều muộn, khăn xếp, áo the, ô tàu, ông thong dong dạo gót lên phố Phủ. Cái thú quan viên ngấm sâu vào ông mất rồi. Ông đâu có thưởng thức tiếng đàn của tay kép đàn đáy, đến chỉ cốt ông nhìn ngắm ca nương, toàn các em đào non tơ liễu và ông cầm roi chầu giữ nhịp – gõ ra toàn những tiếng tom cũng chat.

Năm canh to nhỏ tình dơi chuột,

Sáu khắc mơ màng chuyện nước mây.

Vậy là bà nội tôi buồn, lại cô đơn, lại thiếu vắng và thành ra có chồng mà cũng như không. Thế nên bà tôi đâm ra ham hố hầu bóng và bà mang thêm cả cái tính khí ghen tuông, thậm chí ghen cả với cả ma. Bà hay kể cho tôi nghe chuyện ấy. “Những đêm trăng sáng, ông nội mày hay mang đàn bầu ra sân gảy, còn lẩy Kiều nữa. Ông mày gảy đàn hay lắm! Thế nên ma nó mò đến nghe. Chúng còn xúm vào chòng ghẹo ông nội mày. Không chỉ một con, có đến mấy con cơ. Con tóc dài chấm gót chân, nó sống ở cây thị...”

Nói rồi, bà chỉ tay về hướng cây thị cổ thụ xum xuê, um tùm góc vườn xa. “Còn con ma mắt ốc nhồi nữa. Mắt cứ thô lố, trông xấu xí lắm. Nó là con ma ngụ ở rặng ruối. Rồi thì…” Tức là lắm ma quỷ chòng ghẹo, đong đưa chồng bà. “Có hôm sắp xếp gánh hàng ở sân, tao đứng lên giậm chân mấy cái, chúng vẫn chẳng chịu đi. Tức quá, tao phải khua khua đòn gánh, chúng mới bỏ đi đấy.” Bà tôi nói về ma, ghen với ma, cứ như với người. Thế giới của bà, hình như trần gian và thánh thần, ma quỷ đều vướng vất, quẩn quanh, hòa trộn với nhau. Qua những đêm trăng nghe chồng gảy đàn, lẩy Kiều, Kiều đã ngấm vào bà, bà hay đem ra ví von, giảng giải và còn mang ra dạy dỗ cả tôi - thằng cháu nội yêu của bà.

Ham hầu bóng, vậy nên chả còn đền miếu nào trong vùng, bà tôi chưa lui tới. Tại nhà, bà lập riêng ngôi điện thờ và bao hẳn một cánh cung văn. Ngoài hầu đồng ở đền nọ miếu kia, hàng tháng, điện thờ nhà còn tổ chức buổi chầu hầu Thánh tại gia. Nhà đông con, nhiều khách, điện thờ ấy, chỉ những đứa trai chưa vợ, bà mới cho phép vào thắp hương trước các vị thánh của bà. Cái tính khí thích hầu bóng, không ai ngăn nổi, kể cả ông nội tôi, quyền uy thế. Mà nhà lắm tiền, nhiều của, không hầu, không rước, thì còn biết bày vẽ ra trò vè gì nữa? Ông nội tôi cứ nửa đùa, nửa thật:

-Thôi! Nhờ hầu Thánh, mỗi tháng, cả nhà được bữa cỗ tươi, thịnh soạn.

Ban cung văn gồm mấy ông kép đàn và một người hát xướng. Nhờ điện thờ của bà nội tôi và cùng bà đi hầu hết đền nọ miếu kia, họ cũng kiếm chác được. Có chuyện hài rằng, vào một đêm hầu, buổi chiều đó, nhà ông bà tôi tưng bừng cỗ bàn rượu thịt. Mấy cậu con trai âm mưu, bày ra trò sau:

Đám trẻ bí mật hái lá thị, thái ra phơi, rồi trộn đấu vào thuốc lào. Sau bữa rượu thịt thỏa thuê, chuẩn bị cho lễ hầu Thánh, mấy ông cung văn quây quần quanh chiếu nước, rít thuốc lào. Có ông bảo, hôm nay sao thuốc nhàn nhạt, ngai ngái. Chê thì chê, mỗi ông cũng làm độ dăm điếu. Giờ hầu Thánh bắt đầu. Giá hầu Cô Bé Thượng Ngàn, giọng cung văn thánh thót:

Cô bé về đồng

Cô chít khăn xanh

Cô bận áo lục…

Khói hương nghi ngút. Bà nội tôi khăn chầu áo ngự, múa lượn trước ban thờ. Mấy ông cung văn đàn hát hăng hái. Tiếng đàn, tiếng hát rộn ràng. Trong lúc bà tôi thánh nhập, nhảy tênh tếch, thì mấy con nhang đệ tử, các bạn đồng ngồi gần đám cung văn, cứ giãn, giãn cả ra. Ánh mắt họ liếc nhìn cánh cung văn khác lạ. Dù hương trầm thơm ngát, vẫn chả át nổi cái mùi thoang thoảng... thối. Ai đó thính tai, thi thoảng còn nghe tiếng lụp bụp. Chỉ đến khi có tiếng “bủm” rõ to, đám trẻ không nhịn nổi, phá ra cười, chạy tán loạn, làm cánh cung văn ngừng đàn hát đánh khự.

Bà nội tôi lúc ấy thánh đang nhập dở, mắt trừng trừng ngó nhìn quanh. Cảnh ấy làm hai người hầu dâng đâm ra luống cuống. Sau bận ấy, bà nội tôi tra tìm, biết được nguyên do, từ ấy cấm tiệt đám trẻ, chúng không được mon men vào những đêm hầu thánh của bà nữa. Điện thờ và việc hầu bóng của bà nội tôi kéo dài tới cuối thập niên bốn mươi, thì bị giặc Tây càn đốt trụi. Từ đấy, tuyệt nhiên không thấy bà tôi nhắc nhở tới việc hầu bóng. Ngay như giỗ chạp, cũng tịnh không thấy bà thắp hương khấn vái. Nhưng chọn người, bà vẫn giữ lệ xưa, chỉ những đứa trai tân, mới được phép vào thắp hương trước các cụ.

Năm ấy tôi về quê ăn tết. Tết quê vui vẻ thật! Xóm làng nhà nhà rộn rịch gói bánh chưng, ngả lợn, quét tước sân vườn. Sáng hai chín, bác dâu tôi xin phép mẹ chồng về thăm mẹ đẻ. Hôm sau, trước bữa Tất niên, bác sẽ quay lại. Tôi thoảng nghe bà nội cằn nhằn:

- Nó có cho về không?

Tôi không rõ, “nó” ở đây là ai. Còn bác dâu, vẻ mặt hậm hụi. Hai mẹ con bác lúi húi ra ngõ, tất tả đạp xe đi. Họ đi rồi, bà nội vẫn còn chép miệng:

- Bảo rồi! Không nghe, lại khốn! Nó ghen lắm cơ!

Ghen là gì? Ai ghen? Đầu óc trẻ thơ của tôi thấp thoáng nghĩ vậy, mà không dám hỏi bà. Ngay quãng hai, ba giờ chiều ấy, đã thấy mẹ con bác dâu tôi lụi hụi dắt xe vào sân. Bà bác mặt tái dại, người rũ ra, tất tả bước nhanh tới trước ban thờ, hì hụi lễ vái, hai tay còn tự tát vào mặt mình, miệng lảm nhảm:

-Em xin nhà. Nhà tha cho em. Em trót dại. Em xin nhà đấy!

Rồi bác dâu tôi lại lễ, lại lạy, lại vái và lại tự hai tay vả vào mặt mình. Tôi thấy lạ quá! Bà mẹ chồng lúc đó ngồi lau lá dong, ngó nhìn nàng dâu, thủng thẳng:

- Nó ghen lắm! Có chịu cho vợ đi đâu bao giờ!

Sau này tôi mới hay, bác trai tôi xưa kia tính tình ghen tuông. Nay hồn ma ông vẫn ám đuổi, bám sát, chả bao giờ cho phép vợ đi đâu xa. Cứ mỗi bận bà đi đâu đó, hồn ma ông lại hành hạ vợ. Có thể vì thế, vì chồng tính hay ghen, nên bác dâu tôi không dám rời xa nhà chồng, kể cả việc bước đi bước nữa? Bà nội tôi có hai người con trai tòng quân chống Pháp, người tham gia năm 1949, người cuối năm 1950.

Ông chú nhập ngũ sau tên là Cường. Năm ấy có lá thư của ông nhắn về nhà. Khi bà nội tôi tới nơi, đơn vị đã hành quân xa mất rồi. Bốn người trong làng nhập ngũ cùng lứa, sau chỉ còn một từ mặt trận về làng, ba người kia biệt tăm tích. Sau có tin đồn, họ hy sinh ở chiến trường đâu đó. Bà nội tôi vẫn nuôi hy vọng, con trai mình còn sống. Hoà bình Năm tư không thấy con quay về. Mọi người đồn đoán, chú tôi vào Nam đánh Mỹ. Sốt ruột, bà tôi sai con cái lên xã, lên huyện hỏi. Chính quyền trả lời: chưa rõ. Đợi mãi, bà lại giục, thúc cả thư từ lên tận Trung ương, cũng chả thấy hồi âm. Hỏi mãi, hỏi nhiều quá, có lần đích thân bà lên huyện, một ông chính quyền giải thích: “Bây giờ chưa rõ con bà thế nào. Phải thận trọng! Nếu không, giờ công nhận liệt sỹ, sau này nhỡ ra là phản động, theo địch thì sao?” Uất quá, bà tôi sấn lại, quát thẳng vào mặt lão cán bộ kia:

- Ông bảo con tôi theo giặc à?

Ông kia hoảng quá, lỉnh mất. Về nhà, bà cụ vẫn còn tức, vẫn còn hậm hụi. Con trai mình tòng quân đánh giặc, cả làng, cả xã biết. Thế mà nó bảo là phản động. Hòa bình Bảy lăm, vẫn không thấy chú tôi về. Mãi đến mấy năm sau, hồn ma chú tôi mới được công nhận là liệt sỹ. Lúc này thì bà nội tôi già nua quá mất rồi. Một lần về quê, bà cười, chỉ tấm Bảng vàng và khoe với tôi, thằng cháu:

- Nhà mình được ông Ủy ban phát cho tờ giấy đẹp quá! Bày trên ban kia kìa. Mày lại mà xem. Nhớ thắp nén hương cho chú mày nhá!

Tôi chỉ còn biết thầm nghĩ: Bà ơi! Đấy là Bảng vàng Tổ quốc ghi công chú cháu, núm ruột của bà. Đây đâu phải tờ giấy đẹp, mà ngắm nghía. Bà nội tôi già quá, lũ lẫn, lẩn thẩn mất rồi. Hay trông chờ lâu quá lâu, nỗi đau của bà không còn nữa?

Bà nội tôi tính khí cương cường, hầu như chả biết sợ hãi gì cả. Năm Cải cách ruộng đất, trong khi xóm làng náo loạn, nhà nhà thin thít co mình vào để sống. Nhà bà tôi thuộc diện có máu mặt, có của ăn của để. May mà trước đó, ông nội tôi vướng vào vài vụ làm ăn thua lỗ. Chán nản, ông sa vào cờ bạc. Bao ruộng vườn, qua những trận đỏ đen, ông nướng sạch sành sanh. Đến khi Cải cách, hoá ra may.

Dịp ấy, cứ tối tối dân chúng tập trung đi họp. Đêm đêm làng xóm vắng tanh, vắng ngắt. Ai có việc gì cần kíp lắm, mới bất đắc dĩ phải bước chân ra đường và nhất nhất không quên cầm theo bó đuốc lửa cháy bừng bừng. Như vậy, họ không phải kẻ phản động đi bàn việc kín. Đâm ra đường làng chỉ còn mấy ông đội, hay đám xâu, rễ lảng vảng nhòm ngó nhà những đối tượng chuẩn bị đem ra đấu tố. Có một ông đội nọ tối đó lảng vảng quanh bờ rào nhà bà tôi. Biết vậy, bà vẫn điềm nhiên đứng trong sân, cầm hòn đất ném ra. Bà còn chõ ra chửi, đêm hôm rình rập, nhòm ngó nhà bà. Bác dâu tôi hay kể câu chuyện, mỗi lần kể, bà đều thè lưỡi, rụt đầu và không ngớt lời tán tụng bà mẹ chồng:

- Cụ cứng vía, bạo liệt lắm!

Ngày ấy người chạy chợ thường đi rất sớm. Quãng gà gáy cuối canh tư, hai mẹ con đã quẩy gánh hàng lên đường – rổ rá, giậm, cót. Hôm ấy bà nội và bác dâu tôi đi được quãng đường đến dăm cây số. Trời vẫn tối mịt. Gánh hàng nặng, hai mẹ con thấm mệt, dừng lại nghỉ. Lúc đi đường họ chỉ chú ý tránh bước vào ổ gà, hay gạch đá. Bà nội và bác dâu tôi nào ai để ý đến bên đường. Ngồi nghỉ, vừa cầm nón quạt quạt, bác dâu ngó nghiêng. Dưới ánh trăng lờ nhờ, bà thấy hàng cọc và hình như... Không tin nổi mắt mình, kìa, những chiếc đầu lâu cắm trên cọc, xếp thành dãy lô nhố. Bác hoảng hồn, thét tướng lên và ù té bỏ chạy.

Chỉ đến khi nghe con dâu la hét, bà nội tôi mới kịp ngó sang bên đường. Nhìn thấy dãy đầu lâu la liệt, bà thản nhiên đứng lên, gánh gánh hàng đi tiếp và sau đó còn quay lại, gánh tiếp gánh hàng của nàng dâu để lại. Đợt ấy, bác tôi sợ đến phát ốm, phải nghỉ mấy phiên chợ. Với bác dâu tôi, bồng bế con chạy giặc càn, chứng kiến bao cảnh: Tây đen Tây đỏ cưỡng hiếp nam nữ - đàn ông đàn bà, con trai con gái, hay xác người Tây bắn, thật quá nhiều rồi! Song đến đận, có lắm đầu lâu thế, bà không thế không khiếp hãi. Bà nội tôi đồ rằng, ấy là đầu lâu của Việt gian, mấy ông Việt Minh giết, cũng có thể là của Việt Minh, Tây nó chặt.

Nhớ năm ấy trận bão to lắm, tốc cả ngói đình cơ. Bác kể: Nhà mình nhà gỗ, lắm cột, lại lợp lá gồi, nên trụ nổi, còn quanh xóm làng, nhà cửa đổ trụi. Mọi người trong xóm lũ lượt kéo đến trú nhờ. Khổ, ai nấy lướt thướt, ướt như chuột lột, lại đói rét nữa, người cứ run cầm cập, ngồi xúm xít lại.

Quái lạ, trong cảnh ấy, mà cụ cứ lo cho mấy buồng chuối đổ. Mặc áo tơi, tay lăm lăm con dao, cụ đi chặt các buồng chuối gãy đổ, rồi réo gọi con cái ra khênh chúng. Lúc đó bác dâu tôi nghĩ, mưa gió thế, lấy đâu ra trộm cắp, mà mất cắp cơ chứ. Thu nhặt chuối đổ xong rồi, cụ xuống bếp, nổi lửa, đặt cái nồi tướng lên bếp rồi pha chuối, tước vỏ, cho vào luộc. Chuối chín, cứ thế cụ bê hết rổ lớn đến rổ bé lên, phân phát cho mọi người. Hóa ra cụ đoán mọi người đói, rét, nên đi chặt chuối, luộc cho họ ăn. Hôm ấy mọi người được bữa no, đỡ rét mướt. Nay trong xóm khối người còn nhắc, còn mang ơn cụ, bữa cho ăn chuối luộc.

Bà tôi từng cười và nhắc lại câu chuyện chuối luộc ấy:

-Tao buông hết. Khối đứa trận bão gió ấy đành chạy sang nhà tao ấn núp, kỳ cải cách ruộng đất, từng dựng chuyện, vu vạ, định mang ra đấu tố tao. Bà mày tha hết, tha cho đấy!

Và bà cười, nụ cười hiền hậu, nhân ái. Với bà, thánh thần từng biết, ma quỷ từng hay, bà tôi còn biết sợ thứ điều gì nữa!

Kể xong câu chuyện chuối luộc, bà bác dâu tôi nhắc đi nhắc lại câu: cụ sống nhân đức lắm nhá, rồi bác cũng cười bỏm bẻm, khoe hàm răng nhuộm đen đã gãy đến quá nửa.

Kể xong, bà bác dâu tôi nhắc đi nhắc lại câu: Cụ sống nhân đức lắm nhá! Nhân đức lắm, rồi cười bỏm bẻm, khoe hàm răng nhuộm đen đã gãy quá nửa.

Thật cũng lạ, mấy khi có con dâu khen mẹ chồng! Bác dâu tôi còn kể câu chuyện bắt trộm của bà mẹ chồng. Hai người đàn bà với một đống con, cháu, song lúc về già, họ lại đơn côi. Con cái đều xa nhà cả, hai tấm thân già nương tựa nhau trong căn nhà gỗ rộng thênh thang. Đêm ấy khuya rồi. Người già thường khó ngủ, cả con dâu và bà mẹ chồng vẫn còn thao thức. Người già, lúc ngủ thường thắp ngọn đèn dầu mờ tỏ. Bác dâu tôi thoáng nghe tiếng cửa lịch kịch. Bác lo lắng, nghĩ, hay có trộm? Ngó sang bà mẹ chồng, thấy cụ cũng vẻ đang nghe ngóng. Rồi mẹ chồng khẽ nhỏm dậy, nhè nhẹ nhón chân bước ra khỏi giường, chầm chậm lần tới cánh cửa, nơi phát ra tiếng động lạ kia. Cô con dâu sợ hãi, co rúm người lại, đờ đẫn nhìn ngó theo mẹ chồng. Kìa, có cánh tay đang quờ quạng. Nó tìm chốt cửa trong. Bất ngờ bà mẹ chồng (lúc đó cụ ngoài bảy mươi) chộp ngay cánh tay kia, bẻ ngoặt nó lại. Bác dâu tôi giật mình, vì nghe tiếng rú lên rõ to:

- Ối giời đất ơi!

Tiếng bà mẹ chồng rít lên:

- Mày là con cái nhà đứa nào?

Bác dâu tôi nghe thấy tiếng đáp lại, song không rõ lắm. Lại tiếng bà mẹ chồng tiếp:

- Nói láo. Khai thật đi, bà tha cho!

Và bà già vặn tiếp cái nữa. Nó đau quá, kêu lên oai oái:

- Ối giời đất ơi! Con lạy cụ! Con đau lắm cụ ơi!

Tiếng nói từ phía ngoài vọng vào. Thằng trộm vội vàng thành khẩn khai tên tuổi, tên cả của bố mẹ của nó nữa và tiếng bà mẹ chồng gằn giọng:

- Lần này bà tha. Lần sau, bà bẻ cho gãy tay nhá!

Nói rồi bà bẻ mạnh thêm nhát nữa. Lại thêm tiếng rú đau đớn. Cho đến tận lúc ấy bà già mới buông tay, tha cho thằng trộm kia. Ngay sau đó ngoài sân vọng vào tiếng bước chân chạy uỳnh uỵch. Từ bận ấy, chả bao giờ thấy thằng trộm thằng cắp nào dám bén mảng đến nhà bà tôi nữa. Chắc chúng truyền tai nhau về bà già này, mà sợ đến già. Đúng là kẻ cắp gặp phải bà già rồi!

Bác dâu tôi nể phục mẹ chồng, cứ khen ngợi cụ! Bác kể, ngày mẹ chồng về chầu giời, giọng bác thật thương cảm, chả có chút căm tức, hay hận thù nào: Chiều muộn ấy, hai mẹ con ăn cơm. Bữa ăn có đĩa rau lang luộc, bát mắm cáy.

- Cụ ăn khỏe lắm nhá. Bữa nào cũng đánh veo hai bát quật.

Ăn uống xong, bác tôi lúi húi rửa bát, rồi mang chiếc đèn dầu ra góc sân lau chùi. Lúc ấy bà mẹ chồng ngồi trên hè, phe phẩy chiếc quạt mo. Tiếng mẹ chồng:

- Trời giăng sao thế này, mai nắng to lắm đấy. Mẹ Dậu nó mai đi chợ, nhớ nón áo cẩn thận!

- Con biết rồi. Bu chả phải nhắc!

- Ấy là tôi cứ nói thế.

- Có phải thắp đèn không cụ?

- Thắp làm gì? Nhìn ngó gì mà thắp!

- Ấy là con cứ nói thế!

- À, mẹ Dậu nó lo gạo thóc đậu đỗ xong chưa?

- Xong cả tuần rồi. Còn cả đàn gà béo nung núc.

Ấy là bà mẹ chồng đang nhắc cô con dâu chuẩn bị, bởi sắp đến ngày giỗ của chồng bà, cụ mất từ ngày mười tám tháng năm âm lịch năm Canh Dần (1950), mất bởi trận cảm khi quân Nhật Thiên Hoàng bắt phải trục vớt con phà đắm của chúng.

Hai bà già, một mẹ một con, trong bóng tối nhập nhoạng nhà quê, câu chuyện của họ đối đáp nhau rời rạc, như họ nói với ai ai đấy. Hoặc như họ chỉ nói với chính mình, nói về cuộc đời lam lũ, truân chuyên, nhọc nhằn một kiếp đàn bà.

- Khuya ấy đang nằm, thấy tiếng cụ ấm ứ, nghe khác lạ. Tôi hỏi, thì cụ cứ ơ ớ. Thế mà cụ đi, đi nhanh, đi thanh thản lắm!

Giờ thì hai người đã trên trời cao xanh rồi. Chắc họ, một người vẫn là mẹ chồng, người kia là nàng dâu. Trên cao cao đó, bác dâu tôi không chỉ làm phận dâu mấy chục năm, mà có lẽ tới cả ngàn, vạn năm ấy.

Và họ có còn đơn côi nữa không, bởi lẽ họ sẽ gặp lại chồng con. Có còn những nỗi khổ trần ai, kiếp đời phụ nữ, đàn bà, mà họ từng trải nghiệm. Chắc trên trời cao ấy, chả có quán cô đầu, chả có Tây chặt đầu người, cũng chả có trộm cắp và những nỗi lo toan vụn vặt – một kiếp sống của hai người đàn bà nơi trần thế?


(Viết xong cuối tháng 10/2015)



cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 16.7.2016

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004