Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới







THI CA VÀ CHIÊM NIỆM





N gày thứ Bảy 4-6-2016 vừa rồi, tôi đã có một ngày sống với một không gian thanh tịnh bên trong Nữ Đan Viện Xi-tô Thánh Mẫu Vĩnh Phước, thành phố Biên Hòa tỉnh Đồng Nai. Chuyến đi này do Câu Lạc Bộ Đồng Xanh Thơ Sài-Gòn tổ chức, gồm những nhà thơ trẻ Công giáo. Thực ra, tôi không phải là thành viên của Câu Lạc Bộ thơ này, nhưng do ông Chủ nhiệm trong chỗ thân quen với tôi đã có nhã ý mời tôi “đồng hành”. Vì tuổi tác, tôi ngại phải đi đâu xa bằng ô-tô nhỏ, bởi không quen với máy điều hòa và sự bít bùng trên xe. Nhưng khi biết đi tĩnh tâm tại một Đan viện thì tôi đăng ký đi ngay không do dự gì nữa.

Đúng ra, đây không phải là một dịp đi tĩnh tâm, mà là một cuộc giao lưu với chủ đề Thi Ca và Thiên Chúa, giữa cộng đoàn Nữ đan sĩ và một số thành viên trong Câu Lạc Bộ Đồng Xanh Thơ Sài-Gòn. Vì chưng, suốt buổi sáng, những phát biểu về thi ca và tôn giáo nói chung, thi ca và Thiên Chúa là chính xác, của cả hai bên, Nhà thơ và Đan sĩ, đều hướng đến chủ đề này. Còn buổi chiều thì chỉ có một thành viên của CLB là An Thiện Minh trình bày về Chúa Giêsu là ai ? Chúng ta là ai ? Kế tiếp, ông nói chuyện về lịch sử tấm khăn liệm đã liệm xác Chúa Giêsu sau cuộc khổ nạn, bằng nhiều hình ảnh, hiện nay còn lưu giữ tại Turin. Vì thế, người ta quen gọi tấm khăn liệm này là “khăn liệm thành Turin” .Theo chương trình, cha Bảo trợ của Câu Lạc Bộ Đồng Xanh Thơ Sài-Gòn là Linh mục Phanxico Bảo Lộc, Giám học Trung tâm Mục vụ Tổng Giáo phận Sài-Gòn, cũng tham dự buổi giao lưu cùng với các thành viên trong Câu Lạc Bộ, nhưng vì có một lớp học tại Trung Tâm nên ngài chỉ có mặt trong giờ cơm trưa, chia sẻ bữa ăn thân ái do Đan viện khoản đãi, rồi ngài lại trở về sau đó để kịp giờ học đầu giờ chiều.

Số thành viên Câu Lạc Bộ đi hôm đó, đủ ngồi trên một ô tô 16 chỗ, tập trung tại cổng công viên Lê Thị Riêng, phía đường Trường Sơn. Theo giờ ấn định từ trước, đúng 6 giờ xe khởi hành để đến nơi là 7g30 phút.

Bên ngoài Nữ Đan viện là khu vực có nhiều nhà máy sản xuất giấy, nên xe tải thường xuyên chở vật liệu và sản phẩm ra vào, đã cầy nát một đoạn đường, khiến không khí ở đây khá ngột ngạt. Nhưng khi xe vào tới bên trong cổng Đan viện, bước xuống xe, là tôi đã nghe tiếng ve sầu kêu râm ran cùng một nhịp điệu rất đều, quay hướng nào cũng có tiếng ve : khung cảnh bên trong thay đổi cảm nghĩ của tôi nhanh chóng, xóa bỏ hết hình ảnh bên ngoài vừa rồi. Đan viện được bao bọc bởi những hàng cây, nằm dưới thung lũng hay nằm trên đồi.Trước mặt khách là một khoảng sân rộng rồi tới Nhà Cầu Nguyện. Sau khi đến nơi, chúng tôi được sơ Bề trên và mấy sơ nữa ra đón, hướng dẫn vào nhà khách nghỉ chân, uống ly nước mát. Phòng này có trưng bày một vài sản phẩm i-côn sơn dầu, hàng lưu niệm, sau đó chúng tôi tới nhà nghỉ dành cho khách nhận phòng. Nhà này có ba dẫy ABC, mỗi dẫy có 9 phòng. Ở cuối dẫy là một nhà nguyện nhỏ với 2 hàng ghế, mỗi hàng có 7 ghế dài. Rồi đoàn tản mác đi xem cảnh vật ở đây. Đan viện này có một diện tích rộng, một sơ nói là 9 mẫu. Những dẫy nhà nằm ẩn mình giữa những loại cây tạo một không khí mát dịu, một không gian êm ả. Cây nào trồng để bán thì ở dưới sâu một chút, cây nào để tạo cảnh trí của rừng thì ở xa, đất ở những nơi này chưa sử dụng tới. Còn chung quanh Nhà Cầu Nguyện, nhà nghỉ dành cho khách hành hương v.v…hay nhà khách, mà ở đấy chúng tôi vừa mới đi ra thì có các loại cây như thông, một cụm hoa sen, cây sa-kê và nhiều loại cây khác khách không biết hết. Đúng 8g30 phút chúng tôi lên Nhà Cầu Nguyện. Ý cầu nguyện hướng về những nạn nhân của thảm họa biển, hàng trăm tấn cá chết suốt bốn tỉnh ở miền Trung. Ý cầu nguyện thứ hai là hướng về đất nước, xin cho mọi thành phần trong dân được sống trong yên bình, hạnh phục, công lý và phẩm giá con người được tôn trọng. Đến 9 giờ, đoàn chúng tôi xuống dưới hội trường để giao lưu với cộng đoàn Đan sĩ.

Các Nữ tu thì đã ổn định vị trí từ trước, còn đoàn chúng tôi sau khi cũng sắp xếp chỗ ngồi nhanh chóng, đoạn hướng lên thánh giá đọc kinh Sáng soi. Một phút thinh lặng.

Tiếp theo, sơ Viện trưởng nói lời chào mừng các nhà thơ trong Đồng Xanh Thơ Sài-Gòn, hân hạnh được đoàn đến thăm và tĩnh nguyện tại Đan viện. Thật là một hồng phúc Chúa ưu ái ban tặng cho mọi người trong dịp hạnh ngộ này. “Xin hân hoan chào đón quý vị. Ước gì cuộc Tĩnh nguyện hôm nay với những trải nghiệm thi ca của quý vị đan xen với những trải nghiệm của đời cầu nguyện Đan tu Xi-tô, Thánh Thần Thiên Chúa sẽ dẫn đưa chúng ta đến nguồn hạnh phúc thật và giúp chúng ta luôn hăng say, can đảm và trung kiên hân hoan loan báo Tin Mừng Cứu độ qua Thi ca và đời sống thánh thiện cho tất cả những ai đang miệt mài đi tìm Chân Thiện Mỹ, vì đó là nguồn an vui hạnh phúc thật và trường tồn.”

Sau đó ông Chủ nhiệm CLB Đồng Xanh Thơ Sài-Gòn chào mừng sơ Viện trưởng cùng cộng đoàn Nữ Đan Viện Xi-tô Thánh Mẫu Vĩnh Phước, đã tạo dịp để các nhà thơ tới tĩnh nguyện nơi đây và có buổi giao lưu hi hữu này với chủ đề Thi ca và Thiên Chúa. Tiếp đó, mỗi nhà thơ vắn tắt giới thiệu mình với cộng đoàn Đan sĩ.

Một sơ, được biết là thi sĩ Mai Ân Thông, bước ra giữa phòng, nói chuyện với các nhà thơ về đời sống ở Đan tu. Tại đây, có thể nói là các Đan sĩ đã có cuộc sống trọn “Bài ca bác ái”, bài ca của tình chị em, của một tư duy không mệt mỏi, chứa đựng tình yêu Chúa. Cuộc sống của các Đan sĩ trước hết là những hy sinh nhỏ bé và tầm thường, để chúc tụng Chúa giữa tạo vật, cảm tạ Chúa với bao nhiêu là niềm vui, bao nhiêu là thử thách. Có niềm vui tận hiến, có niềm vui dạt dào dâng cao, chạm tới thiên cung. Nhưng cũng có những giọt nước mắt chảy vào con tim, biểu lộ hoàn toàn nhân tính của con người đang trong tình trạng lữ khách, nhưng nhờ ơn Chúa mọi sự đã vượt qua…Rồi, với giọng ngâm xứ Huế, sơ Mai Ân Thông như được một cảm hứng diệu kỳ, sơ cất tiếng ngâm bài thơ do sơ sáng tác, đó là bài : Đan Sĩ, người là ai? Bài thơ có 7 đoạn, ở đây xin giới thiệu 3 đoạn :


Người đan sĩ là nụ cười Thiên Chúa

Nở trong tim đức ái thắm ngàn hoa

Vui - Phục vụ là nét đẹp giao thoa

Lời kinh nguyện cao dâng đời cảm tạ


Người đan sĩ sống chiều kích thinh lặng

Nguyện trở nên đồng dạng với Giêsu

Làm nhịp cầu Trời-Đất nối Lời ru

Làm ngôn sứ chứng nhân Chân-Thiện-Mỹ


Ôi đan sĩ ! Người là ai Đan sĩ ?

Là trái tim cho Thiên Chúa xuyên qua

Ôi Đan sĩ ! Người là ai Đan sĩ ?

Là hy tế trọn lời ca Fiat.


Sau một tràng pháo tay vang dội, một Nữ Đan sĩ khác cất tiếng hát bài “Hát trên đỉnh đồi” . Bài này nguyên là của thánh Gio-an Thánh Giá, Linh mục Trăng Thập Tự chuyển sang Việt ngữ (theo cha Nguyễn Hồng Giáo: bài dịch theo ý thơ hơn là theo sát lời thơ), và Linh mục nhạc sĩ Ân Đức phổ nhạc. Ngài tên thật là Trần Ngọc Hoan, cũng là một Đan sĩ, hiện phục vụ tại Đan viện Xi-tô Thánh Mẫu Thiên Phước, ở Bãi Dâu, Vũng Tàu:


Đưa con lên núi lên đồi

Riêng con với Chúa ta ngồi nhìn nhau

Ngắm nhìn nhan Chúa thật lâu

Rồi dìu con bước, vào sâu trong Ngài !


Ta lên, lên tận đỉnh đoài

Ta vào động đá, tạc lời nước non

Con nhìn Chúa…Chúa nhìn con…

Ta cùng sẻ ngọt, chia ngon đủ điều


Con xin và Chúa sẽ chiều

Tỏ cho con hết những điều con mong

Con thì dâng Chúa cõi lòng

Đáp tình Chúa đổ máu hồng thương con


Gió về, gió thổi trên non

Đê mê câu hát, sắt son khối tình

Giữa trời trong, giữa đêm trinh

Lửa về, lửa cháy luyện tình cho thơm.


Đấy là cuộc sống tận hiệp, cuôc sống chiêm niệm, của đời đan tu. Cái tôi của đan sĩ không còn. Nó đã tháp nhập vào Chúa, Đấng Cao cả, Đấng Vô biên. Lúc bấy giờ cả Hai là Vô ngôn mà chỉ còn Một hiện hữu : Con nhìn Chúa, Chúa nhìn con ! Tình yêu viên mãn, linh diệu và hồn bay cao…Bay mãi lên tận Trời Đâu Suất, như Hàn Mạc Tử đã đi. Chúng tôi mạo muội nghĩ rằng đây là cách mà thánh Gio-an Thánh Giá đã đạt tới, được cha Trăng Thập Tự chuyển ngữ rất tuyệt. Có thể nói, ngài đã vượt qua hàng rào ngôn ngữ mà đi sâu vào cõi lòng của thánh Gio-an Thánh Giá. Cha Ân Đức thì qua cung bậc của ngôn ngữ âm nhạc, ngài cũng rất tài tình trong việc nâng cao lên mãi thiên cung một linh hồn vừa qua lò lửa của tình yêu Thiên Chúa mà vươn lên thành một nhành huệ thiêng liêng tinh tuyền. Cả ba vị ngôn sứ : thánh Gio-an Thánh Giá, cha Trăng Thập Tự và cha Ân Đức Trần Ngọc Hoan, đều là những sứ giả của Thiên Chúa, những con người đầy tràn ân sủng.

Để hiểu được tinh thần của nhạc phẩm Hát trên đỉnh đồi, chúng tôi nghĩ rằng cần đi con đường này, con đường Tâm tư, nghĩa là phải vượt qua tấm rào cản của ngôn ngữ sai biệt, ngôn ngữ của nhị nguyên.

Trong trang web Thánh Ca Việt Nam, Linh mục Nguyễn Hồng Giáo (ofm) cũng mở ra lối đi này, nhưng trước đó, ngài cũng dùng ngôn ngữ của tư duy để nhận xét bài Hát trên đỉnh đồi. Chúng tôi xin trích dẫn một đoạn trong bài của ngài :

Thần bí không phải là bí mật, huyền bí. Trong đạo chúng ta, nói tới nhà thần bí là nói tới một người Ki-tô hữu có một cảm nghiệm thâm sâu về Thiên Chúa, một đời sống kết hiệp mãnh liệt với Thiên Chúa. Kinh nghiệm thần bí luôn tập trung vào việc tìm kiếm sự thống nhất, sự hiệp nhất. Mục đích của đời sống thần bí là đạt tới tình trạng “nên một với Thiên Chúa” không những bằng ân sủng siêu nhiên (mà ta không “cảm thấy” được) nhưng còn bằng cả kinh nghiệm sống động nữa. Thánh Gio-an Thánh Giá là một con người như thế và thường được gọi là vị “Tiến sĩ thần bí” (Mystical Doctor) bởi vì ngài đã suy nghĩ về kinh nghiệm của mình và rút ra những chỉ dẫn cho ai muốn đi theo con đường như thế. Theo kinh nghiệm đó, ngài mô tả hành trình vào sâu trong đời sống Thiên Chúa như một cuộc thanh luyện triệt để bắt buộc con người kinh qua những đêm tối, đêm tối của giác quan, đêm tối của trí tuệ, đêm tối của đức tin - trước khi mở ra trên ánh sáng thần linh.

Con người chỉ có thể bập bẹ nói về những thực tại siêu việt bằng ngôn ngữ và kinh nghiệm giới hạn của mình. Trong Kinh thánh, trường hợp tiêu biểu và hiển nhiên nhất là sách Diễm Ca (hay Diễm Tình Ca). Trong loại văn chương này, các cách diễn tả và hình ảnh có ý nghĩa biểu tượng nằm đàng sau ý nghĩa trực tiếp. Nếu không hiểu như thế thì chúng ta sẽ chẳng hiểu đúng điều tác giả muốn nói.”

Chúng tôi rất tiếc không ghi lại được những lời chia sẻ rất phong phú của sơ Mai Ân Thông và của sơ Viện trưởng phát biểu sau đó, về nguồn ân sủng mà Thiên Chúa đã dùng để ban cho những tâm hồn mà Người yêu thương một cách đặc biệt. Những người này, chính là những nhà văn nhà thơ, nhà nghệ sĩ Công giáo, và những tu sĩ chiêm niệm. Bởi vì, chính họ là cây bút chì trong bàn tay kỳ diệu của Chúa, những mảnh đất sét Chúa dùng để tạo nên những sản phẩm nói nên những kỳ công mà Chúa đã làm trong vũ trụ càn khôn này, mục đích của Người là yêu thương con người, dọn sẵn cho con người một môi trường sống, một không gian sống thánh thiện và trong sạch.Các văn nghệ sĩ Công giáo có một phần trách nhiệm không nhỏ vào việc bảo vệ môi trường và không gian sống này, từ bên ngoài cuộc sống nhân sinh cho đến sự thánh thiện của tâm linh con người.

Sơ Viện trưởng và sơ Mai Ân Thông đã chia sẻ với các thành viên trong đoàn những cảm nghiệm từ cuộc sống, vừa lao động và chiêm niệm, vừa cầu nguyện và chay tịnh, vừa học hỏi và chia sẻ bằng công việc phục vụ khách hành hương.

Về phía các nhà thơ, có hai bài đóng góp trong buổi giao lưu này. Đó là ông Vĩnh An và nhà thơ nữ Thy Hoa.

Chị Thy Hoa đã nói đến những cảm nghiệm của bản thân, từ tuổi hoa niên bước sang tuổi cập kê, thơ như một lời luôn mời gọi chị. Cả ước muốn đi tu luôn đeo đuổi chị, mặc dù chẳng hiểu thế nào là đi tu hay đi tu để làm gì. Ơn gọi đi tu không đến. Rồi chị hiểu “đời tu” của chị là sống bên người chồng ngoại đạo, chỉ tin theo những gì ngược với tín lý Công giáo.

Chị tìm đến thơ, để giải tỏa nỗi lòng, gửi vào thơ những cảm xúc, những dày vò, những ước mơ, thậm chí những ước muốn rồ dại của mình trong khi không trải được lòng mình cùng ai để vơi bớt nỗi niềm

Chỉ có Mẹ - chị nghĩ như thế ! Và luôn là thế !

Một cuốn nhật ký với nước mắt nhiều hơn niềm vui được ghi lại. Nào văn, nào thơ, cả những hồi ký tự sự nỗi lòng. Nhưng chị biết, một lúc nào đó tất cả phải “mất” đi thì ích lợi cho chị hơn. Phải “đánh đổi” để Lòng Thương Xót Chúa được biểu lộ. Rồi phép lạ xảy đến : con gái anh khỏi một căn bệnh mà đã nhiều lần bác sĩ chẳng ai tìm ra cháu bệnh gì. Anh đã tin !

Một lần khác, ngày 13-5-2012, chị mang một căn bệnh phải được giải phẫu, nhưng theo chị, chính Đức Mẹ đã mổ cho chị trong ngày lễ hôm ấy, cả nhà đi lễ để cầu nguyện cho chị và mừng kỷ niệm 95 năm Đúc Mẹ hiện ra ở Fatima, Bồ Đào Nha (13.5.1917-13.5.2012).

Từ đó, đối với chị, Thơ trở nên một người bạn đồng hành, để reo vui và ca vang, để cảm tạ và chúc tụng tình yêu của Thiên Chúa giữa cuộc sống kỳ diệu của chính bản thân mình.


Niềm đau con đặt trên môi

Dâng lên cho Chúa giữa đời sầu thương

Bước đi còn lắm đoạn trường

Không ngơi ca hát lòng thương xót Người

Dìu con tín thác Chúa ơi !

Dâng cao hy vọng nơi lời hằng sinh

Tin Mừng phủ kín đợi mình

Còn đâu lo sợ mất tình Con-Cha

Vực sâu đèo cả vượt qua

Nhờ lòng thương xót nơi Cha ngàn trùng.


Còn với nhà thơ Vĩnh An, ông đã đi từ thơ đời đến thơ đạo. Và khi sử dụng ngôn ngữ thi ca để viết về cuộc đời với ánh sáng và bóng tối của nó, thì theo ông, một yêu sách về thẩm mỹ luôn đặt ra, nghĩa là “để bài thơ hay và diễn tả được cái chiều kích mà nó được gắn với Đấng là Chân, Thiện, Mỹ thì người viết phải đạt đến ý nghĩa sâu xa của nó, cái ý nghĩa mà Đấng Tạo Hóa đã đặt vào các tạo vật của Ngài : vào ngày nắng ấm vào lúc mưa buồn. Chiều kích này vốn mong manh, khó thấy nên con mắt tâm hồn phải được khai quang, điểm nhãn mới thấy được”. Ông thố lộ mình chỉ làm thơ từ sau ngày 30 tháng tư, trong những tháng năm khốn đốn về mọi mặt và bắt đầu từ thơ đời như một cách trốn chạy những nỗi vất vả, thậm chí bế tắc của đời sống.

Vả lại một tín hữu sẽ mau chóng nhận diện Đấng là Chân, Thiện, Mỹ ấy - cứu cánh của hầu hết các tôn giáo - chính là Thiên Chúa, vì thế chính việc làm thơ đời thường nếu đi đến tận cùng yêu sách thẩm mỹ của nó, một tín hữu như ông phải đến với tôn giáo. Và ông đã lên tiếng gọi Ngài :

Ngài hãy đến Chúa ơi/ Trước khi màn đêm rơi / Và gió đêm lạnh thổi

Vâng, một lúc nào đó, ông đã đến với việc làm thơ đạo. Rồi nhà thơ nói đến những điều kiện để làm thơ đạo. Theo ông Vĩnh An, ông coi việc làm thơ là một ơn gọi để tìm cái đẹp trong cội nguồn của nó là chính Thiên Chúa và không chỉ dừng lại ở những biểu hiện đời thường mà bất kỳ nhà thơ nào cũng nắm bắt được. Vả lại ơn gọi nào cũng là một sự cộng tác từ hai phía: Thiên Chúa yêu tôi, mời tôi đi vào ơn gọi làm thơ đạo. Về phần tôi, tôi phải đáp trả bằng hai tiếng “xin vâng” và tôi phải có những bước chuẩn bị nào đó, những điều kiện nào đó vì có một điều chắc chắn là tôi không được ơn “vô nhiễm” như Đức Maria.

Người công giáo làm thơ đạo là người bước vào thánh địa siêu nhiên của thi ca. Thánh địa này nằm giữa đất và trời, giữa cõi những sự thuộc thế gian - và hơn mọi nghệ thuật khác kể cả nghệ thuật thờ phụng - cõi ấy tiếp giáp và nhiều nơi hòa nhập vào cõi của Lời hằng hữu. Vậy những điều kiện để làm thơ đạo là gì?

Theo quan điểm của Thomas Merton, một đan sĩ dòng Trappe, một nhà văn, một nhà thần bí công giáo, một trong bốn người Mỹ được Giáo Hoàng Phanxico ca ngợi tại lưỡng viện Hoa Kỳ trong chuyến công du vừa qua, năm 2016. Đó là khát vọng nên thánh và đời sống chiêm niệm của người làm thơ đạo.

Và ông trích dẫn Thomas Merton :

a) Khát khao sự thánh thiện: Trong nhật ký ngày 1 tháng mười 1941, Thomas Merton viết: “Có một điều gì mà mọi thi sĩ [công giáo] cần biết? Họ cần được nhắc lại rằng họ gần gũi các thánh, mọi người cũng cần được nhắc lại điều này. Để làm một điều gì tốt trong thế giới này, bạn phải từ bỏ mọi sự trần tục để làm điều đó: bạn phải yêu thích nó và cho nó cả đời sống bạn… Lý do có quá ít các thi sĩ công giáo giỏi cũng giống với lý do tại sao có quá ít người công giáo tỏ ra khao khát sự thánh thiện (…) Tất cả chúng ta đều tầm thường, thờ ơ, bám víu vào những cái vô giá trị hay những vấn đề nhỏ mọn của lòng tự mãn…

Cũng trong đoạn nhật ký này, Thomas Merton cũng gợi ý rằng để nuôi dưỡng lòng khát khao sự thánh thiện, họ không thể thiếu tinh thần nghèo khó và khiêm nhu nếu không nói phải sống trọn đủ tám mối Phúc thật của Bài giảng trên núi của Đức Giê-su Chúa chúng ta.

b) Tinh thần chiêm niệm : Trong tiểu luận “Thi ca và Chiêm niệm: một nhận định mới”, ngày 24 tháng 10, 1958 nghĩa là hai năm trước khi ông mất, Thomas Merton viết: “Không có một thi ca Ki-tô giáo xứng đáng với tên gọi mà không được viết ra bởi một người có một trình độ chiêm niệm nào đó. Tôi nói “một trình độ nào đó”, vì rõ ràng không phải một nhà thơ Ki-tô hữu nào cũng là một nhà thần bí. Nhưng một nhà thơ chân chính luôn luôn giống với nhà thần bí vì trực giác tiên tri của người ấy khi nhìn các thực tại tinh thần, các ý nghĩa bên trong của đối tượng mà người ấy chiêm ngưỡng, làm cho thực tại cụ thể không chỉ đáng được ngưỡng mộ nhưng trên hết nó làm nên một dấu chỉ về Thiên Chúa. Mọi nhà thơ Ki-tô hữu đều là những nhà chiêm niệm theo nghĩa họ thấy Thiên Chúa mọi nơi trong tạo vật của Người và trong các mầu nhiệm của Người. Họ nhìn thấy thế giới tạo vật chứa đầy dấu chỉ và biểu tượng của Thiên Chúa. Đối với nhà thơ Ki-tô hữu chân chính, toàn thể thế giới và mọi sự cố của đời sống đều trở thành các bí tích – các dấu chỉ về Thiên Chúa, dấu chỉ về tình yêu của Người đang hoạt động trong thế giới.

Cũng trong tiểu luận đó, Thomas Merton đã xác định ý nghĩa của tinh thần chiêm niệm mà nhà thơ phải có, ông viết,

Rõ ràng nhà thơ không cần phải đi vào một đan viện để trở thành một nhà thơ tốt hơn, cái chúng ta cần là những “người chiêm niệm” bên ngoài nội cấm và bên ngoài kiểu mẫu cố định nghiêm ngặt của đời tu, … Điều này có nghĩa là sự thống nhất của công việc, tư tưởng, tôn giáo, đời sống gia đình và những sự tiêu khiển của một người phải ở trong sự hài hòa sinh động với Đức Ki-tô tại trung tâm của đời sống ấy. Đời sống phụng vụ là một ví dụ rõ ràng nhất của “sự chiêm niệm tích cực,”


Ngày 13-6-2016

Lễ thánh An-tôn Padôva

Hình trên là Logo của Nữ Đan Viện Xi-tô Thánh Mẫu Vĩnh Phước, biểu tượng của tinh thần Kitô giáo và tinh thần Đông phương.



@.Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 23.6.2016.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004