Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





LỤC BÁT SÂN TRƯỜNG





Trường toạ lạc trên ngọn đồi quanh năm thông reo lộng gió, nơi mà bốn mùa đi qua luôn để lại những câu thơ thật trữ tình trên những đoá hoa cỏ dại, những đoá hoa có và không tên.

Trường cách xa thị trấn khoảng ba cây số, nối với chúng là con đường dốc ngoằn ngoèo mưa hay nắng đều vất vả như nhau.

Là trường cấp hai duy nhất của thị trấn nên sĩ số học sinh bao giờ cũng đạt và vượt. Đạt khi mùa thi vừa khép lại còn vượt khi con em công nhân viên chức ở xa chuyển về.

Với tuổi đời năm mươi hơn, trường có nhiều thế hệ học trò thành đạt, các nhà văn nhà thơ thực tài và không ít thầy cô giáo ưu tú.

Ai đã từng đứng lớp ở đây ắt sẽ hiểu khoảng thời gian dành cho một tiết học thật vô cùng ngắn ngủi bởi cái lạnh se se của gió vùng cao, cái nắng thèn thẹn của bầu trời mùa thu nhiều mây thưa bàng bạc và khung cảnh sơn thuỷ hữu tình của núi, của sông, của con đập như cánh tay vạm vỡ của chàng Sơn Tinh, trải dài ra ngút mắt bởi những ô cửa kính sáng loáng được lắp suốt chiều dọc phòng học luôn hoá mình thành vô hình.

Mùa xuân hoa anh đào ánh đỏ, điểm xuyết lên những vạt cỏ xanh mềm luôn níu người ta ngồi lại dù chỉ một thoáng để tận hưởng sự êm ái vào bậc nõn nà của tạo hoá mà an nhiên mở lòng.

Cỏ có ngôn ngữ của cỏ, hoa có ngôn ngữ của hoa, nhưng một khi chúng đã đồng thanh tương ứng thì lòng người không thể không tương cầu.

Mùa hạ phượng hồng rực thắm, ve trỗi khúc ngàn, trang lưu bút mở ra đón nhận những nụ hôn nồng nàn của vô vàn câu yêu thương, nhung nhớ.

Mùa thu, mùa bắt đầu của tuổi - tuổi học trò. Mùa của rộn ràng, bâng khuâng trước bao điều mới lạ, “ tim run run trăm tình cảm rụt rè..”.

Mùa đông sương mù hoá kiếp thành thơ, để nhớ để thương ẩn tàng trong đôi tà áo ai khép nép. Gió ngưng thổi, mây ngừng đưa. “ Tóc mai sợi vắn sợi dài, lấy nhau chẳng đặng…thương hoài ngàn năm..”.

Là phần chủ ngữ trong một bài giảng nào đó mà thầy Mỹ luôn biết cách lồng ghép vào để cho tiết học văn thêm sôi động. Giọng thầy ấm và trầm không thích hợp để diễn ngâm nhưng rất quyến rũ trong những câu thơ thầy đọc. Càng quyến rũ hơn khi thầy nhìn ai mà như cười.

Thầy tế nhị đề cao cái đẹp của phái đẹp một cách nhẹ nhàng, kín đáo nhưng chủ ý khi mà ngoài kia tư tưởng phong kiến, gia trưởng tuy không còn nặng nề nhưng vẫn khắt khe, phụ nữ vẫn bị coi thường và trẻ em mồ côi, cơ nhỡ, tật nguyền được đẩy đùa cho số phận.

Hạnh là một cô gái bất hạnh trong số đó. Mười sáu tuổi, một chân bị bệnh bại liệt làm cho teo cơ, đi lại phải nhờ cây nạng gỗ nhưng cô bé luôn có chí phấn đấu tuyệt vời, mong ngày sau tự đứng trên chính đôi chân tật nguyền của mình bằng sự học, mặc dù ai cũng biết rằng “ cơm áo đâu đùa với khách thơ “.

Mồ côi cha, sống cùng mẹ và dượng ghẻ nên cô bé luôn là đối tượng để gã đàn ông luôn say xỉn này hành hạ, chửi mắng. Phải chăng đó là sự oán thù bất thành văn của cái thiện và cái ác, cái xấu và cái đẹp, cái ngu xuẩn và thông thái.

Buồn và tâm sự là hai yếu tố cơ bản để cấu thành thơ, nhưng thơ giờ có quá nhiều biến tướng nên thơ đúng nghĩa phải có trí tuệ trác việt, ngôn từ trong sáng và cảm hứng mãnh liệt của người sáng tạo nên Hạnh luôn là con mọt sách khi có được giây phút thảnh thơi. Đó cũng là lúc cái ngu xuẩn luôn sẵn sàng lên máu.

Thơ với Hạnh không phải là ngôn ngữ biệt tính, không hình thức nhiều lớp nhiều tầng, không cổ lỗ không hiện đại. Thơ là thơ, là tiếng nói của trái tim đến với trái tim, mọi sự làm khác khác đi sẽ dẫn đến những suy diễn mơ hồ.

Thầy Mỹ biết Hạnh qua những câu thơ đẹp như thế trên trang báo tường của trường mặc dù thầy chưa từng dạy cô bé tiết văn nào bởi khác khối.

Thầy tìm gặp Hạnh trong giờ chơi, trao đổi một vài ngôn từ, cấu tứ và vần điệu trong bài lục bát khá hay nhưng chưa chắc tay lắm của cô.

- Em làm thơ lục bát đã lâu chưa, có học ai không ?

- Dạ không lâu lắm, còn học thì nhiều, như Nguyễn Du, ca dao...

- Học Nguyễn Du mà viết không như Nguyễn Du.

- Sao ví em với Đại thi hào dân tộc được hả thầy.

- Ý thầy nói là cách làm thơ lục bát thôi mà.

- Em nắn nót từng vần điệu.

- Đúng một phần trong điệu thức nhịp nhàng, uyển chuyển của loại thơ này nhưng không đúng bởi ngôn ngữ đơn âm nhưng đa nghĩa của tiếng Việt mà khi sáng tác em đã cố ý hay vô tình làm mới đi bằng cách viết liền vào nhau như văn xuôi hay ngắt khúc, xuống dòng loạn xị, làm khó cho bộ nhớ của ai đó khi thích thơ em.

- Em vẫn thấy nhiều nhà thơ lớn làm vậy mà thầy.

- Lớn cỡ nào hả em ? Có giống như câu thơ mà một vị thạc sĩ nọ gieo vần như thế này không : “ Nhớ anh em đứng một mình, hồ chao thêm sóng tâm tình rối tinh…”. Em thấy sao ?

- Hai câu thơ mà ba vần “ inh “ chứ gì ?

- Đúng, đó là một lỗi nặng trong thơ lục bát.

- Có sao đâu thầy, em đã từng đọc được những câu thơ như thế của một nhà thơ chính hiệu gửi dự thi trên một trang mạng chuyên về thể thơ này mà.

- Và em thấy gì ? Bài thơ có đoạt giải không ?

- Không đoạt ạ.

- Vấn đề là ở chỗ đó. Dù vô tình hay cố ý thì người đọc cũng đánh giá là viết ẩu, không tôn trọng người xem nếu không muốn nói là chẳng biết gì về lục bát.

- Nghiệm trọng vậy sao thầy ?

- Em không tin thì mở máy tính ra, hỏi ông Google ắt biết.

- Em tin nhưng em cũng có nhiều câu gieo vần như thế.

- Tinh chỉnh lại em ạ.

- Dạ, em cảm ơn thầy.

Thời gian là chất keo vô hình để gắn kết tình cảm của con người lại với nhau, chất keo ấy càng tác dụng trong môi trường văn chương thi phú, hào phóng dìu tình yêu qua lằn ranh lễ giáo khi mà ngoài kia chiến chinh sinh tử chực chờ.

Khác chăng là tình yêu của thầy và trò, một khoảng cách quá lớn mà lương tâm của người thầy không cho phép họ bước qua, nhất là khi trò còn ngồi lớp của thầy.

Thầy lên đường ra tiền tuyến, kịp để lại cho Hạnh bài thơ mà hai người là đồng tác giả. Thầy nói :

- Nếu bài thơ này còn sống được đến ngày thầy về thì thầy sẽ tìm em.

Thầy đi rồi, không gian quanh Hạnh trống rỗng, những câu thơ của Hạnh bỗng hoá thành không điệu không vần. “ Thầy mãi là người em yêu thương nhất bởi không có ai có thể làm cho trái tim em đau hơn. “

Thư có đi mà tin chẳng lại, thầy vẫn đều đặn nhận thư Hạnh nhưng không bao giờ trả lời bởi thầy đã hoá vào sông núi còn những bức thư kia được trung đoàn cất giữ cẩn thận trong thư viện của mình.

Hạnh giờ là nhà thơ, nhà văn hay nhà gì gì…Hạnh cũng không biết nữa, chỉ biết rằng cô đang viết rất nhiều và viết nhiều thể loại.

Có thể, có nhiều người dễ dàng thấy Hạnh rất đau đáu viết về người lính, về biển đảo quê hương, về những loài hoa không tên của cái thị trấn nhỏ bé nhưng thanh bình nơi vùng cao này. Nhưng nếu tinh ý một chút người ta sẽ thấy thấp thoáng hình bóng thầy và tình cảm yêu thương của cô dành cho mối tình đơn phương đầu đời của mình trong từng câu văn, bài ký.

Hạnh đã yêu và chỉ yêu một người duy nhất đó là thầy. Người mà Hạnh sống để tôn thờ, chết mang theo.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ ĐàLạt ngày 21.6.2016.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004