Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




GIAN NAN LÀM NGƯỜI






Chương 6.


SỐNG Ở VÙNG TỰ DO


  S au những ngày đi đò dọc từ Đồng Quan về bến Trực Ninh , một sớm tôi đang còn ngủ đã nghe mọi người gọi nhau thu xếp hành lý lên bờ. Thật là một chuyến đi thú vị . Sông nước bấy nhiêu ngày mà không có chuyện gì xẩy ra

Ba gia đình người Hà Nội sau khi ra được vùng Đồng Quan lại gập tràn càn, thế là bàn nhau thuê đò, xuôi về Trực Ninh, Hải Hậu. Nơi ấy vẫn còn là vùng tự do. Một chiếc thuyền đinh lớn, chắc chắn như một căn nhà áp vào bến để các gia đình lần lượt xuống thuyền. Đi dài ngày như vậy, mọi người gọi là đi đò dọc. Đã lên cùng một chuyến đò, nghĩa là từ đó đến bến đỗ cái tình nghĩa nó sâu sắc lắm. Bởi lẽ lúc thuận mái chèo cũng như khi nước ngược chẳng may gập sóng to, gió lớn số phận mọi người đều như nhau, chỉ có đoàn kết thương nhau thì mới qua khỏi. Nhưng đó là cái lý của người lớn, còn bọn trẻ con thi thoảng được lên mui mà ngắm thì sướng ơi là sướng. Hai bên bờ sông, mầu cây xanh, mầu đất đỏ, cứ kéo thành vệt lần lượt qua mắt chúng tôi. Nào là bến đò, nào bãi cát, rồi có nơi thấy cả tháp chuông nhà thờ, trên tháp có cây Thánh giá. Cứ xem mãi trông mãi, lại tù cẳng vì ngồi lâu trên thuyền nên sinh ra buồn ngủ. Các bác chân sào trông thấy cũng đuổi “xuống sạp mà ngủ đi, các cháu”

Nằm trên sạp thuyền, nghe nước chảy ào ào dưới đáy, nước vỗ hai mạn thuyền oàm oạp. Trong mơ màng, nghe tiếng người chân sào cất giọng hò. Tiếng hò trầm trầm âm vang mặt sông, rồi từ xa lại có tiếng hò từ thuyền ai vọng tới. Đó là nghi thức làm quen trên sông nước, tiếc rằng hồi đó tôi còn nhỏ, nên không thuộc lời.

Vùng Cát Trung, Cát Hạ thuộc huyện Trực Ninh bấy giờ còn là vùng tự do. Bà con làm ruông hai vụ chiêm mùa trong năm. Người nào cũng to, khỏe, da đỏ hồng hào. Đàn ông mặc quần dài, áo cánh nâu. Đàn bà mặc yếm, áo cánh nâu và mặc váy. Có điều lạ là các bà đều cạo trọc đầu, để khỏi vướng bận. Các bà quấn một vành khăn lẳn tròn, thế là khi đi chợ, đi ra đồng hàng hóa nặng nhẹ đều đưa lên đội đầu, te tái bước đi như làm xiếc

Mấy đứa trẻ “con nhà tản cư” nhanh chóng hội nhập với trẻ địa phương. Chúng nó hiền lành, nhe răng cười rủ nhau chơi các trò câu cá, đánh đáo và bắt chim. Đất quê rộng, nhà ở thưa, cách nhau bằng một cái ao, các vườn đều trồng nhiều cây cau và xoan Lúc đó đã qua Tết, hoa xoan từng chùm tim tím rơi bay trong gió. Đã là mùa làm quả của xoan, nên hoa rụng, lộc non nhú ra xanh đầu cành. Mùa này, cây cau cũng thay lá. Cái tầu cau tách dần khỏi thân cây rồi vàng úa và ngả dần xuống, chỉ còn một chút bẹ cau dính vào thân, khiến cho tàu cau cứ lắt lay trước gió. Mỗi lần tàu cau rơi, đó là con ngựa cho bọn trẻ chơi đùa : Một đứa ngồi vào lòng mo, mấy đứa nắm ngọn lá hè nhau kéo chạy lồng trong ngõ. Ngọn câu cũng là nơi mà các loài chim sẻ, chim ri bay qua bay lại, rinh rích kêu vui cả ngày. Mỗi khi chủ nhà phơi thóc, chúng nó ào xuống, nhảy từng bước tranh ăn với gà. Bác chủ nhà cầm cây sào có buộc túm lá huơ huơ xua đuổi. Bác mắng chúng tôi “ Chỉ mải chơ thôi, không đuổi gà, đuổi chim nó ăn hết thóc đấy”

Thấm thoắt đã gần hết mùa hè. Trời đổi gió. Những hôm đó nghe xa xa tiếng biển động ầm ào vọng tới

Có một hôm trời se lạnh, chút gió may nhè nhẹ thổi, đột nhiên có tiếng trống cái thúc dồn dập. Mọi người vội bỏ công việc đang làm vơ vội lấy thúng, dần, sàng, thùng gầu chạy túa ra cánh đồng. Tôi còn đang ngơ ngác chưa biết gì thì bọn thằng Cẩm đã gọi “ Đi hớt rươi, Ty ơ”

Ngoài đồng đã đen đặc người nhất là ở vùng cửa sông. Họ múc, họ vớt những con vật dài bằng cái đũa thân béo mẫm, bơi loăng ngoằng trong nươc. Có con người chưa bắt được thì các đớp, bujnh nó vỡ bung ra một lớp bột vàng ngậy trong nước. Lần ấy anh em tôi xăng xái vớt được lưng gầu , cũng đủ để mẹ tráng mẻ trứng đúc rươi ngon tuyệt. Còn các ông bà ở đây vớt được nhiều lắm, họ dùng để làm mắm rươi ăn dịp ngày mùa.

Vừa xong dịp bắt rươi thì cũng là lúc trời chuyển sang đông Các loài chim di trú bay về kiếm ăn rất dày dạn với người. Tôi cứ mê mải ngắm cảnh đồng đang bừa nhuyễn, mặc con trâu ì õm lội nước, mặc tiếng quát trâu “riệt, riệt”, sau lưng người thợ cầy là bọn chim giẽ mỏ dài chạy tranh trên mặt lầy, mổ những con giun bị ngợp nước đang ngoi lên.

Khi những con sáo hợp đàn bay về, đậu chen nhau trên cây, bọn trẻ lại rủ nhau : đi làm tổ chim.

Tổ chim là một ống dài, bọc kín bằng mo cau, tao cho nó tránh được mưa gió, ấm áp. Theo các anh lớn chỉ bảo, chúng tôi trèo lên cây tìm chạc ba chắc chắn gác tổ lên, buộc chặt phòng mưa gió đánh rơi. Đặt tổ lên cây miệng hướng phía Nam, cả bọn ngồi nấp, rình xem chim về tổ của đưá nào. Chí chóe tranh nhau. Có những đôi sáo bay tới, nhảy nhót xing quanh, rồi một con mạnh dạn chui vào , chim sáo cẩn thận lắm. Nó kiểm tra kỹ nơi trú ngụ xọng mới quyết định nơi nào đáng ở. Lúc này con sáo mái bụng đã to sệ bay chầm chậm tới, trong khi con sáo đực nhanh nhẹn bay đi tha rác, nó tha về mọi thứ có thể làm được ổ ấm cho chim mái đẻ trứng,

Ít lâu sau, chim bố chim mẹ đứng cửa tổ hót vang như báo với hàng xóm nhà chim về sự trưởng thành của con cái. Mỗi tổ có vài ba con chập chững bay chuyền cành. Con nào yếu, bay là là rơi, chim mẹ lại rối rít sà xuống vừa đỡ vừa động viên bay lên, Cứ thế mà vui vẻ, ầm ĩ một góc vườn.

Bọn thằng Cẩm cũng đứng xem chim hót, nhưng chúng nó chỉ vào các con sáo non rồi cãi nhau “ Con này của tao, nó nhanh khỏe hơn. Nó ở tổ của tao đấy” Thì ra chúng nó đang tính bắt con nào đẹp để chơi, đêm ấy thằng Cẩm trèo cây thò tay vào tổ lôi cả nhà sáo ra tìm con vừa ý giữ lấy rồi bỏ cả đàn vào tổ. Sáng hôm sau mẹ con nhà sáo nhao nhấc kêu la gọi nhau rồi bỏ tổ bay đi, không thấy nó chuyền lại tổ nữa.

Tôi về, nói “sáo đi hết rồi” thằng Hưởng cười, nhe bộ răng sún còn lại mấy chiếc cùn đến lợi :

-Anh Cẩm bắt một con để dạy nó rồi.

Ở vùng này người ta làm tổ nuôi sáo cũng bởi cái tính thích chơi chim nhiễm vào từ khi còn nhỏ, con sáo ra ràng nuôi tốt sẽ quen dần với người, tha hồ mà dạy dỗ.

Thằng Cẩm cẩn thận lấy từ gác bếp xuống, cái lồng nan tre hai tầng. Nó ngâm cho hết mùi khói rồi thả chim vào. Có con sáo non chúng tôi đứa nào cũng thích đi vồ cào cào, châu chấu rồi huýt sáo gọi chim cho ăn. Thằng Cẩm nạt :

-Tụi chúng mày cho ăn no, nó không thèm học bài đâu.

Vài ngày sau Cẩm lấy khăn vuông của mẹ trùm kín lồng rồi đặt cái gương nhỏ trước cửa lồng. Nó nấp sau vải đen huýt sáo gọi chim. Coln sáo ngơ ngác nhìn quanh quẩn thấy bạn đứng trước mặt, nó tươi tỉnh nghếch mỏ hót theo. Mỗi lần như vậy, Cẩm lại dè dặt đẩy vào lồng một con châu chấu nhỏ. Cứ như thế, nó dạy sáo hót đủ các kiểu, chúng tôi cứ dán mắt xem không chán. Đứa nào cũng tưởng tượng nghe sáo gọi “có khách, quạt lò”.

Đang ở vui với các bạn thì nhà tôi lại chuyển chỗ ở. Số là cụ Ba sang chơi thấy ở chật quá liền mời mẹ tôi “dưa các cháu lên ở ngôi nhà ven sông của con cụ”. Chủ nhà đi vắng, nhà bỏ không, tha hồ mà ở. Cả gia đình chúng tôi lên ở đấy : Ba gian nhà lá, một cái vườn, một cái ao lại gần sông thật là lý tưởng cho mọi nhà. Tôi không nhớ tên sông nhưng đúng hơn nó chỉ là một cái lạch vì không có thuyền lớn qua lại. Sông này thông với biển nên mỗi khi thủy triều lên nước triều đổ về cuồn cuộn làm dòng sông trở nên rộng hơn, nước chảy nhanh hơn, chẳng mấy chốc đã ngập kín các bãi cát, mô đất ven sông. Nhưng đến lúc triều xuống, lại như người đổ nước đi đâu mà cạn kiệt nhanh phô cả đôi bờ,

Lúc bấy giờ từ trong các hang nhỏ ven bờ những con cáy bò ra lổm ngổm Giống cáy có hình dạng như cua nhưng chân đen, càng đỏ, ngực yếm cũng màu đỏ, tám chân bò ngang, nhưng có lông ở các khớp. Cáy bò như cua nhưng nhanh hơn. Nó ra kiếm mồi, thoáng thấy có người, có tiếng động là vội vã bỏ chạy về hang. Câu cá người ta phải đứng xa giăng giây câu dài, mồi mắc chặt Cáy tham mồi cập càng, thế là người câu nhanh tay thu về. Những người đi bắt cáy thường lò dò bên sông, thấy chỗ nào đông cáy ra ăn lại tung mồi nhử. Cụ Ba chủ nhà bảo “Các cháu thích xem, hôm nào có tôm trận về, ông sẽ gọi cho mà xem”

Thuở ấy chưa có chuyện nuôi tôm biển như bây giờ, dân ven bờ chỉ trông cậy khi tôm vào bờ sinh đẻ để bắt. Những lúc như vậy, tôm úi đen kín mặt nước, dài suốt quãng sông, người ta bắt mà tôm không sợ cứ nối đàn theo nhau dân tha hồ chăng vó mà bắt.

Ở Cát Hạ đã gần hai năm, tuổi thơ tôi hòa cùng các bạn chơi đùa, hớt rươi, bắt cáy, bắt chim. Chơi chán có một hôm thấy nhà cụ Hai cắt củ cải già, chấm phần đầu vào gio bếp rồi đem giồng vào luống. Tôi hỏi thì cụ giải thích “Để lấy giông cải cháu ạ”. Chúng tôi cũng bắt chước đi cắt mấy củ cải rồi đem vùi vào luống trước nhà. Ngày nào tôi cũng lén nhấc lên xem cho đến khi thấy từ cái gốc héo ấy nhô ra một hai cái rễ trắng. Khoái quá, tôi đem khoe với cụ Ba cụ cười bảo “Trồng cây thì phải chờ ngày mới có quả, đừng có nóng vội. Nếu cứ nhấc lên thì đứt rễ đấy”

Mỗi ngày qua, đem lại một niềm vui. Mấy cây cải củ đã lên lá, lên hoa. Vừa lúc đó trường xã cũng bắt đầug năm học mới.

Anh em chúng tôi được mẹ dắt đến trường xin vào học. Lần đầu tiên tôi đi một cách thanh thản theo mẹ, tay cắp sách bút, khác hẳn cảnh nheo nhóc đeo bị quần áo chạy tản cư dưới bom đạn. Con đường hôm nay ngược lên cầu Cát Trung qua xóm nhỏ bên kia sông rồi đén một khu nhà um tùm cây cối. Đó là trường học đặt trong nhà tảo mạc một ngôi đình

Trường ghọc địa phương niềm nở đón nhận con em nhưng người tản cư Các thầy kiểm tra trình độ rồi phân lớp. Tôi và anh tôi được học lớp Ba (xưa gọi là cour moyen) Thu xếp cho các con có chỗ học xong, mẹ tôi theo nếp con nhà nho, chắp tay thưa với thầy :

-Các cháu đi tản cư nay đây mai đó, gập đâu có trường có thầy tôi đều cố xin cho chúng nó học. Nay đén đây dù học lâu hay mau, không biết có an bình được lâu không nhưng “nhất tự vi sư bán tự vi sư ” tôi cũng xin trình các thầy một lạy thay cho các cháu.

Anh em tôi được học đàng hoàng ở lớp Ba, ngồi ghế dài, bàn lim có ngăn để được sách vở khác hẳn những ngày ngồi học vạ vật ở các nơi. Thầy giáo là một ông trông dáng nho nhã, luôn mặc áo dài, chít khăn xếp mô phạm lắm.

Để nhắc nhở học sinh thầy bắt chúng tôi phải tự viết câu cách ngôn “Hữu chí canh thành ” (có chí thì nên) để tự mình chăm chỉ học tập.

Cuốc sống yên bình trong hai năm ở vùng tự do có nhiều câu chuyện đồng quê để lại ấn tượng sâu sắc nhưng nhớ nhiều nhất là cái lẽ của đời mà người xưa để lại : đó là nên làm điều lành và biết yêu quý mọi sinh vật.

Có một hôm trời mưa như trút nước, gió mạnh uốn cong những thân cau, hắt nước rào rào vào cái phên cửa. Mẹ tôi đội mưa gió gánh dầu hỏa nước mắm đi bán rong chưa về. Mấy anh em tôi nép vào cánh cửa nhìn ra ngoài. Ngong ngóng nhìn mưa chờ mẹ.

Nước mưa ngày một nhiều, dâng nước ao lên ngập cả vườn rau. Các luống đất nổi thành vệt đen sẫm, thỉnh thoảng chớp sáng nhấp nháy soi rõ ranh luống đã sâm sấp nươc. Chợt bọn tôi nhìn thấy trong rãnh có con cá to đang quẫy mạnh, rạch ngược vào sân. Chúng tôi quên cả mưa gió ùa ra be bờ chặn bắt. Đó là một con cá quả to bụng chửa kềnh càng . Nó bơi đi bơi lại trong chậu chốc chốc lại xòe vây vẫy đuôi tìm cách vượt. Đôi mắt nó lồi ra đờ đẫn vì mệt mỏi, bất lực trước hoàn cảnh.

Khi mẹ về, mấy anh em tranh nhau kể chuyện con cá, cứ tưởng được khen ai ngờ mẹ bảo “Mẹ dặn không được ra mưa, các con lại ra mưa, nếu bị cảm lạnh oosms thì tiền đâu mà mua thuốc”

Nhìn con cá một lúc bà nói “ Con cá này đau vượt đẻ, mình thả nó về ao làm phúc, cũng là thân phận đàn bà vất vả các con ạ”

Chúng tôi nghe lời mẹ, cùng nhau bưng chậu cá ra ao thả xuống.

Ít lâu sau một hôm trời dịu nắng tôi cắp sách đi học, khi qua bờ ao chợt nghe rào rào tiếng cá đớp mồi. Nhìn xuống ao thấy đàn “nhõn” (cá quả con) đang lao lên lao xuống kiếm mồi. Dưới làn nước trong ánh nắng lọc qua soi rõ hình con mẹ đang bơi phía ngoài để chăn con . Tôi reo to lên :

-Mẹ ơi, các anh em ơi ra mà xem cá.

Mọi người ùa ra bờ ao chỉ trỏ nói cười. Con cá mẹ cũng ngoi lên mặt nước vẫy đuôi quạt sóng chào lai. Lạ quá, Mẹ tôi bảo “Đúng là con cá hôm mưa đây, nõ đã đẻ và đang đưa con đi kiếm ăn đấy. Suýt nữa thì mình hại mẹ con nhà nó. Phải biết thương loài vật như thương mình”

Từ đó câu chuyện về con cá vượt đẻ và lời mẹ thành một ấn tượng trong đời tôi.


**


Vùng tự do của Liên Khu 3 hồi ấy đã là một thiên đường đối với tuổi trẻ chúng tôi. Ở đay bà con đối với nhau chất phác chân tình. Chiều chiều khi chúng tôi tan học cũng là lúc các chị thanh nữ gánh lúa về nhà. Các chị đã tân tiến hơn các bà nên không cạo trọc đầu mà đẻ tóc dài. Gánh lúa đầy ắp, đòn gánh dẻo quẹo, những bó lúa nặng lắm hai ba đứa học sinh chưa chắc đã nâng nổi một bên. Các chị đi qua sân tập của thanh niên du kích, tiếng ngọn lúa ràn rạt va đập vào nhau, tiếng bước chân gấp gáp và cả những tiếng cười khúc khích bâng quơ. Trong sân anh trung đội trưởng lại dõng dạc hô “ Mục tiêu 100 mét, đầu ruồi chạm điểm đen, nín thở bóp cò” Chỉ có một khẩu súng cũ kiểu 7,9ly truyền tay nhau để tập, nhưng trông ai cũng hiên ngang lẫm liệt. Tôi nhớ mãi hình ảnh anh Thuyên, cháu cụ chủ nhà mặc chiếc áo nâu bạc phếch, thắt lưng da đen thít chặt ngang người, lúc lắc mấy quả lựu đạn na, mắt na cứ nhoang nhoáng nhìn. Anh đứng thẳng, bộ ngực nở căng qua làn vải mỏng, thấy chúng tôi đi học về qua anh cười hỏi :

-Các em đã tan học rồi à, đợi anh về cùng nhé.

Thật là khoái khi đơn vị “bộ đội thôn” cho mình đi trong hàng ngũ, cả đoàn hành quân về làng, đội hình trải dài bên bờ sông. Anh đi đầu giương cao lá cờ đỏ sao vàng, nắng chiều vàng óng cả bụi tre làm sáng mầu cờ và cả nét mặt mọi người. Tất cả chúng tôi cùng hát vang :


Liên khu Ba, phấp phới lá cờ hồng.

Quân dân đều một lòng

Diệt tan phường cướp nước.


Tiếng hát của người lớn và bọn trẻ con hòa nhau, thế hệ nọ tiếp thế hệ kia như một dòng chảy tự nhiên trong cuộc đời.

Đội dân quân ấy đã quyết chiến chống lại trận càn lớn của Pháp khi chúng đánh chiếm vùng phía Nam Nam định. Đêm đêm nhiều chiến sĩ đi đào hố chôn mìn trên mặt đường. Các hố mìn chen nhau : hố có mìn, hố không có mìn tạo nên một trận địa nghi binh . Trong trận đánh chống lại quân Pháp càn tới, anh Thuyên là người hy sinh đầu tiên . Mọi người kể rằng anh giật mìn trên đường huyện, bọn Pháp bắn xối xả vào trận địa rồi xông tới Anh đã ném đến quả lựu đạn cuối cùng rồi dùng dao găm lao vào diệt địch

Nghe tin tôi nhớ dáng anh hôm nào cùng đoàn quân giương cao lá cờ và hát vang trên đường làng Cát. Bây giờ anh đi xa rồi. Anh ơi !!!


... CÒN TIẾP ...


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 17.6.2016.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004