Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



MIẾU MỎ










B ây giờ tôi đang đứng ở vạt đất được xác định là, cách đây vừa tròn 170 năm, hòn than đầu tiên của ngành khai khoáng Việt Nam đã được nhà nước xác nhận. Đây là chân núi Yên Lĩnh xưa, khi ấy còn là cánh rừng rậm rạp, một con suối lớn chảy qua đây rồi đổ nước ra cửa Ang Tái, góp sóng cho sông Bạch Đằng, nơi có động Bão Phúc nổi tiếng, mà hai thi hào Phạm Sư Mạnh ở đời Trần và Nguyễn Trãi ở đời Lê, đã đến đề thơ.

Thơ Phạm Sư Mạnh:

Vũ trụ kì quan Dương Cốc nhật

Giang sơn thanh khí Bạch Đằng thu.

(Sáng bừng vũ trụ kì quan

Khí thiêng, thu, Bạch Đằng giang dâng đầy

- Trần Nhuận Minh dịch)

Thơ Nguyễn Trãi hoạ:

Thạch lan ảnh phụ thương giang nguyệt

Tiên động yên hàm bích thụ thu

(Bóng đá núi, bóng trăng sông

Cây xanh khói biếc đã lồng sắc thu

- Trần Nhuận Minh dịch)

Bây giờ, cánh rừng đã bay về trời không biết từ thuở nào, vì thế mà núi Bão Phúc xích lại rất gần. Những đám mây trắng đục bị gió Tây Bắc xô ngã, đẩy nhanh về phía Đông Nam, bay tới đó chỉ vọng hết ba tiếng mõ chiều. Con suối xưa cũng đã bị thời gian lấp đi rồi, chỉ còn để lại rải rác những hồ rộng, im ắng và lạnh lẽo, nước trong veo, bao quanh Miếu Mỏ, với vẻ điềm tĩnh và dửng dưng đến lạ lùng. Sát chân Miếu là hồ Cấu Cuốn rộng đến 4 ha, và sát mép hồ là vỉa than 9 đã được lệnh ngừng khai thác khi cái Miếu này được tái phát hiện và được công nhận là di tích lịch sử và văn hoá cấp tỉnh. Tiết trời đầu xuân âm âm sáng, mưa bụi lất phất bay, làm con đường cụt vắt về mé phải, rồi bị chặt đứt, cùng với những vết cắt táo bạo, chém đi cả một vạt đồi để lấy than, trở nên hẫng hụt, trước khoảng nước xanh mơ mộng dịu dàng, thì con đường thẳng chạy dài qua phía trái của Miếu Mỏ, hai bên đường lởm chởm những hòn đá cuội và đá xám, đá gan gà, to vật vã, nham nhở vết bánh xe tải chở đất chở than, càng trở nên hồ hởi và lầy lội. Cái Miếu Mỏ hiện nay toạ lạc trên một mỏn đồi nhỏ và thấp còn sót lại, rộng 20 mét vuông, hình chữ Đinh, quay hướng Tây Nam. Miếu xây bằng gạch xỉ, tiền đường mái lợp ngói brô xi măng, hậu cung mái cuốn vòm. Đồ thờ tự trong Miếu đều là đồ mới. Trước cửa Miếu, cái sân nền trạt vôi vữa cũng rộng khoảng 20 mét vuông. Trên đỉnh mái có trụ nhỏ màu vàng, cùng với đường viền hình tam giác cũng màu vàng, thấp thoáng hiện ra sau vòm cây lá cằn cỗi thưa thớt xanh, lạc lõng và cô đơn, trong đám hoang vu của triền núi than thâm thẫm tím và mây trời lơ mơ màu cháo lòng, của khoảng rộng những con sóng đất do những bánh xe cỡ lớn và lưỡi những chiếc máy gạt rộng bè, xô lên, sập xuống, vừa phóng khoáng vừa dữ dằn, như nó đã có từ ngàn xưa trong các truyện kể xa xăm của những người đi rừng, hoặc trong kí ức của các hảo hán giang hồ thời rừng thiêng nước độc. Tôi có rõ ràng cái cảm giác mơ hồ ấy, bởi từ mùa thu năm 1962, tôi đã có mặt ở đây, khi đưa các học trò của tôi, con em của những người thợ mỏ hiện đại ở chính cái làng mỏ Yên Lĩnh cổ xưa, đi rừng chặt trúc, đốn gỗ về bán gây quĩ. Tôi đã ở vùng Yên Lĩnh này đến 7 năm, trong đó 3 năm ở tại làng Yên Lĩnh, ngôi làng có cái miếu này. Tôi vẫn nhớ, tôi đã hơn một lần, đứng trước cái miếu hoang nhỏ hơn và thấp hơn bây giờ, tường gạch đã tróc vôi vữa, mái ngói đã sạt lở, bên cạnh có hai cái tháp gạch đã gẫy ngọn, trong âm u rờn rợn của bóng rừng, mà tôi không ý thức được ý nghĩa của nó. Các học trò của tôi nói rằng, đây là miếu thờ thần Đất. Mà ông thần Đất ở đây cũng là thần Đất của than, chủ của những vỉa than. Thờ ông để ông phù hộ cho những người làm than khỏi bị sập lò, khỏi bị các tai nạn lao động khác, đồng thời, cũng thờ cả những người thợ mỏ vô danh ở thời Tây, đã chết vì những lí do khác nhau, có người bị đất vùi, đá đè, bị máy cán, bị đổ ô tô hoặc bị sâu quảng ăn chân cho đến chết, mà không có ai nhang khói.

Thực ra thì đến năm 1888, triều đình nhà Nguyễn mới bán khu mỏ Đông Triều - Mạo Khê này cho Tây với giá 9 triệu đồng tiền Pháp và trước đó 4 năm, năm 1884, cũng đã bán khu mỏ Hồng Gai - Cẩm Phả cho Tây với giá 10 vạn đồng tiền Đông Dương. Người thợ mỏ thời Tây sớm nhất cũng ra đời sau năm 1884. Trong bao nhiêu năm, ta cứ tưởng đó là người thợ mỏ đầu tiên của Việt Nam, và ngành khai khoáng Việt Nam cũng do người Pháp đem lại, nhưng không phải. Người thợ mỏ Việt Nam đầu tiên đã chính thức xuất hiện tại đây, chính là dân phu của làng Yên Lĩnh, sau ngày mùng 6 tháng 12 năm Minh Mệnh thứ 20, nhằm ngày 10 tháng 01 năm 1840, tức là trước đó đến 44 năm, 2 thế hệ. Năm nay, những người thợ mỏ kỉ niệm 170 năm, ngày người đồng nghiệp tiền bối của mình ra đời. Ngày ấy, vua Minh Mạng nhà Nguyễn đã kí một đạo sắc cho phép Tổng đốc trấn Hải Yên (tỉnh Quảng Ninh ngày nay) là Tôn Thất Bật, được thuê dân khai thác than đá, tại núi Yên Lĩnh (nay là làng Yên Lãng, xã Yên Thọ) huyện Đông Triều của bản hạt. Đạo sắc này, được vua Minh Mạng viết bằng mực đỏ trên một tấm lụa tơ tằm, màu vàng cách điệu. Toàn bộ tấm vải lụa để viết sắc, dài 115 cm, rộng 55 cm. Trên mặt tấm lụa dệt rồng, mây, cùng các ô hoa văn chữ thọ, hoa sen, xung quanh diềm có các dải băng hoa chanh cách điệu, đúng như mô tả của bản Lí lịch di tích mà tôi có trong tay. Đạo sắc lịch sử đó, ngày 08 tháng 8 năm 2007, đã được lãnh đạo tỉnh Thừa Thiên - Huế trao phiên bản cho Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam và nó đã được phục chế, in nguyên cỡ trong Đài sắc của Hoàng đế, khánh thành tại khu vực Miếu Mỏ, trong dịp 170 năm ngành khai thác than và khoáng sản Việt Nam ra đời, mùng 10 tháng 01 năm 2010.

Nội dung đạo sắc như sau (Hoàng Giáp dịch):


Sắc

Tháng này Tổng đốc Hải Yên Tôn Thất Bật tâu xin thuê dân phu khai thác than ở núi Yên Lĩnh huyện Đông Triều của bản hạt. Trước đây, bộ đã tư cho hạt này khai thác than đủ 10 vạn cân đưa về Kinh đô giao cho trẫm. Nghĩ rằng nhân dân ở hạt này vừa mới được dễ chịu, sao nỡ làm những việc chưa cấp bách khiến dân phải khó nhọc. Cứ thư thư nhưng không được bỏ bễ.

Bọn Bật lại tâu hạt này sau cuộc biến động, niên vụ thường thất thu, cuộc sống của nhân dân thực khốn khó, họ đều tình nguyện làm thuê để lấy tiền nuôi thân…

Nay niệm tình dân hạt phần nhiều nghèo khổ đáng thương nên thể theo thỉnh cầu. Bọn các người nên hiểu rõ vấn đề, hết sức mà làm, không được sai sót dù là nhỏ, để an ủi sự ưu huệ của trẫm với dân chúng.

Hãy nhận.

Ngày 6 tháng 12 năm Minh Mệnh thứ 20

Đối chiếu với dương lịch thì đó là ngày 10 tháng 1 năm 1840. Trên sắc có đóng ấn tín của nhà vua: HOÀNG NAM CHI BẢO, quốc hiệu Đại Nam. Với đạo sắc này, ngành khai khoáng Việt Nam đã chính thức ra đời và vua Minh Mạng nhà Nguyễn được suy tôn là người sáng lập. Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam cũng đã quyết định tài trợ việc bảo tồn và trùng tu di tích lịch sử và văn hoá Lăng Minh Mạng tại cố đô Huế. Đó là điều rất thuận đạo trời, rất hợp lòng người, không chỉ ở trong ngành khai khoáng. Khi con cháu còn nhớ đến cha ông, dù không sinh thành trực tiếp ra mình; khi thế hệ sau còn vinh danh công lao của thế hệ trước, thì là nước còn có phúc và nhà còn có đức. Không có cái phúc và cái đức ấy, sớm hay muộn, chúng ta nhất định sẽ phải trả giá nặng nề, chỉ không biết sự trả giá đó, diễn ra vào thời gian nào và ở mức độ nào mà thôi. Để có được giá trị lịch sử quí giá này, trong mọi cố gắng của nhiều người, công nhân và cán bộ lãnh đạo Than và Khoáng sản Việt Nam, qua nhiều thời kì, sẽ thiếu công bằng, nếu không ghi nhận ở đây, tâm huyết và công lao của một người, là Tổng giám đốc Đoàn Văn Kiển, suốt đời mình gắn bó máu thịt với mọi vui buồn của người thợ mỏ, chân thành và tận tụy với sự nghiệp làm than của những người thợ mỏ Việt Nam.

Nguồn gốc của hòn than đầu tiên, được gọi là “đá cháy”, chỉ còn lưu truyền trong dân gian mà tôi đã được nghe từ khi còn là ông giáo cấp 2 của chính cái làng mỏ Yên Lĩnh này, và Trường ca Đá Cháy, tôi viết từ những năm 82 – 85 của thế kỉ trước, cũng bắt nguồn từ những kí ức xa xăm ấy. Một buổi trưa, một người đi rừng tình cờ ra bờ suối, ngẫu nhiên nhặt ba hòn đá đen để kê cái nồi luộc sắn (hay luộc ngô, luộc khoai hoặc nấu cơm, mỗi người mỗi nơi kể mỗi khác và chỉ khác có chi tiết này thôi). Vài phút sau, cả ba hòn đá đen ấy đều bắt lửa và cháy sáng. Người đi rừng – nhà địa chất dân gian và tiền bối, bỗng hoảng hốt kêu lên: “Trời ơi! Đá cháy! Đá cháy!” Nhiều người xúm đến xem, đều lấy làm lạ. Và hai tiếng “đá cháy” đã thành tên để chỉ một loại đá, không giống với những đá khác. Có người còn cho là “đá ma”. Chẳng rõ bao lâu sau thì chữ “than” ra đời. Ở nơi này, có nhiều vỉa than lộ thiên, lấy cuốc chim cuốc than lên như ta cuốc đất. Than cũng nhiều như đất. Than là đất. Đất cũng là than. Hòn đất bẻ ra đốt lên là cháy. Sau mỗi cơn mưa, những hòn than kíp lê lấp đầp các khe suối, vạ lên hai bên bờ. Người dân về báo với ông quan làng là Hoàng Sang. Ông này tên thật là Nguyễn Văn Sang, người cùng làng, nghe đâu, vì học giỏi, đỗ cao, được vua cho đổi họ và ban thưởng cho 100 mẫu ruộng. Chính ông bẩm báo với quan Tổng trấn Tôn Thất Bật. Và Tôn Thất Bật tâu vua…

Đầu tiên vua giao cho bộ Công thẩm tra. Bộ Công yêu cầu chở ngay về Kinh thành Huế 10 vạn cân than đầu tiên để các quan triều định luận.


Tôi vẫn còn nghe đêm đêm

Tiếng vó ngựa vang ròn

Chở mười vạn cân than

Vun vút lao về Kinh thành Huế


Rồi


Những hòn đá đen

Bỗng cháy sáng bừng cửa Ngọ

Cả Hoàng thành kinh ngạc

Vua Minh Mạng chênh chao

như uống rượu say

Lật tức bãi triều…


Bản trường ca viết xong thì đất nước bước vào Công cuộc Đổi Mới. Cảm nghĩ của tôi về sứ mạng của văn chương đã khác đi. Tôi chỉ chọn 4 chương, trích tổng cộng khoảng 700 dòng thơ, có nhiều tâm đắc hơn của mình, in trong tập thơ Nhà thơ và hoa cỏ, đã tái bản nhiều lần.

Bài học của Than: Toả Sáng

KHÔNG TOẢ SÁNG THÌ KHÔNG TỒN TẠI…

Vâng, đúng thế, không chỉ hòn than mà cả con người, cũng phải có ích, cũng phải tự toả sáng, để tồn tại

Tôi cho rằng, trời cũng chẳng thể nào thành trời được

Nếu đêm đêm không tự đốt cháy mình

bằng những ngôi sao…


Kĩ sư Vũ Văn Đông, giám đốc Công ti Địa chất Mỏ của Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam, đưa tôi về thăm Xí nghiệp Địa chất – Trắc địa Đông Triều, nơi anh đã nhiều năm làm giám đốc. Xí nghiệp đóng tại làng Yên Lĩnh xưa, nơi tôi từng dạy học, ngay bên cạnh Miếu Mỏ. Hiện nay, xí nghiệp được giao cho trông nom Miếu Mỏ, còn việc cai quản nó, giữ tay hòm chìa khoá, vẫn là một gia đình trong làng, người góp công nhiều hơn cùng các già làng xây lại Miếu Mỏ năm 2000, trên nền cũ cây cỏ um tùm hoang dại, do bị phá rỡ thời cách mạng văn hoá. Tôi hình dung nơi này, chính là công trường khai thác than đầu tiên của Tôn Thất Bật với hàng trăm người, cách đây vừa tròn 170 năm. Khi ấy, quan hệ chủ - thợ chưa hình thành, người công nhân là nông dân làm thời vụ, những ràng buộc về luật pháp và quan hệ kinh tế chưa có. Lao động là tự do để cải thiện đời sống cụ thể của từng gia đình, làm bao nhiêu, hưởng bấy nhiêu, để có “tiền tươi thóc thật”. Cho nên, không khí lao động, tôi chắc là rộn ràng, vui vẻ và hào hứng lắm.

Tôi nói với kĩ sư Vũ Văn Đông: Khi những người địa chất đầu tiên chọn nơi này để đặt chiếc ba lô và hạ trại, tôi nghĩ, chắc chỉ vì ở đây có một vạt đồi rộng, có hồ nước trong, gần các triền than của cánh cung Đông Triều – Yên Tử, lại gần quốc lộ 18, chứ chưa chắc đã biết, nhà địa chất dân gian đã phát hiện ra hòn than đầu tiên ở đây, và ở đây, xưa có công trường than và Miếu Mỏ, với chiều dầy kiến thức văn hoá và lịch sử như bây giờ. Đó là cuộc gặp nhau của những con ong cùng tìm đường bay để lấy mật, dù cách nhau bao nhiêu thế kỉ, bao nhiêu dặm đường. Cũng như cái kim đồng hồ trên tay tôi chạy hết một vòng là 60 phút và mỗi chúng ta đi hết 60 năm là trọn một vòng đời. Con số 60, nhà chế tạo đồng hồ thời nay, đã gặp người tính can chi từ thời thượng cổ…

Kĩ sư Vũ Văn Đông cho tôi biết, một kế hoạch lớn đã được hoạch định cho tương lai, để nơi đây trở thành Trung tâm văn hoá và lịch sử của Tập đoàn Than và Khoáng sản Vịệt Nam, nơi người thợ mỏ tìm đường về cội nguồn. Tất cả đã bắt đầu. Sẽ có đền thờ, bảo tàng than, nhà văn hoá, cung thể thao, nơi hội họp, hội thảo, tổ chức các diễn đàn, khu nghỉ ngơi an dưỡng cho những thợ mỏ ốm yếu hay già cả… Có một cái gì rất tốt đẹp đã kết thúc. Lại có một cái gì rất tốt đẹp đang ra đời, cùng với mùa xuân, khi sức sáng tạo của hàng vạn thợ mỏ đang được phát động…

Tôi vào Miếu Mỏ, thành kính thắp một nén hương, trân trọng thỉnh một tiếng mõ… Tôi bỗng thấy mình chênh chao, cái cảm giác mà tôi nghĩ là đã có ở vua Minh Mạng, khi vị Hoàng đế nhà Nguyễn tận mắt trông thấy hòn đá kì lạ của làng Yên Lĩnh tự nhiên bắt lửa, cháy rực sáng giữa Hoàng thành. Cái ánh lửa mở ra một kỉ nguyên công nghiệp và khai khoáng cho đất nước thuần nông lạc hậu và nghèo nàn, để từ đó mà từng bước đi lên…

Tôi bước ra ngoài sân Miếu Mỏ và thấy những hạt mưa bụi đầu xuân mơ hồ táp vào má mình. Một vùng cây hoàn nguyên mỏ đã lên xanh và bên sông Đá Bạc, đổ nước ra cửa Bạch Đằng, núi Bão Phúc (Đầy Phúc) hiện ra rất gần. Tôi chợt nhớ đến những câu thơ của Phạm Sư Mạnh và Nguyễn Trãi, từng khắc vào vách núi, mà thấy cái khí thiêng của trời đất đã dâng đầy trong tâm hồn mình, dâng đầy trong xứ sở dài rộng của vòng cung than.

Từ đáy sông Lục Đầu đến đáy vịnh Bắc Bộ

Và lặng im như một tiếng vang…



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 15.6.2016.


VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004