Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




VỀ GỐC TÍCH TRƯỜNG BƯỞI




Phỏng vấn Cụ Đào-văn-Minh một lão Hội-viên



C ụ đã 73 tuổi, cảnh già điền viên, nhưng cụ cũng vẫn nhanh nhẹn, ưa hoạt động, và rất thiết-tha với Ái-Hữu. Biết trước tính cụ không ưa khách sáo, nên Phóng Viên Vác Dù vào câu chuyện ngay. Dưới đây, xin thuật lại những câu hỏi và câu trả lời của cụ:

Hỏi.- Thưa cụ, Trường Bưởi có phải là Trường Trung-học đầu tiên được mở tại Hà-Nội không?

Đáp.- Có thể nói là đúng, vì có mấy trường mở trước, tuy lấy tên là “Collège”, nhưng chỉ là những trường chuyên đào-tạo thông ngôn hoặc giáo viên cấp thời.

Trường Yên-Phụ (phía Bắc Hà-Nội) được mở vào tháng 10 năm 1892. Ngôi nhà ấy đến sau này đã được sửa chữa, để dùng làm trường-sở trường Tiểu-học Yên-Phụ. Hồi bắt đầu mở trường “Collège des Interprètes” Yên-Phụ, đất Bắc còn thờ-ơ với việc học tiếng Pháp, nên đa số thông ngôn đều là các ông phán Sài-gòn. Đến năm 1899, Trường được chuyển tới một tòa nhà, trụ-sở cũ của Nha Thương-Chính (Quan Thuế) ở đường Bờ Sông (tên thời Pháp là Quai Clémenceau và nay là đường Nguyễn-trường-Tộ) nên người ta quen mồm gọi là Trường Thương-Chính.

Trường Collège Jules Ferry mở tại Nam-Định, năm 1904, lấy mấy lớp nhất của Trường Tiểu-học Nam-Định (Trường mệnh danh là Trường Trong, gồm từ lớp ba trở lên; còn Trường Ngoài gồm từ lớp tư trở xuống) làm trường sở. Trường này cũng là trường theo một chương trình cấp tốc, với mục đích đào tạo thông ngôn.

Trường Collège Doudart de Lagrée, mở tại đường Hàm-Long, Hà-Nội, năm 1906, đặc biệt để đào tạo giáo viên.

Như tôi đã nói ở trên, tuy những trường kể trên được mở trước Trường Bưởi, nhưng chỉ có tính cách những lớp cấp tốc đào tạo thông ngôn hoặc giáo viên cần thiết cấp thời, nên chương trình học cũng như việc cho học trò lên lớp, đều co dãn, tùy theo nhận xét của Ban Giáo sư và Ban Giám đốc.

Trường Bưởi tức là Collège du Protectorat, là Trường Trung học đầu tiên có quy-củ, có chương trình 4 năm học, mở cho người Việt-Nam, tại Bắc-Hà. Trường được đặt nền móng năm 1907, trên một bất động sản mua lại của nhà in Schneider, bên bờ Hồ Tây, thuộc địa phận làng Thụy-Khuê, huyện Hoàn-Long, tỉnh Hà-Đông. Khu đất rất rộng, nằm từ ven Hồ-Tây ra tới đường xe điện chạy Hồ Hoàn-Kiếm - Yên-Thái. Làng Yên-Thái, tên nôm là làng Bưởi, nên đường xe điện lên Yên-Thái được gọi nôm là đường lên Bưởi. Hồi đó, phương-tiện giao-thông tiện lợi nhất là xe điện, nên đa số học-sinh đi học Collège du Protectorat đều sử-dụng xe điện lên Bưởi. Do đó, phát nguyên danh-từ “Trường Bưởi”.

Cả khu trường được sửa sang và nhà dựng lên lần lần, nên niên học chính-thức đầu tiên, 1908-1909, còn thiếu thốn về mọi phương diện. Buổi đầu, chưa có phòng tắm cũng như phòng rửa mặt, nên lưu trú học sinh đều phải chạy xuống Hồ-Tây rửa mặt buổi sáng và tắm buổi chiều. Đến sau, nhà trường mua (hay đi xin được) 50 vỏ thùng rượu vang, mang mỗi thùng cắt đôi, để học sinh dùng làm thùng tắm. Chiều chiều, lao công gánh nước Hồ-Tây, đổ đầy các thùng, vào khoảng 4 giờ, để đến 5 giờ, học sinh lưu trú luân phiên tắm gội. Chúng tôi có thói quen vui nhộn, hò nhau cùng ngồi vào thùng tắm, nhúng cả mình, trước khi ra mặc áo quần. Ông Hiệu trưởng đầu tiên của trường, là ông Cyprien Mus, tính nết hòa nhã, nhân đi qua, nghe thấy tiếng chúng tôi hò nhau vui vẻ, nên ghé tới xem chúng tôi tắm. Tôi ngồi ngay ở thùng đầu tiên, tự nhiên phản ứng như lúc ông Hiệu trưởng vào thăm lớp học, vội vàng đứng dậy chào. Tức thì, các bạn tôi cũng làm như tôi, mọi người cùng tồng ngồng đứng trong thùng rượu bổ đôi. Ông Hiệu trưởng vừa cười, vừa chào trả lại.


Hỏi.- Được biết cụ đã học Collège Jules Ferry, trước khi lên trường Bưởi. Vậy xin cụ cho biết qua về trường ấy.

Đáp.- Tiếng gọi là Collège, nhưng chương trình học và sự sắp xếp lớp học rất co dãn. Muốn có ngay học sinh niên khóa đầu tiên, 1904-1905, đặc cách cho Cours supérieur tiểu học là 1re année, rồi cuối năm thi đậu bằng Tiểu học, cho lên 2e année. Đến cuối niên học 1905-1906, cho ngay 10 người đầu lớp 2e année lên Hà-Nội thi Đíp-Lôm (Diplôme de fin d’études complémentaires franco-annamites). Năm 1906 là năm đầu tiên có kỳ thi Đíp-Lôm; thí sinh chỉ gồm có 10 học sinh Collège Jules Ferry và ngót hai mươi học sinh Collège des Interprètes Hà-Nội. Người đỗ đầu khóa thi ấy, là cụ Nguyễn-phan-Long (con cụ cố Thông phán Nguyễn-phan-Toán, lúc đó làm việc tại tòa sứ Nam-Định) học sinh trường Collège Jules Ferry. Đậu Đíp-Lôm xong, cụ lại được bổ nhiệm làm giáo sư ngay ở trường Collège Jules Ferry cụ học trước. Niên khóa 1906-1907, cụ dậy lớp 3e année, nghĩa là dậy ngay bạn đồng học 2e année cũ, nhưng mọi người đều thán phục tài đức của cụ, trong việc giảng dạy. Mấy tháng sau, có kỳ thi Tham-tá quan thuế, cụ dự thí, lại đỗ đầu và được bổ nhiệm ngay tại Hà-Nội. Nhưng chỉ vài năm sau, nhân cụ thân sinh về hưu-trí, trở lại Nam-Phần, cụ xin thôi nghề công chức, để về làm báo tại Saigon, như chúng ta đã biết. Có một hồi, lúc tuổi già, cụ đã gánh vác nhiệm vụ Thủ-tướng Chính-phủ.

Trong số 10 cụ đậu “Đíp-Lôm” đầu tiên của trường Collège Jules Ferry, chỉ còn có 3 cụ còn sống, là cụ Đào-đức-Tầm, 80 tuổi, cụ Hoàng-mạnh-Ngọc, 76 tuổi, hiện nay vẫn mạnh khỏe, ở tại Saigon, và cụ Nguyễn-văn-Bằng, 78 tuổi, ở lại Nam-Định.

Chuyện lên lớp ở Collège Jules Ferry rất co dãn, như tôi đã nói. Tôi còn nhớ số chước tịch của cụ Nguyễn-phan-Long và Hồ-sĩ-Nam là 922 và 921, còn số của tôi là 2.394; có sự cách biệt con số như trên, vì khi hai cụ ấy học lớp nhất, tôi mới học lớp chín. Lẽ ra phải thua tám lớp, nhưng trong một năm, nhờ về những bài thi chính tả chữ Pháp liên tiếp được trội điểm hơn cả, tôi đã nhẩy tới 5, 6 lớp, thậm chí đến niên học 1905-1906, tôi chỉ còn kém hai cụ có một lớp.

Trường Collège Jules Ferry được đóng cửa vào cuối niên học 1907-1908, để dồn học-sinh lên Trường Bưởi.

Thực ra, nhờ về sự chuyển học-sinh này, Trường Bưởi mới có đủ các lớp từ 1re année đến 4e année, vào niên-khóa 1908-1909. Với việc dồn trường ấy, tôi trở thành học-sinh Trường Bưởi.


Hỏi.- Xin cụ cho biết qua về việc giảng dạy ở Trường Bưởi hồi bấy giờ. Thi cử ra sao? Đời sống lưu-trú học-sinh như thế nào?

Đáp.- Niên học 1908-1909, Trường Bưởi gồm có Petit Collège, cho bậc tiểu học, có chừng 250 học sinh và Grand Collège, cho bậc trung học phổ thông có chừng 120 học-sinh. Học trò phải đậu tiểu học mới được thi vào 1re année, và hết 4e année mới được thi trung-học phổ-thông. Vì mục đích lúc đó là đào tạo công chức, nên đến 4e année, mỗi lớp tùy theo sự lựa chọn của học-sinh, chia làm hai ban: ban hành chánh (section administrative) thi ra làm ông phán (thư ký), ban sư-phạm (section normale) thi ra làm ông giáo viên tiểu-học. Đặc biệt có niên-khóa 1909-1910, có 11 người, vì bài Pháp văn không đủ điểm, nên thi rớt Đíp-Lôm; nhà trường cho học lại, nhưng cho ngồi riêng một lớp, gọi là 5e année, có ý đề cao học-sinh đàn anh về niên học. Cuối niên-học sau (1910-1911) mười người thi đậu “Đíp-Lôm”, một người thi rớt, nhưng chỉ một tháng sau, đậu kỳ thi thông ngôn Tòa sứ.

Vị hiệu-trưởng đầu tiên là ông Cyprien Mus, tính nết hòa nhã, vui vẻ, rất gần gũi học-sinh, luôn luôn bình tĩnh ôn tồn, dầu xảy ra việc gì không vừa ý. Ông nói chuyện thân mật với học-sinh, nói tiếng Pháp thanh thanh rất dễ nghe. Ông cho học-sinh biết: ông là người tỉnh Tours, vùng Touraine, đã đậu thủ khoa trường Ecole Normale Saint-Cloud. Ông vừa làm hiệu-trưởng, vừa dạy 4e année, về môn sư-phạm. Vì tôi học ban sư-phạm, nên cảm thấy giờ học ông là những giờ thích-thú nhất. Ông săn sóc đến học-sinh từ chỗ học, đến nơi ăn, chốn ngủ, thường nếm cả cơm cùng các thức ăn, và lúc nào cũng chú ý đến lời kêu ca của học-sinh.

Trừ một giáo sư có bằng cử nhân văn khoa, toàn thể giáo sư Pháp dạy hồi đó là giáo viên tiểu học bên Pháp sang. Tuy vậy, chính ông giáo sư có bằng cử nhân, nhưng không hề học qua lớp sư phạm, lại dạy học không có kết quả nhất. Giáo sư Việt-Nam có hai vị: 1o cụ Trần-hữu-Đức, người Hà-Nội, hồi đó chừng 50 tuổi, dạy phiên dịch Việt-Pháp (thème et version), tài chuyển ngữ Việt Pháp có phần trội hơn cả cụ Nguyễn-văn-Vĩnh; sau này, cụ tham dự phong trào cách mạng và tạ thế tại Hà-Nội, nên không ai nhắc đến tên cụ nữa, 2o cụ tú tài Ngô-tiến-Tiệp dạy chữ Nho.

Học-sinh hồi đó là con cháu các gia-đình hấp thụ Nho phong, nên đối với giáo sư hết sức kính cẩn. Sự kính cẩn đối với thầy ấy đã làm cho một giáo sư người Pháp tên là Roland đi quá trớn; trong khi rầy la học trò, đã dùng những danh từ quá đáng. Cả Ban Trung-học (gồm chừng 120 người đã có tới 100 người là lưu trú học-sinh, vì được hưởng học bổng) phẫn uất về cách ăn nói trên, nên một buổi tối, sau bữa cơm chiều, thảo luận về thể thức phản ứng lại. Mọi người đồng thanh cùng ký một lá đơn xin đổi giáo sư Roland. Sáng hôm sau, một bạn ở lớp trung-học có giờ giáo sư Roland đầu tiên, viết lên bảng câu: “Socrate a dit: Il ne m’aime pas. Que pourrai-je lui apprendre?”. Lúc ông Roland đến, học-sinh đứng dậy chào như thường lệ và yêu cầu ông đọc câu trên bảng. Đọc xong, ông nổi cơn thịnh nộ và đe dọa: cửa Trường Bưởi mở rộng! Một học-sinh đấu khẩu trả lời xin để ông hiệu-trưởng giải quyết. Đồng thời, mọi người ra khỏi lớp học, sắp hàng đôi, đi rất trật tự và bình tĩnh, từ lớp học đến phòng giấy ông hiệu-trưởng, đệ lá đơn xin đổi ông Roland, mà mọi người đã ký từ đêm hôm trước. Ông hiệu-trưởng Cyprien Mus, như đã nói ở trên, rất gần gũi học-sinh, nên sau khi đọc xong đơn, khuyên học trò bình tĩnh trở lại lớp học, chờ cuộc điều-tra của ban giám-đốc nhà trường, và trong khi chờ đợi, giáo sư Roland sẽ tạm ngưng giảng dạy. Chỉ trong vòng một tuần lễ sau, giáo sư Roland có sự-vụ-lệnh thuyên chuyển sang Lèo và toàn thể lưu trú học-sinh Ban Trung-học phải phạt không được ra chơi phố, hai tuần lễ (2 privations de sortie). Chúng tôi đã vui vẻ chịu phạt.

Sách học hồi đó phát đủ cho học-sinh, không phải mua, nói là cho mượn, nhưng cuối niên học, cũng không lấy lại.

Việc thi hồi đó cũng giản dị lắm. Không phải lập hồ-sơ giấy tờ phiền toái như ngày nay. Độ nửa tháng trước ngày thi Đíp-Lôm, ông hiệu-trưởng lập danh sách thí sinh trường mình, lấy chữ ký từng thí sinh, rồi gửi tới Nha Học chính là đủ. Vào năm tôi đi thi (niên học 1911-1912), trước ngày thi, chúng tôi được ông hiệu-trưởng báo cho biết đến thi tại trường Trung-học Pháp Paul Bert (hồi đó chưa có Lycée Albert Sarraut; chỉ có Collège Paul Bert, ở đường Đồng-Khánh, gần nhà Gô-Đa), chúng tôi thấy vẻn vẹn có 30 thí sinh, mà Trường Bưởi đã có tới 25 thí sinh, toàn thể lại là lưu trú học-sinh, chỉ có 5 thí sinh tự do (candidat libre), thật là phiền phức cho chúng tôi, về sự chuyển vận tới nơi thi. Lập tức, ông hiệu-trưởng Cyprien Mus, can thiệp với Nha Học-chính và chúng tôi được thi tại Trường Bưởi. Vì cận ngày quá, không kịp báo cho 5 thí sinh tự do, nên sáng sớm ngày thi, Nha Học-chính cho người đón 5 thí sinh tự do tại Collège Paul Bert để chuyển lên Trường Bưởi. Kỳ thi ấy, 18 thí sinh Trường Bưởi đậu, rớt 7 người, và 5 thí sinh tự do đều hỏng cả vì học không đủ để làm bài. Lúc đó, thi rớt “Đíp-Lôm” cũng không buồn, vì luôn luôn có những kỳ thi tuyển thư ký: học lực đi thi “Đíp-Lôm” dư để thi đậu thư ký, vì phần đông thí sinh Thư ký chỉ vừa mới thi xong bậc Tiểu-học. Câu chuyện khi đó xảy ra cũng ngược đời: đậu “Đíp-Lôm” tháng 6, đến tháng 9 mới được bổ nhiệm làm công chức; nhưng thi hỏng “Đíp-Lôm”, đậu kỳ thi thư ký, vào tháng 7 chẳng hạn, đầu tháng 8 đã được bổ nhiệm làm công chức rồi.

Hồi đó, ông Hiệu-trưởng sống thân mật với học-sinh lắm: mỗi kỳ thi Đíp-Lôm xong là ông khao một bữa ngay tại trường, cấp cho chừng 5, 7 con gà tây quay bơ và mươi chai rượu vang, tùy theo số người mãn khóa.

Đời sống lưu trú học-sinh cũng dễ chịu lắm. Giám thị đối với học-sinh 4e année, nhất là đặc biệt 5e année, hầu như không có ảnh hưởng; anh em 5e année và 4e année chia nhau, mỗi người săn sóc chừng dăm em lớp dưới, cả từ lúc ăn lẫn lúc học, như anh cả đối với các em nhỏ. Thực đơn hàng tuần đều do chúng tôi xếp đặt và đề nghị với nhà trường.

Tôi xin kể một chuyện xảy ra trong niên học 1910-1911, nhân dịp ông Giám thị tên là Tuân tạ thế. Học sinh phải làm điếu văn, lúng túng mãi không biết gọi bằng “ông”, hay “thầy”, hay là “anh” vì vừa năm trước, ông ấy cũng là học-sinh trường Bưởi. Việc mang ra thảo luận gay go, sau tôi mang ra một tờ nguyệt san giáo dục Pháp có in một bài điếu văn của một giáo sư, tiến sĩ văn chương, khóc một đồng nghiệp, vừa là thầy cũ bậc tiểu-học, vừa là bạn cũ bậc đại-học, lại vừa là học trò cũ, cũng bậc đại-học. Bài điếu văn ấy bắt đầu như sau:

Thưa Thầy thân ái,

Thưa Bạn thân ái.

Thưa Học trò thân ái,”

Mọi người thỏa thuận để bài điếu văn bắt đầu bằng “Thưa Anh”, và người đại diện đọc điếu văn là một học sinh lớp 4e année.

Khi điếu văn vừa đọc xong, cụ Giám thị Nguyễn-đình-Quế, tỏ vẻ tức bực, khó chịu và ứng khẩu mấy câu chua chát như sau: “Thưa Anh! Anh Tuân ơi! Tuy anh chẳng dạy được ai, nhưng anh cũng đã dầm sương, dãi nắng ở sân nhà trường. Than ôi! Dã tràng xe cát biển Đông!…”


Đến đây, Phóng Viên Vác Dù thấy đã quá kéo dài cuộc phỏng vấn, làm cụ lão hội viên mất nhiều thời giờ và thêm mệt mỏi, nên xin cáo lỗi đối với cụ, để xin rút lui. Nhưng cụ lão hội viên Đào-văn-Minh, cụ già quắc thước đáng kính mến, mặt như sáng thêm lên và niềm nở bảo tôi rằng:

Tôi lấy làm thích thú góp phần tinh thần vào Ái hữu Cựu học sinh trường Bưởi và kể xong cho ông nghe câu chuyện trường xưa, thầy và bạn cũ, tôi đã quay lại cuốn phim thiếu thời, riêng tôi cảm thấy như mới ngày hôm qua, còn sống ở ký túc xá trường Bưởi, không mệt mỏi đâu.


PHÓNG VIÊN VÁC DÙ




cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ SàiGòn ngày 15.6.2016

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004