Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




NƠI NGỌN LỬA THAN ĐÃ CHÁY LÊN










Đ ó là hình ngọn lửa than cháy đỏ và bay như một cánh buồm, được cách điệu trong biểu trưng của Công ti than Cọc Sáu do một công nhân của mỏ sáng tác. Năm 2001, khi còn là Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Ninh, tôi được mời làm Đồng Chủ tịch Hội đồng chung khảo để chọn ra một mẫu biểu trưng trong số 6 cái mẫu đã được Hội đồng sơ khảo của mỏ tuyển lựa. Cũng may ý kiến chúng tôi trùng với ý định đã được chuẩn bị của các đồng chí lãnh đạo mỏ và biểu trưng được chọn rất nhanh.Và bây giờ nó đã hiện lên trên tất cả các phong thư, các mẫu quảng cáo và xuất bản phẩm, như một lời tự giới thiệu đầy trách nhiệm và thiện chí trước tất cả các bè bạn và khách hàng xa gần.

Chẳng hiểu do duyên phận gì, mỏ than Cọc Sáu trở thành một địa chỉ trong quê hương sáng tác của tôi và thực sự trở thành nơi khởi nghiệp cho cuộc đời nghệ thuật của tôi, đặc biệt là ở giai đoạn đầu 1970-1980. Tôi đã viết ở đây và viết về mỏ than này, chí ít cũng là 2 tác phẩm. Tập truyện vừa Trước mùa mưa bão viết tại mỏ Cọc Sáu từ ngày 22/10 đến ngày 3/11 năm 1977, khoảng 100 trang in và tập thơ Âm điệu một vùng đất gồm 50 bài. Cả hai đều được bao cấp xuất bản năm 1980 ở Hà Nội và được tặng đến 4 giải thưởng văn học trong 2 năm 1980, 1981. Chính 2 tác phẩm này đã đưa tôi vào Hội Nhà văn Việt Nam năm 1982. Các đồng nghiệp của tôi và một số nhà phê bình nghiên cứu văn học lúc bấy giờ đã thân mật ban tặng tôi một danh hiệu vô cùng cao quí là Nhà thơ của giai cấp công nhân. Và tôi là một trong số ít các nhà văn Việt Nam đầu tiên được Tổng Công đoàn trao tặng Bằng và Huy hiệu Lao động sáng tạo. Trước bậc thềm Đại hội Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam lần thứ VIII tại Hà Nội, tôi là khách mời của VTV3, đại diện cho đội ngũ các nhà văn viết về giai cấp công nhân tham gia chương trình, cùng với anh hùng lao động nâng vật nặng lên cao Nguyễn Huyền Chiệc, bác sĩ bệnh viện Từ Dũ TP. Hồ Chí Minh, cấy thai trong ống nghiệm Nguyễn Thị Ngọc Phượng... Tạ ơn Giai cấp công nhân đã ban phước lành cho mình, khi nhận giải A văn học công nhân lần thứ VI, tôi đã tặng lại 50% số tiền thưởng cho con em những người thợ mỏ. Sau này, khi nhận các giải thưởng văn học khác, tôi cũng tặng tiền thưởng cho các em như thế, từ năm 1986 đến nay. Riêng tập truyện vừa Trước mùa mưa bão còn được giới thiệu và trích dịch ra 6 thứ tiếng nước ngoài: Anh, Pháp, Nga, Tây Ban Nha, Cămphuchia và Lào. Và hình ảnh người thợ mỏ ở đây đã được đưa vào sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 3, lớp 4 phổ thông suốt 20 năm, bây giờ chỉ còn lưu hai ba đoạn văn ngắn ở phần ngữ pháp và tu từ. Năm 2002, tập truyện được Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin tái bản lần thứ tư. Toàn truyện xoay quanh một việc có thật diễn ra trong nhiều năm, phản ánh những khát khao sáng tạo và chinh phục thiên nhiên với rất nhiều mồ hôi, trí tuệ của những người thợ mỏ Cọc Sáu. Để lấy được hàng chục triệu tấn than lộ thiên chất lượng tốt nhất thế giới ở dưới đáy moong sâu hàng chục mét, sau này là 150 mét dưới mực nước biển, ở bên cạnh biển, họ phải chế tạo ra một cái máy bơm phà có sức bơm lên năm bẩy chục mét, sau này là hơn 100 mét cao, trong những đường ống thép lớn luồn qua núi, mỗi ngày đưa hàng ngàn khối nước ra biển. Ấy là chưa kể những khi trời đột ngột mưa như vỡ túi nước, cả cái vòng cung hình phễu 10 km vuông, nước trút xuống dữ dằn tàn bạo, chỉ trong một vài giờ có thể dìm sâu công sức của hàng nghìn người xuống dưới đáy mênh mông nước quằn quại đen, như một biển hồ bát ngát đuối tầm mắt ở lưng chừng trời. Có lần sau cơn mưa, nước moong, sâu thẳm đến 80 mét trong đó 10 mét sâu dưới đáy toàn bùn loãng, lấp kín những cái máy xúc, mỗi cái có sức làm việc bằng 1 nghìn người. Cuộc đấu trí với thiên nhiên để có một cái phà bơm vận hành có hiệu quả trước mùa mưa bão, và mỏ Cọc Sáu có thể khai thác than được ngay sau những ngày mưa bão, quả thực là một kì công vĩ đại mà những người thợ mỏ Cọc Sáu đã làm được, sau khi cuộc chiến tranh huỷ diệt tàn bạo nhất trong lịch sử vừa mới đi qua...

Tôi đến Cọc Sáu lần đầu vào cuối năm 1969. Tết Nguyên Đán năm Tân Hợi (1971), tôi đã có mặt trên tầng cao 180 (cao 180 mét) cùng với những người thợ khoan, bóc chiếc bánh chưng đêm giao thừa trong luồng gió bấc lạnh buốt lùa vào gian nhà tạm, qua kẽ hở của những tấm tôn ghép lại thành bức tường sau. Tôi đã chứng kiến cảnh họ câu cái ti choòng bị kẹt dưới lòng đất sâu lên gian khổ nhầy nhụa đất cát là như thế nào, người nào người ấy lấm bê bết, y như nông dân làm thuỷ lợi...

Những trang văn đã viết trước đây tròn 30 năm. Đây là thực tế sản xuất của một mỏ than lộ thiên thông qua đời sống của một gia đình thợ mỏ, mọi thành viên trong gia đình đều là công nhân mỏ, nối tiếp nhau đến ba đời và đời thứ tư, một em học sinh cấp 2 lớn lên chắc chắn cũng sẽ thành thợ mỏ như ông, bố mẹ và các anh chị của em. Các nhân vật trung tâm đều là những người lớn và không một ai có tì vết gì trong đời sống, trong cả lương tâm. Tất cả được nhìn qua con mắt của một thiếu nhi, bởi em là nhân vật dẫn chuyện. Mọi vui buồn của từng thành viên trong cái gia đình khá đông người này đều gắn bó chặt chẽ với mỏ, thậm chí với một cơn mưa ở mỏ. Mặc dù đang cảm sốt phải điều trị, nửa dêm, người chủ gia đình đồng thời là Phó giám đốc mỏ đã phải bật dậy, khoác vội áo lên công trường.

Hình như chính tiếng mưa rơi trên mái nhà và hơi lạnh của nước mưa lùa qua cửa sổ, đã làm tôi thức dậy. Tôi quờ tay tìm chăn kéo lên ngực và ngay lúc ấy, tôi chợt hiểu rằng, có một điều gì thật hệ trọng đã xẩy ra. Thế là tôi tỉnh hẳn. Tôi ngồi bật dậy…

Giám đốc mỏ trong Trước mùa mưa bão tôi mượn hình ảnh Nguyễn Duyệt với mái tóc quăn tự nhiên và gương mặt xương xương hốc hác hơn ngày thường ”, mặc dù khi viết những dòng này, anh Duyệt đã thôi giám đốc mỏ Cọc Sáu được hơn 6 tháng. Nhân vật trung tâm trong tập truyện là Phó giám đốc mỏ Kiều Quang Tính, tôi mượn hình ảnh Nguyễn Viết Hoè, với một đoạn trích ngang dường như được lấy ra từ tiểu sử cá nhân của anh.

Các nhân vật đều đi song đôi. Đôi bạn học sinh là Tịnh (trong tác phẩm, nhân vật này xưng tôi) và Cường. Nhân vật Cường, mượn tên một anh bạn tôi là Võ Bá Cường thợ điện ở Cọc Sáu, hội viên sáng tác kịch của Hội Văn học Nghệ thuật Quảng Ninh. Những ngày tôi về mỏ, anh thường qua chơi với tôi và tôi cũng vài lần đến chỗ làm việc của anh ở trạm điện lưng chừng dốc lên moong Tả Ngạn. Tôi đã mô tả trạm điện này trong tác phẩm và biểu dương nguyện vọng của Cường: làm một thợ điện thật giỏi để cứu mỏ trong những cơn mưa bất thường. Bây giờ cái trạm điện ấy cũng đã chuyển đi rồi.

Đôi bạn thanh niên là Kiều Quang Tĩnh lái xe bò tót và Nguyễn Tùng Linh, kĩ sư trưởng. Nhân vật Tùng Linh, tôi mượn hình ảnh Hồ Linh có thời gian làm phiên dịch cho chuyên gia Liên Xô ở mỏ Cọc Sáu với đặc điểm rất đáng yêu có thật trong tác phong sinh hoạt của anh. Trong lúc kĩ sư trưởng nói chuyện với ông tôi, tôi thấy chú có một nét đặc biệt là rất thích bắt tay. Cứ mỗi câu ông tôi nói vừa ý chú, chú lại bắt tay một cái. Tôi không biết câu chuyện diễn biến thế nào, chỉ thấy chốc chốc hai người lại túm lấy tay nhau. Đôi bạn trung niên sau này thông gia với nhau là Phó giám đốc Tính và ông Tư Máy Xúc mà tôi mượn hình ảnh từ thành tích của anh hùng lao động ở mỏ Cọc Sáu là Vũ Xuân Thuỷ. Từ năm 1961 đến 1965, Vũ Xuân Thuỷ đã dưa năng xuất máy xúc loại 4 mét khối 1 gầu, từ 6000 mét khối 1 ngày lên bình quân 6500 mét khối 1 ngày, giảm chu kì xúc 1 gầu từ 30 giây xuống còn 22 giây. Khi làm việc, mọi động tác của ông đều chính xác, linh hoạt, khoan thai, không có động tác thừa. Năng suất của ông cao hơn hẳn những người lái máy xúc giỏi khác. Ông hết sức dìu dắt các bạn thợ, nhưng vẫn không ai bằng ông. Có lẽ vì ông có sức khoẻ hơn người. Ông thường làm 28, 29 công hằng tháng và không bao giờ phải rỏ những giọt nước mũi vì cảm cúm như ông nói. Ngày 15 tháng 11 năm 1968, ông là một trong số những người thợ mỏ được gặp Bác Hồ ở Phủ Chủ tịch. Ngày ấy bây giờ thành ngày hội vẻ vang ở vùng mỏ, sau ngày đình công thắng lợi 13 tháng 11 năm 1936. Đối với ông, đấy là một kỉ niệm đẹp nhất mà ông vẫn tự hào. Từ ấy, tên ông được mọi người kính trọng, gọi ghép với tên nghề là ông Tư Máy Xúc. Hai ông thợ già là Kiều Quang Tình và Tư Đặc, một thợ cơ khí, một thợ nổ mìn thời Tây. Ông Tư Đặc bị Tây chọc mù mắt, sau đó ông làm nghề hoạn lợn. Nhà văn Võ Huy Tâm có lần kể cho tôi nghe là ở Cẩm Phả, có một ông già mù mà thiến lợn giỏi lắm, thế là tôi hư cấu đưa vào đây cho đủ bộ các thế hệ thợ, với ý muốn là khái quát được một đôi nét gì đó trong quá trình hình thành và phát triển của giai cấp công nhân ở Việt Nam. Còn ở mỏ Cọc Sáu thành lập ngày 1 tháng 8 năm 1960, tôi không biết có thợ thời Tây hay không. Trong tác phẩm, còn có hai cha con cô thợ hàn rất giỏi nghề, nâng nghề thành một nghệ thuật ở mỏ Cọc Sáu là cha con cô Thuỷ mà giám đốc Trần Ngọc Thư vào khoảng đầu năm 1972, đã giới thiệu với tôi. Tôi để nguyên tên, và biểu dương cô qua lời một ông thợ già. Nó mới vào nghề. Vậy mà nó hàn thế nào, ông có biết không? Tôi đã quai vào mối hàn của nó đến 5 nhát búa cật lực, tuyệt nhiên không có một vết rạn. Bong lớp nhũ ra rồi, đường hàn mới đẹp làm sao. Chúng xếp lên nhau như vẩy cá chép, nét mềm và dịu lắm. Đúng là đường hàn của con gái. Thử hỏi thời Tây, có mấy thợ hàn giỏi đến như thế.

Vào khoảng tháng 2 hay tháng 3 năm 1972, một anh cán bộ Đoàn mỏ đã đưa tôi lên công trường gặp cô Thuỷ. Cô bỏ mặt nạ xuống, tiếp chuyện tôi chỉ có mấy phút nhưng đã để lại trong tôi nhiều ấn tượng đẹp, đến nỗi 5 – 7 năm sau, dù không một lần gặp lại cô, tôi vẫn tưởng tượng ra để viết về cô trong tập truyện này và trong 2 bài thơ ở tập Âm điệu một vùng đất. Đây là lời một anh thợ trẻ dẫn cô thợ hàn về quê, giới thiệu cô với mẹ mình, một bà mẹ già, mất mờ chân chậm, cũng do tôi tưởng tượng ra:

Chúng con gặp nhau ở Vùng Mỏ

Bạn con thợ hàn, con thợ gõ

Cùng một công trường nghĩa là rất gần nhau

Cách khoảng năm lần từ đây ra đến gốc cau...


Chúng con yêu nhau, mẹ có ưng không

Bạn con đấy rất là hiền, mẹ ạ

Biết têm trầu và biết khâu vá

Biết nấu canh cua đồng với rau mùng tơi...

Thợ gõ là thợ cơ khí gõ ghét cho bong rỉ sắt để sơn lại hay để hàn. Bây giờ viết lại, có thể tôi sẽ viết khác. Nhưng cái trong trẻo hồn nhiên của thời xưa, cái tận tụy gắn bó hết mình cho sự phát triển của mỏ, tự nguyện hoà toàn bộ cuộc đời mình vào những vui buồn của cả cộng đồng, sẵn sàng đổ đến giọt mồ hôi cuối cùng cho sự nghiệp của giai cấp công nhân, những phẩm chất ấy của cán bộ và công nhân Cọc Sáu thì nay chưa chắc tôi đã thuật lại được. Những năm gần đây, tôi vẫn lên tầng xuống moong với Cọc Sáu, cảnh vật đã khác, con người đã khác và cả cái không khí cũng đã khác lắm rồi. Cái lòng moong hùng vĩ và sôi động ngày nào:

Em hình dung cảnh này không

Đèn pha đan chéo xe vòng lên cao

Chính anh nào phải ai nào

Lái xe giữa một trời sao chín đầy...

:

Tưởng như những ánh đèn pha

Làm nên một giải Ngân Hà đêm nay …

Bây giờ cảnh trên công trường thưa vắng lắm. Có gì đâu, mỏ đã chuyển hướng khai thác sang phía Đông Bắc và đường kính của cái hình phễu cực lớn ấy phải nới rộng ra đến 4 km nữa. Cái lòng moong đã hoàn thành công việc của nó rồi, ở độ sâu 150 mét lộ thiên dưới mực nước biển. Ngày 11 tháng 3 năm 2005, Giám đốc Công ti than Cọc Sáu Nguyễn Quang Kiệm đã ban hành Quyết định 1148/QĐ-KTKT tạm dừng khai thác than ở đáy moong, sau 45 năm kể từ ngày mở mỏ, đã lấy lên 59 triệu tấn than cho Tổ Quốc. Vào lúc 18 giờ, ngày 13 tháng 3 năm 2005, tức ngày 04 tháng 02 năm Ất Dậu, một ngày trang trọng và tưng bừng thật đáng nhớ trong lịch sử phát triển của mỏ, hệ thống phà bơm ở đáy mỏ đã được tháo dỡ và khối bê tông lớn, kỉ vật gửi lại trong lòng đất sâu cho các thế hệ thợ mỏ tương lai, với những dòng chữ khắc chìm dát nhũ vàng: Công ti than Cọc Sáu, thành lập ngày 1-8-1960, các thế hệ cán bộ công nhân đã khai thác 59 triệu tấn than, tới độ sâu âm 150 mét, đặt trên bờ moong, đã được cánh tay gầu của một chiếc máy xúc lớn gạt xuống đáy mỏ. Với 59 triệu trong tổng số 60 triệu 200 ngàn tấn than khai thác trong suốt 45 năm, moong Tả Ngạn với đáy sâu là Động Tụ Bắc, chính là hiện thân lịch sử anh hùng của 14 ngàn lượt thợ mỏ Cọc Sáu. Những người nhận thẻ lao động những ngày này đều có số báo danh trên 14 ngàn, dù số thợ hiện nay ở mỏ Cọc Sáu là 4296 người.

Tôi nhớ vào một ngày rất trọng thể của năm 1975, chào mừng thắng lợi Giải phóng Miền Nam, Thống nhất đất nước, toàn mỏ Cọc Sáu sôi nổi bàn luận và hạ quyết tâm xuống moong, (tức là khai thác than lộ thiên xuống dưới mực nước biển) và dòng chữ vàng trên nền vải đỏ đầy khích lệ căng lên rực rỡ bên lề đường: Cứ đưa được máy xúc xuống sâu dưới không là mỏ chúng ta sẽ có tất cả. Dòng chữ ấy 2 năm sau trở thành tên 1 chương trong Trước mùa mưa bão của tôi.

Tất cả mọi cư dân của Cọc Sáu, từ đứa trẻ đang vào lớp học đến ông thợ già thời Tây, đều náo nức muốn góp sức mình cho bước phát triển mới, có tính đột biến này của mỏ và điều đó diễn ra hằng ngày ở mọi gia đình với những biểu hiện vô cùng giản dị, vô cùng tự nhiên như cơm ăn, nước uống và khí trời.

Ông tôi giãy nảy:

- Sao? Bố đi làm mà con lại phải ký đơn à? Lạ nhỉ? Ai sinh ra cái lệ ấy?

- ...

- Tao không viết

- Thế con không ký nhận thì sao giám đốc duyệt được và ai sẽ phân việc cho ông....

Lúc ấy, dường như ông mới chợt nhớ ra rằng, bố tôi là phó giám đốc, trực tiếp phụ trách toàn bộ công trường, kiêm quản đốc công trường xúc. Ông tôi cười khà khà, tiếng cười hồn hậu lạ. ông vui vẻ giục tôi:

- Cháu Tịnh, chữ cháu đẹp lắm đấy. Cháu thảo hộ ông cái đơn nào.

Tôi lấy tờ giấy to và sạch, rồi ngồi vào bàn học. Ông dõng dạc đọc:

- Tên tôi là Kiều Quang Tình, thợ gò hàn bậc bảy trên bảy (7/7) đã về hưu, sức còn khoẻ... - ông nhấn mạnh ba tiếng “sức còn khoẻ “, rồi quay lại hỏi bố tôi: - Này, có cần phải nói là tao không vui vẻ gì, khi nhận đồng tiền hưu không nhỉ?

  • Không cần – bố tôi đáp.

  • Nhưng rất cần - ông đọc tiếp - đi làm, để cùng với anh chị em khác, quyết đưa máy xúc xuống sâu dưới không, để mỏ chúng ta sẽ có tất cả...

  • Câu dưới dài dòng quá - Tôi nhận xét.

  • Dài cái gì? Xong chưa?

  • Xong rồi ạ!

  • Được! - Ông tôi ngắm nghía cái đơn một thoáng, có vẻ hài lòng lắm, rồi cầm cây bút của tôi, cúi xuống ký, rất là trịnh trọng. Chữ ký chỉ vẻn vẹn có một dấu + hay là tương tự như thế.

Những đứa trẻ sinh ra ở Cọc Sáu từ sau ngày đóng moong Động Tụ Bắc, 13/3/2005, lớn lên chắc chắn sẽ có đời sống vật chất và tinh thần cao hơn rất nhiều so với các thế hệ trước. Làm sao chúng có thể hiểu được trong hơn 30 năm trời, cha ông chúng đã phải vật lộn với bao nhiêu trắc trở khó khăn trong việc xuống thấp như thế nào để tự nâng cao phẩm giá của chính mình và của cả thời mình đang sống.

Moong đã xuống sâu đến 45 mét dưới mực nước biển. Nườm nượp xe xuống, xe lên, theo đường xoáy trôn ốc, tất cả đều nhỏ bé và sinh động lạ lùng. Vang rền trong moong là một âm thanh tổng hợp, ầm ầm, ào ào như ong vỡ tổ. Không thấy phà bơm ở chỗ nào. Cũng không thấy văn phòng công trường bơm, vừa được dựng lên, và cái bếp ăn của bà Tư Máy Xúc ở đâu. Tất cả bảng lảng trong sương khói lung linh…

Xe đã qua trạm điều vận đặt ở đầu đường xuống moong. Quay lại, tôi còn thấy những con số bật sáng long lanh trên bảng điện màu. Đã trông thấy những ống thép lớn – các cột nước của phà bơm – nằm ngổn ngang dọc một vệt tầng từ trên xuống. Không biết nó đã được vận chuyển như thế nào, trong địa hình rất dốc. Không thấy ông tôi ở đâu.

Xe đã xuống sâu. Vầng trăng đã khuất hẳn sau đỉnh núi cao bên kia bờ moong, ánh sáng âm âm như trong đêm nguyệt thực. Gió lùa vào cửa xe rà rà.

Xe dừng lại trước ngôi nhà mà ở tầng trên, tôi đã trông thấy như một quyển sách màu nâu. Đấy là văn phòng công trường bơm, vừa mới thành lập.

Tôi bước xuống xe và ông tôi cũng bất ngờ nhô ra từ phía sau ngôi nhà màu nâu đó. Suốt đời, có lẽ tôi không sao quên được cái ấn tượng lúc ấy, khi ông tôi đột ngột hiện ra trong ánh sáng chói ngời của ngọn đèn 500 oát bảo vệ cạnh văn phòng. Ông đội mũ lá, mặc áo khoác không cài khuy, vạt áo loà xoà, người như thấp hẳn xuống, đầu gối choãi ra, bước khệ nệ. Ông đang khênh một đoạn ống thép, to và dài, một mình ông khênh đầu, ở giữa có hai người, còn ba người khênh cuối... Lưng ông oằn xuống... Trông thấy tôi, ông quát luôn:

- Lui! Lui!

...

- Đêm nay, ông khênh ống thép à?

- Không. Ai mà khênh được. Máy nó kéo chứ!

- Cháu vừa thấy ông khênh đấy thôi...

- À, có một đoạn. Khi vần đi vần lại thế nào, nó lăn lệch xuống... Chả nhẽ lại phải điều đến một ca máy... Lích kích và tốn kém lắm.

- Ông khoẻ thật. Cháu trông mà phát khiếp!

Ông tôi cười khà khà...

Phía dưới ông là khoảng đất bằng đã đặt vỏ phà bơm, trông cao to như nền một ngôi nhà. Một chị che mặt nạ đang ngồi hàn, tôi đoán chắc là chị Thuỷ. Hoa lửa hàn tung toé, chói lói...

Ngày 22/12/2005, Cọc Sáu hoàn thành kế hoạch năm 2005 và tổ chức trọng thể lễ mừng đón tấn than thứ 3 triệu. Và để có 3 triệu tấn than, Cọc Sáu đã phải bóc 20 triệu 500 ngàn mét khối đất đá. Đây là năm có sản lượng than cao nhất, gấp đôi công suất thiết kế tối đa ban đầu của các chuyên gia Liên Xô (từ 1 đến 1,5 triệu tấn/ năm và dừng lại ở độ sâu âm 120 mét). Phó giám đốc Công ti Trần Công Cây nói:

- Những năm gần đây, bình quân mỗi năm, chúng tôi sản xuất 2 triệu 500 ngàn tấn than, bóc đất đá 14 triệu 475 ngàn mét khối. Từ nay đến 2010, chúng tôi sẽ lần lượt xuống sâu đến 210 rồi 255 mét hoặc hơn nữa dưới mực nước biển. Lại phải tính đến hệ thống phà bơm để xử lí: Ba phần nước trời một phần nước đất / Bơm phà không nhanh, máy ngập, như hai câu thơ anh đã viết cách đây mấy chục năm. Tỉ lệ bóc đất đá buộc phải chấp nhận cao hơn nhiều, từ 8 đến 10 mét khối cho mỗi tấn than. Như vậy mỗi năm, phải bốc hót đến 23 triệu mét khối đất đá. Rồi hoàn nguyên đất đai, bảo vệ môi trường...

Bây giờ về Cọc Sáu không phải ai cũng nhận ra rằng, văn phòng Công ti than chính là Nhà Điều dưỡng Công nhân xưa và quốc lộ 18A, đoạn chạy qua trước mặt mỏ Cọc Sáu, đã nằm sâu bên trong tầng tầng đất đá của bãi thải. Cả một vùng đất đai xanh tươi và trù phú bạt ngàn của Công ti than Cao Sơn hiện nay là một phần vịnh Bái Tử Long ngày nào. Cùng với khai thác than, những người thợ mỏ đã đào núi và lấp biển, thay đổi diện mạo của cả một miền đất.

Tôi biết trong thời gian tới, Công ti sẽ sắp xếp để cổ phần hoá doanh nghiệp. Như vậy một chặng đường mới sẽ lại bắt đầu. Cùng với việc hoàn thiện công nghệ khai thác phù hợp với tốc độ xuống sâu và mở rộng bờ mỏ, Công ti phải hiện đại hoá các thiết bị khai thác, đầu tư các loại xe ô tô có trọng tải lớn từ 8 tấn trở lên, các loại máy xúc có dung tích gầu lớn trên dưới 10 mét khối một gầu và đảm bảo thật chặt chẽ các chỉ số kĩ thuật an toàn lao động...

Tôi trở lại những dãy nhà từng là văn phòng mỏ Cọc Sáu xưa, bây giờ là nơi làm việc của Phân xưởng phục vụ với những thợ mộc, thợ nề... Tôi không nhận ra gian nhà nào tôi đã từng ở và viết nhiều bài thơ trong tập Âm điệu một vùng đất, và đặc biệt viết liền một hơi như bị thôi miên, để tập truyện vừa Trước mùa mưa bão khoảng 100 trang in, hoàn thành chỉ trong có 13 ngày, nhiều trang tôi đã viết trong nước mắt…

Chắc là ông đã nói riêng với mẹ tôi những điều gì đó khi bảo tôi ra ngoài. Lúc vào phòng, tôi thấy mẹ tôi nước mắt lã chã:

- Bố ơi, bố lẫn mất rồi!

Ông khẽ lắc đầu:

- Không, con ạ, bố không lẫn đâu! Bố nhặt được thằng Tính ở chợ Sắt, Hải Phòng. Bây giờ... Bố như vẫn còn trông thấy nó, mới chừng ba tuổi, đứng khóc thét ở góc chợ... Hình như mẹ nó đói quá, biết không thể nuôi nổi con… Chắc bà còn đứng đâu đó xem có ai đón nuôi con mình không?... Tiếng thằng Tính khóc chỉ còn khàn khàn không ra hơi... Rồi mẹ các con mất sớm... Mẹ con thương thằng Tính lắm, dặn bố không được nói với ai... Bố xin lỗi mẹ để nói với riêng con... Bởi bố muốn lòng mình... thanh thản... Bố hy vọng... biết đâu sẽ có ngày... vợ chồng con cháu con, tìm lại được gia đình...

Mẹ tôi nghẹn ngào, cố nuốt tiếng khóc. Còn ông thì đột ngột ngừng lời. Rồi ông lại lẩm nhẩm không biết nói những gì. Lần này, ông như đang nói với một người tưởng tượng, giọng ông thầm thì, xuýt xoa… Hình như ông đang nói với bà chăng?.... Ông mỉm cười rất lạ lùng, một kiểu cười vừa ranh mãnh, vừa ngây dại mà tôi chưa bao giờ thấy ở ông. Ánh mắt ông nhạt dần. Người ông vẫn nóng rực. Và ông gầy rộc đi rất nhanh.

Trong khoảng sáng mung lung của công trường, nhìn qua khung cửa sổ, tôi bỗng nhận ra bóng dáng của một người con gái, đang tất tả đi, gần như chạy gằn, về phía tôi. Đó là chị Thủy. Chị lao vào phòng, hơi thở hổn hển, mặt tái xám, không rõ vì mệt hay vì xúc động. Chị gọi ông một tiếng. Một tiếng rất nhỏ lẫn trong hơi thở. Vậy mà ông lại nhận ra. Hình như có một sức mạnh ghê gớm nào đó, trong tiếng gọi mơ hồ của chị, làm ông bừng tỉnh khỏi cơn mộng mị u ám và nặng nề. Ông bỗng quay đầu về phía chị rất nhanh.

- Ông ơi! Cháu đây mà. Cái Thủy đây! Cái Thủy đây!

Ông tôi chớp chớp mắt.

- Kỹ sư trưởng bảo cháu đến ngay báo cho ông biết. Ông có nghe được không?

Ông tôi khẽ gật gật, hay đại khái là tôi hiểu như thế.

- Máy bơm đã khởi động. Áp suất tăng vọt lên chín át-mốt-phe, mà khớp, đường ống và các mối hàn đều chịu được. Phà đã nổi rồi! Nổi rồi! Ông có nghe được không? Phà nổi rồi!

Ông tôi nhếch mép như cười. Gương mặt bỗng chốc phơn phớt hồng, như có một luồng ánh sáng hư ảo chạy qua, dưới làn da đã bắt đầu khô. Ánh mắt ông bừng lên những tia sáng cuối cùng, rừng rực, chói lói, sắc nhọn, cháy bỏng. Trong ánh mắt ấy, tôi nhận ra một niềm vui dịu ngọt trong lành mà tôi không thể nào diễn tả được.

Cũng lúc ấy, qua khung cửa sổ, tôi chợt nhận ra chiếc xe con quen thuộc của mỏ, và tôi nhìn thấy bố tôi, vẻ mặt lo lắng. Chiếc xe quay vào sân bệnh viện và dừng lại. Tôi vội kêu to:

- Bố !

Ông tôi bỗng nấc lên một tiếng, đầu ngửa hẳn ra…

Không biết đến bây giờ, sau 30 năm, đọc lại, những trang sách này, có còn làm bạn đọc cảm động được không ? Tất nhiên, những chi tiết đời sống dù có thực, những con người dù có để nguyên tên, tôi vẫn sáng tạo lại theo yêu cầu của nghệ thuật. Cũng có vài tình huống, tôi hoàn toàn hư cấu vì sự phát triển của cốt truyện, cần được bạn đọc cảm thông, nhất là những người trong cuộc…

Bất giác tôi ngẩng lên tầng. Bầu trời lại xanh màu lá mạ. Những đám mây mỏng nhẹ và trắng tinh như cánh của những con chim thiên nga huyền thoại từ 36 năm trước đã lại bay về. Và tôi như còn nhìn thấy bóng dáng thân thuộc của em, cô vẫy đầu đường, đã ít nhất một lần hiện lên trong một bài thơ của tôi năm 1970:


Đêm cưới cô vẫy đầu đường

lấy anh chàng lái xe bò tót


Rất nhiều hoa trong hội trường Vận Tải

Đèn 200 oát sáng choang

Những anh lái bò, những anh lái gấu

Đứng ngồi ngổn ngang …



Có anh ngạc nhiên thấy cô vẫy đầu đường

Đêm nay bỗng sao xinh đẹp thế

Vóc dáng cô hình như nhỏ bé

Một chút thôi

so với lúc thường


Với lúc cô đứng vẫy đầu đường

Cho các anh chàng dốc ben đổ đá

Bóng cô nàng in lên nền trời lá mạ

Tinh khiết như một câu ca dao...

Câu ca dao ấy, người huyện Thanh Hà, gần với quê tôi, huyện Nam Sách (Hải Dương) một thời hai huyện nhập làm một, có tên là huyện Nam Thanh, vì thế quen cô, vài lần tôi vào thăm nhà... Khi cô sắp thành lập gia đình, mẹ cô bóng gió hỏi tôi có ý định gì với em không?...

7 năm sau, tôi đến thăm lại, mới hay là em đã về quê chồng từ mấy năm trước rồi. Chồng em, anh chàng người xứ Nghệ, lái xe bò tót thân yêu của mỏ, đã tình nguyện đi B. chiến đấu, cùng đợt với anh hùng lao động Nguyễn Sên và nhiều người thợ mỏ khác, đi đặt đường ống dẫn dầu ở Trường Sơn. Bí thư Đảng ủy Mỏ nói với tôi: Chúng ta đã chiến thắng, nhưng hi sinh không ít đâu, trung bình có đợt, cứ 10 người đi vào Nam chiến đấu, thì chỉ có 1 - 2 người trở về sau ngày 30. 4. 1975. Chồng em có nằm trong số 1 - 2 người đó không?

Trong tập truyện của mình, tôi để nguyên cả họ tên của em là Phạm Thị Yến: Chị ít nói, tiếng nói nghe dịu và nhẹ. Mái tóc đen mềm của chị dài vừa chấm gấu chiếc áo xanh màu trứng sáo chị thường mặc và mô tả rất thật nơi em làm việc trong quầng sáng mờ đục của bụi, của ngọn đèn tái nhợt ở đầu đường và của các vệt đèn pha sáng quắc, quất ngang dọc vào mắt...


Bây giờ em ở đâu? Chẳng biết vào lúc nào, tôi đã nhận ra rằng: em cũng là một trong những Ngọn Lửa Than đã Day dứt cháy suốt cuộc đời giông gió trong tâm hồn tôi, gắn bó những trang viết và một phần cuộc đời tôi với mỏ Cọc Sáu...



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 21.5.2016.


VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004