Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới


Hát Trống quân làng Bùi Xá




Ngôi Làng Kinh Bắc Hồi Sinh




Ngày 15- 4- 2016. Sư cô Thích Giác Ân trụ trì chùa Linh Quang, thôn Bùi Xá, xã Ninh Xá, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh, mời chúng tôi về thăm chùa Linh Quang vừa được khôi phục sau 50 năm bị tàn phá. Và dự Lễ đón nhận Di sản Văn hóa phi vật thể Quốc gia hát Trống Quân làng Bùi Xá.

Ô- tô chúng tôi vất vả qua đường cái quan, nghênh ngang những xe tải chở hàng cồng kềnh, rẽ vào đường làng xã Ninh Xá, mênh mang cánh đồng lúa, tới thôn Bùi Xá. Lòng êm dịu lại, ngắm cảnh làng thôn xanh cây, hoa vườn. Và màu lúa xanh ngọc mơn man tắm nắng Xuân. Tôi thầm đọc thơ Hoàng Cầm:

Cúi lạy mẹ con trở về Kinh Bắc

Làng Bùi Xá, xã Ninh Xá là một trong những thôn làng nổi tiếng trong tập thơ Mưa Thuận Thành của Hoàng Cầm. Cúi lạy mẹ con trở về Kinh Bắc.

Thuận Thành là quê hương của Hoàng Cầm (1922- 2010) nơi toả sáng nền Văn hoá đồng lúa Kinh Bắc với dân ca quan họ ngọt ngào mềm mại như ánh ban mai vờn  sóng lúa vàng tươi. Khi cất lời ca những lứa hợp tình chuốt rơm bện ổ.

Nơi có kinh thành Luy Lâu, có chùa Dâu, dấu tích cội nguồn Phật giáo Việt Nam. Kinh Bắc là nơi phát tích nhà Lý, một triều đại đẹp nhất trong lịch sử dựng nước và giữ nước Việt Nam.

Hồn thơ Hoàng Cầm sáng hồn Đất và Người Kinh Bắc, mà nhà thơ tha thiết gọi ta về:

Em ơi buồn làm chi 

Anh đưa em về sông Đuống 

Khôi phục Linh Quang cổ tự làng Bùi Xá


Hôm nay, về Kinh Bắc, chúng tôi cảm nhận ngôi làng Bùi Xá cổ xưa Kinh Bắc, đang hồi sinh thoảng như mơ ước, trong thơ Hoàng Cầm.

Chùa Linh Quang, ngự giữa cánh đồng lúa mênh mông, long lanh mắt giếng gái quê Kinh Bắc, dầm Mưa Thuận Thành.

Sư cô Giác Ân đón chúng tôi trong cảnh chùa quê ấm áp. Hoa lá tươi màu, cây vườn, rau, quả, cỏ dại, đồng lúa biếc xanh bao bọc ngôi chùa.

Chúng tôi mê đắm ngắm cây hoa vườn, bao quanh ngôi Tam Bảo đang được khôi phục. Những bông hoa Hồng thơm lối cỏ. Hoa cúc vàng, tím, trắng, xanh. Hoa mộc thơm thanh tịnh. Hoa chua me đất. Hoa mướp, hoa bầu bí. Hoa cà chua. Giàn phong lan đơm nụ, nở hoa rừng. Chậu Mai Vàng Nam Bộ còn tươi những bông Mai Tết… Sư cô Giác Ân chăm trồng, tưới bón sớm hôm.

Vườn chùa trồng đủ loại cây quả của thôn làng. Sấu, ổi, nhãn, bưởi, na, xoài, hồng xiêm, chanh, cam, cây bưởi da xanh Nam Bộ. Những bụi chuối bao quanh vườn, ngăn vườn chùa với những ruộng lúa liền kề.

Chúng tôi lễ Tam Bảo vừa được dân làng Bùi Xá bảo nhau đóng góp phục dựng, sau 50 năm bị san lấp làm trang trại. Ngày 3- 10- 2012. Ngôi chùa Linh Quang khánh thành, trong niềm hoan hỷ của dân làng và Tăng, Ni, Phật tử gần xa.


Chùa Linh Quang linh thiêng hồn làng Bùi Xá


Sư cô Giác Ân mời chúng tôi dùng cơm chay cô nấu những món từ rau lá, quả, vườn chùa. Bầu luộc chấm tương, mát tình ngọt mẹ. Sư cô trầm tĩnh, nhẹ nhàng kể chuyện dân làng phục dựng ngôi chùa Linh Quang, mà cô có cơ duyên được trụ trì.

Dân làng không quên. Chùa Linh Quang làng Bùi Xá nhiều đời ngân nga chuông sớm, chuông chiều. Theo bia và di chỉ, chùa Linh Quang dựng vào thời Lê Thánh Tông. Là một trong số hơn 100 ngôi chùa thuộc xứ Kinh Bắc. Là một trong 188 di tích cổ của 705 làng Việt cổ.

Khoảng năm 1961- 1962. Nhằm bài trừ mê tín, dị đoan, chùa Linh Quang đã bị phá, làm trại sản xuất nông nghiệp. Toàn bộ tượng Phật, đồ thờ của chùa chuyển ra đình làng. Một số người mang di sản của chùa về nhà, gặp nhiều chuyện rắc rối, phải tự mang ra đình.

Trên đất nền chùa Linh Quang, hợp tác xã trồng cây, cây chết. Nuôi lợn, gà, bò… chúng đều chết. Cỏ dại cũng lụn bại không thể mọc.

Những người bị buộc phải cầm cuốc, xẻng phá dỡ chùa, đều gặp sự không lành, ốm đau, buồn bã, gia đình lục đục, con cháu bơ vơ…

Xung quanh chùa Linh Quang, ngày xưa có mấy cái giếng cổ rất rộng và rất sâu. Nước trong mát, ngọt bốn mùa. Có giếng được gọi là Giếng Tu. Có giếng dân làng dùng làm nước ăn, tắm, giặt. Nay các giếng đó đều bị lấp, trồng lúa. Một giếng trước cổng Tam Quan đang xây dựng, còn một nửa. Một nửa giếng đó, nay đầy nước. Nhiều lần dân làng lấp, đều sinh chuyện bất an. Mọi người không dám lấp nửa giếng này nữa.

Mới đây, dân làng kháo nhau rằng có một vài người khách du lịch, lặng lẽ về làng Bùi Xá, ra cánh đồng chùa Linh Quang, tìm giếng cổ. Không biết họ tìm giếng cổ để làm gì? Nhưng hồn làng quê Bùi Xá linh thiêng, không để những “khách lạ” được chạm đến mạch nguồn Đất Việt.


Hai ngôi tháp mới xây của chùa Linh Quang


Sư Giác Ân vào chùa tu học từ tuổi mười lăm, như lời hẹn tiền kiếp. Sư cô chăm học, chăm làm, theo các bậc thầy tu khổ hạnh. Hơn 20 năm vừa tu vừa học. Tốt nghiệp đại học Phật giáo, thạc sĩ Khoa học Nhân Văn, nay đang nghiên cứu TS. Phật học. Sư cô là Phó Văn phòng thường trực Ban Văn hóa Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam. Công việc bộn bề. Sư cô đi bằng xe máy, vẫn giữ phong độ bình an, thanh tịnh.

Hơn một năm, được trụ trì chùa Linh Quang đang phục dựng. Sư cô sớm tối chăm lo việc chùa. Thành lập đoàn Phật tử chùa làng. Tối nào bà con cũng ra chùa tụng kinh, học Phật Pháp. Tiếng tụng kinh Pháp Hoa, Phổ Môn, Dược Sư, tiếng mõ, tiếng chuông… vang ấm làng thôn.

Sư cô làm các hạng mục công trình phục dựng chùa Linh Quang đúng Phật Pháp. Chầm chậm. Cơ duyên Phật tử gần xa giúp làm dần.

Tri ân các bậc sư Tổ chùa Linh Quang. Sư cô Giác Ân tìm di chỉ, hài cốt của các cụ. Sư cô đã tìm thấy hài cốt của cụ Tổ Ni Thích Đàm Trang, và cụ Tổ Tăng Thích Thanh Di và đủ duyên xây hai tháp cho hai cụ trong vườn chùa Linh Quang.

Việc tìm hài cốt của Tổ Ni, có con cháu cụ hiện đang ở làng Bùi Xá ghi nhớ, chỉ dẫn. Còn cụ Tổ Tăng. Không biết hài cốt của cụ nơi nào?

Sư cô khấn nguyện xin cụ Tổ Tăng “Khi nào tìm được hài cốt của cụ, con sẽ xây tháp cho cụ sau”.

Linh thiêng thay. Ngày bốc mộ cụ Tổ Ni, chuyển vào tháp mới xây, bỗng phát lộ bộ hài cốt của cụ Tổ Tăng, đặt bên cạnh. Thì ra, khi phá chùa, dân làng đã thành kính, đặt hài cốt hai cụ, ở một góc vườn chùa Linh Quang.

Dân làng Bùi Xá hoan hỷ bởi sự linh hiện bất ngờ ấy. Họ lập tức góp tiền, góp công, xây ngay ngôi tháp chuyển cụ Tổ Tăng cạnh ngôi tháp cụ Tổ Ni, nơi một nửa cái giếng chùa bị lấp. Còn lại nửa giếng đầy nước không ai dám lấp.

Dân gian Việt ngợi ca, giếng thiêng, ao thiêng, đất thiêng, cây lá, hoa quả thiêng, chùa làng thiêng… giữ Hồn thiêng dân tộc là như vậy.


Tiếng hát Trống Quân làng Bùi Xá


Ngôi làng cổ Bùi Xá, xã Ninh Xá, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh có Nghệ thuật hát Trống Quân cổ truyền của xứ Kinh Bắc được dân làng hát đến ngày nay.

Hát Trống Quân là ca hát giao duyên của người dân ở đồng bằng Việt Nam, từ Thanh Hóa trở ra..

Khi hát Trống Quân có trống dẫn nhịp. Trống này gọi là Trống Đất hoặc "Trống thùng".

Trống Đất được sáng tạo độc đáo. Hai cọc được cắm ở hai bên, một bên cọc là phe nam, một bên cọc là phe nữ đứng (hoặc ngồi). Một sợi dây thừng được buộc vào hai cọc, chính giữa sợi dây đặt một cái thùng, mặt rỗng úp xuống một hố đất nhỏ, mặt đáy trên sát sợi dây.

Người hát gõ vào đầu dây ở phía cọc, dây bật vào đáy thùng mà kêu thành tiếng. Trống Đất làm bằng hai cọc tre cao khoảng 1 mét và một thanh tầm vông gác ngang. Giữa thanh tầm vông, đặt một thanh tre vuông góc, một đầu chống lên một miếng ván mỏng, được đặt hờ trên một hố đất nhỏ. Khi đối đáp, bên nào hát dứt câu, thì đánh vào Trống Đất (là phần dây nơi đầu cọc hoặc đầu thanh tầm vông) để làm nhịp "Lưu không", vừa giục phe bên kia hát đáp lại.

Về âm nhạc, Trống Quân là một làn điệu gần với tiếng nói. Lời ca nôm na thơ lục bát. Mỗi lần hát, có thể dài ngắn khác nhau, nên giai điệu biến đổi theo dấu giọng. Trống Quân lấy đối lời, làm chính và được diễn xướng ở tốc độ nhanh vừa, lời ca chỉ có vài tiếng đệm, tạo hình thành giai điệu như: thời, có mấy, hời, ư, này, rằng, chứ...

Ước gì (thời…) anh lấy được nàng thì anh (này…)

Mua gạch (ấy…) Bát Tràng đem về xây (ư…)

Xây dọc (thời…) anh lại xây ngang (chứ…)


Hát Trống Quân ở làng Bùi Xá, có từ thế kỷ thứ XIII, triều Trần. Hát Trống Quân Bìu Xá cùng với một số gánh hát như Bá Đạt (Vĩnh Phú), Dạ Trạch (Hưng Yên) đã từng nổi tiếng khắp kinh thành Thăng Long. Được vua Trùng Quang đời Trần, mời về kinh thành hát cho vua nghe.
Ngày xưa đêm đêm, đám hát Trống Quân trong làng Bùi Xá say mê mời gọi trai gái khắp vùng. Hát Trống Quân không cầu kỳ như quan họ. Lời hát ngẫu hứng nôm na điệu thơ lục bát. Tiếng hát Trống Quân thâu đêm tới sáng, râm ran từ trong làng ra ngoài đồng. Hát Trống Quân cho hai bên nam, nữ hát đối, thoải mái thành duyên vợ chồng. Hát Quan Họ, liền anh, liền chị cùng một làng, khó lấy được nhau.


Câu Lạc Bộ hát Trống Quân làng Bùi Xá


Sự vui sống làm ăn, sinh hoạt văn hóa, nét tài hoa của dân làng Việt Nam đều gắn với ngôi chùa làng. Đất vua chùa làng. Sư cô Giác Ân gần gũi với Phật tử, tham dự các hoạt động Văn hóa, Xã hội, Kinh tế, môi trương thiên nhiên của dân làng Bùi Xá.

Sư cô Giác Ân mời Phật tử khắp nơi về dự Lễ đón nhận Di sản Văn hóa phi vật thể Quốc gia hát Trống quân làng Bùi Xá.

Những cặp vợ chồng nghệ nhân hát Trống Quân làng Bùi Xá, nhớ da diết tiếng hát Trống Quân, cho họ nên vợ chồng. Mê tiếng hát của nhau, mà gắn bó yêu thương nhau đến đầu bạc răng long. Hơn 20 năm qua, họ thành lập CLB hát Trống Quân, cùng nhau hát như thời trẻ, và vào trường học, dạy con cháu hát.

CLB thường xuyên luyện tập, trẻ già hát vui, sưu tầm được hơn 100 bài hát Trống Quân cổ. Họ làm sống lại di sản hát Trống Quân làng Bùi Xá và hồn quê Kinh Bắc.
Cụ Phạm Công Ngát, 88 tuổi, nghệ nhân hát Trống Quân cao tuổi nhất hiện nay, ở làng Bùi Xá. Nhà cụ bốn đời theo gánh hát Trống Quân, nay cụ hết lòng truyền dạy con cháu trong làng hát.
Ông Lê Bá Bạo, Chủ nhiệm CLB Trống Quân Bùi Xá cho biết thành công của Trống Quân Bùi Xá là những nghệ nhân Bùi Xá đã sáng tạo khi đưa hát Trống Quân dân gian lên sân khấu.


Nem làng Bùi thơm bàn tay Kinh Bắc


Ngày nay, trên internet tưng bừng các bài và ảnh ngợi ca hát Trống Quân làng Bùi Xá và Đặc sản Nem làng Bùi Xá thơm ngon, làm từ thịt thăn và phần mỡ thăn, của giống lợn ỉ đen, được dân làng Bùi Xá nuôi bằng cám nấu với bèo, rau lang truyền thống.

  Đặc sản Nem Bùi thơm hương của thính gạo và sự khéo léo, tài hoa, bàn tay thái thịt mòng đều, ướp trộn tỏi, ớt, dấm, thịt lợn sạch, đủ nạc bùi, bì lợn dai dẻo, mỡ béo, gói lá chuối… hấp dẫn du khách từ xa. Vị bùi bùi của bì lợn quyện trong thính. Vị ngọt tự nhiên từ thịt nạc ba chỉ và nạc vai, vị béo mát dịu của mỡ thăn, và các loại gia vị, được ủ chín, ăn kèm với lá sung và lá đinh lăng, ăn lai rai, không chán.

Những năm gần đây, dân làng Bùi Xá khôi phục nghề làm nem làng Bùi của cha ông, bán khắp nơi. 

Nem làng Bùi trở thành món quà quê được người trong và ngoài nước ưa chuộng. Nhiều cơ sở sản xuất lớn, đưa nem Bùi sang các nước như Pháp, Đức, Nhật… tặng những người con đất Việt thưởng thức hương vị quê hương.


 Người biết đủ dù nằm trên đất vẫn an lạc


Sư cô Giác Ân chăm trồng cây hoa, quả vườn chùa Linh Quang làng Bùi Xá, Kinh Bắc, gửi đến Phật tử gần xa lời dạy, bảo vệ môi trường của Đức Phật.
Trong bài Phật giáo với môi trường sinh thái (vanhoaphatgiaovietnam.vn) sư cô Thích Giác Ân viết:

Tất cả những hư hỏng về sự suy thoái tầng ôzôn, sự biến đổi khí hậu trên trái đất làm tăng nhiệt độ, tăng tai nạn do thiên tai, giảm sức đề kháng của cơ thể… tất cả những vấn đề đó đều xuất phát từ tâm niệm xấu ác, trục lợi quá mức của con người.

Môi trường bên ngoài bị ô nhiễm trầm trọng cũng chính vì môi trường trong nội tâm con người hư hỏng nặng. Lòng tham của con người không bao giời biết dừng nghỉ cho nên nó đã thúc đẩy con người thụ hưởng quá mức nhu cầu cần thiết và kéo họ lao vào cuộc tranh giành bất tận, đưa đến tiêu diệt lẫn nhau, tàn phá môi trường sống của mình.

Trong khế kinh Đức Phật dạy: “ Tri túc chi chân, tuy ngoạ đạ thượng du vi an lạc, bất tri túc chi chan, tuy xứ thiên đườngdiệc bất xưng ý”. Nghĩa là: Người biết đủ dù nằm trên đất vẫn an lạc, trái lại, người không biết đủ dù ở trên thiên đường vẫn không vừa ý”.

Sau 50 năm ngôi chùa Linh Quang được phục dựng. Sức sống của ngôi làng Bùi Xá cổ xưa Kinh Bắc hồn hậu tình người, vô lượng Nhân Tâm Phật, giúp sư cô Giác Ân vượt khó. Lên Hà Nội làm Phật sự, chiều tối, sư cô lại đi xe máy gần 40 km, về chùa Linh Quang thân thương của mình.

Tiễn chúng tôi về Hà Nội, sư cô Giác Ân tặng

Đặc sản Nem Bùi”. Sư cô nhiệt tình quảng bá món ăn dân dã của vùng Kinh Bắc mang hương vị đồng quê.

Chúng tôi hoan hỷ khi nhận ra sự tu và hành Đạo của các Tăng, Ni chân chính thời nay, gắn bó với đời sống, sinh hoạt hằng ngày và môi trường sống của dân làng và Phật tử.

Đưa Phật Pháp và Văn hóa Phật giáo Việt Nam đến từng người, từng nhà, từng góc phố, bờ ao, thôn cùng, xóm vắng, qua các hoạt động của Dân, là cách tu, mà Phật Hoàng Trần Nhân Tông dạy chúng ta. Phật tại Tâm.

  Về Kinh Bắc phải đâu con nghẹn khóc

Hôm nay về làng Bùi Xá thăm Ngôi Làng Kinh Bắc Hồi Sinh. Tôi thoảng nhớ, thoảng quên, thầm đọc thơ Hoàng Cầm:

Về Kinh Bắc phải đâu con nghẹn khóc

Tập thơ Mưa Thuận Thành của Hoàng Cầm toả Ánh sáng linh diệu về Thiên nhiên, Văn hoá, Tình yêu, Tình người Kinh Bắc. Đặc biệt là không gian thiêng liêng đình, chùa, miếu, đền thờ… Thơ Hoàng Cầm, hình như không thiếu một ngôi chùa, mái đình nào của Kinh Bắc: chùa Dâu, Bút Tháp, Pháp Môn, Phật Tích, Đền tám vua triều Lý, Đền Cổ Loa, Miếu Hai Cô, Đình Lim, Đình Bảng…

Và các làng quan họ, làng nghề, làng trồng dâu nuôi tằm, ở quê Kinh Bắc hiện lên trong thơ Hoàng Cầm, sáng bảy sắc cầu vồng với đủ Tinh hoa, tài trí, của ngon, vật lạ, hương thơm, người hiền: gấm Song Cầu, tranh Đông Hồ, gạch Bát Tràng, chợ Hồ, chợ Sủi, làng Sim, làng Cháy, cầu Lim, Nội Duệ, ếch Quế Dương, sáo sậu Phù Ninh, bưởi Nga My, trai Cầu Vồng Yên Thế, gái Nội Duệ, cầu Lim và các phường quan họ: phường Lim, phường Nội, phường Tam Sơn, phường Núi Dạm, Núi Chè…

Theo “ngũ kinh tương khắc” Kinh Bắc là một thế giới vận động của con người cùng vũ trụ gồm đủ năm tố chất: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ. Năm tố chất này, tương sinh, tương khắc, nhưng lại thống nhất, hoà hợp. Song trong vũ trụ thơ của mình, Hoàng Cầm ca ngợi yếu tố “sinh”, và đau đớn, khắc khoải trước yếu tố “khắc”, huỷ diệt sự sống của con người, vạn vật, thiên nhiên.

Trong cái nhìn xuyên lịch sử của nhà thơ, Kinh Bắc là một vùng đất đai trù phú, sản sinh một nền văn hoá đồng quê Kinh Bắc, từ sự tích, cổ tích, đến lịch sử, nghệ thuật, điêu khắc, kiến trúc, con người vui sống trồng cấy, làm ăn, yêu thương, hồn hậu.

Nhưng Đất và Người Kinh Bắc chịu nhiều cơn sóng gió, bão lửa, sấm sét của thiên nhiên, của lòng người, của chiến tranh, ly loạn… tàn phá sự sống muôn loài, muôn người, làm cho thơ Hoàng Cầm tràn tuôn nước mắt.

Hoàng Cầm về Tiên cảnh đã sáu năm rồi. Hôm nay, về làng Bùi Xá, Kinh Bắc tôi lắng nghe cây hoa trái, mái chùa, thức ăn ngon ngọt, tài hoa, tâm hồn Kinh Bắc… đang cựa mình hồi sinh. Xin dâng Anh linh nhà thơ Hoàng Cầm những bông Hoa Hồng thắm tươi, thơm thanh tịnh của chùa Linh Quang làng Bùi Xá, Kinh Bắc. Cầu hồn Thi sĩ Kinh Bắc bay bổng cõi Niết Bàn.

Hồ Gươm tháng 4- 2016.

Bài đọc thêm:

Hoàng Cầm- Hồn Thơ Ánh Sáng (Mai Thục- Việt Văn Mới)



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 13.5.2016.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004