Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





GÓC LÀNG









Chương IV




T hằng bố Cả lại đập mất cái điếu bát. Đã nghiện thuốc lào mà đập điếu, rồi cũng tốn tiền mua cái khác thôi. Người đời nói rồi. “Nhớ ai như nhớ thuốc lào. Đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên”. Giận vợ, giận con, cứ phải đập thứ gì mới hả dạ. Tính y như ông bố ngày xưa. Dâu với chả con. Ta già rồi, không còn bênh vực mày được nữa. Bố thằng Cu chỉ gạt nhẹ một cái là ta ngã văng, lỡ có đập đầu xuống đất, chết, mang tiếng cho con trai bất hiếu. Nhưng mà cái kiểu mày vô cớ đi đánh ghen với nhà cô Xuân, ai cũng chê trách. Chồng mình đường đường là cán bộ xã, gánh vác việc dân, việc nước. Gia đình chồng là gia đình liệt sĩ. Mày làm thế còn hơn bôi gio trát trấu vào mặt chồng. Nó đánh cho là phải. Nhưng đập cái điếu bát là sai. Ba hào bảy một cái điếu, ta mua cho nó từ tiền thừa ra khi bán đôi lợn sề cưới mày về. Ta thương con trai thì cưới mày, chứ sư thầy trên chùa nói hai tuổi không hợp. Giáp Tý với Bính Dần, vợ chồng thì ăn ở với nhau trọn đời, có phúc thì giàu sang, vô phúc thì khổ. Phải chịu nhiều thành bại lắm. Tính tình không hòa hợp, do người vợ cục cằn, hao tài, phá của. Giờ có hai mặt con rồi, thấy sư thầy nói quả là đúng.

Năm Mậu Tý, bố Cả đi bộ đội chống Pháp được ba năm thì tìm về. Lúc đi thì trốn chui, trốn nhủi. Khi về làm ra vẻ ta đây cho dân làng biết oai. Hôm ấy, ta với thằng Danh, hai mẹ con lúi húi làm cá. Thằng Danh tát cái chuôm ở đồng dưới, bắt được bốn con cá quả đen trũi, con nào con nấy to bằng bắp chân, lại cả một dành trôi, mè, trê, trắm. Thằng Danh nhốt mấy con cá quả vào chum nước.

- Mai chợ phiên. Bốn con này cũng đổi được dăm đấu gạo bầm ạ. Món cá tạp này, chắc ăn nửa tháng mới hết. Để con gửi cho chị ba, chị tư mỗi người một nồi. Anh Cả mà ở nhà, chắc thích lắm. Anh ấy mê cá trê om mẻ.

Cái miệng không muốn, mà lại chẹp chẹp hai tiếng. Mày nói làm bầm thêm rối ruột. Anh mày đằng đẵng sa trường, nằm sương, dãi gió, hòn tên mũi đạn. Nghe năm ngoái trên Việt Bắc, Việt Minh đánh nhau với quân Pháp to lắm. Nó đi chẳng nhắn cái tin về, chẳng biết sống chết thế nào? Ở nhà ăn miếng cơm cũng không ngon. Ngoài cổng làng, chỗ gốc đa tám cội, lóc cóc vó ngựa. Quái! Ông chủ đồn điền họ Trương đi Nam rồi mà. Đất này giờ của Việt Minh, ông chủ về làm gì? Cả tổng này, chỉ một mình ông chủ Trương mới có con ngựa trắng, còn ai vào đây. Tiếng vó ngựa dội vào núi Cóc, hướng về núi Nà Rậm đã gần nhà mình. A di đà Phật! Chẳng lẽ ông chủ Trương không biết chồng tôi đã chết mấy năm nay? Chết vì cờ bạc đấy ông ơi! Tiếng vó ngựa nghe quen thuộc quá. Ngày trước, mỗi lần tiếng ngựa lóc cóc ngoài cổng, là y như rằng, ông chủ Trương tới rủ ông nhà mình đi đánh bạc.

- Mở cổng nào! Nhà đi đâu hết rồi?

- Ối mèo ơi! Thằng ...mèo. Thằng Cả.

Không cần quay ra, ta cũng biết là thằng Cả. Còn thằng Danh, ngẩn người một lúc mới chạy bổ ra cổng, miệng kêu toáng lên:

- Anh Cả! Anh Cả! Hu hu....anh ơi!

Thằng út Lượng run như cầy sấy, đứng nép góc cửa nhìn ra.

Cổng tre cọt kẹt chống lên. Cái mồm ngựa đầy bọt trắng, phì hôi hám vào mặt Danh. Con ngựa nâu không chịu bước qua cái cổng hẹp, nó lúc lắc đầu, hai chân trước cào cào khó chịu. Thằng Cả nhảy xuống, ôm lấy thằng em cao nghều.

- Sắp lấy vợ rồi mà còn mau nước mắt. Tránh đường, cho anh dắt ngựa vào. Thằng út đâu? Bầm có khỏe không?

Ôi chao! Chỉ cần nghe tiếng nói trầm ấm của nó, ta nở từng khúc ruột. Thằng Cả của bầm đấy ư? Mày khác quá! Đúng là đi cách mạng, khác quá. Thằng Danh trố mắt nhìn anh, tay vuốt vuốt cái cầu vai, sờ nắn hộp gỗ đeo bên thắt lưng:

- Có phải súng không anh Cả?

- Ừ! Súng pạc- họoc đấy!

- Cho em bắn thử phát!

- Không được! Nổ súng bây giờ, địch nó kéo đến thì chết.

Ta ngắm thằng con trai, thấy nó hùng dũng lạ thường. Bộ quân phục màu ka ki vàng, giày cao cổ, mũ chào mào. Đẹp ơi là đẹp. Con ngựa buộc ngoài gốc mận hí vang, lại cào cào chân trước. Thì ra thằng cu út chạy ra đứng trước đầu ngựa.

- Này! Chú kia, có biết ta là ai không?

- Cháu chào bác ạ!

Cha bố mày! Anh Cả đấy, anh cả nhà mình đấy. Lúc anh đi khỏi nhà, chú mày sáu, bảy tuổi, phải nhớ mặt chứ. Sao lại chào là bác? Con ở nơi nào về hở cả? Con từ Đèo Cả sang, ghé thăm bầm một tẹo, rồi phải đi Thu Cúc, rồi sang Hòa Bình. Con đi đánh giặc, khổ nhưng mà vui. Năm ngoái, làm cái chiến dịch Việt Bắc, quân Pháp chết gần bảy trăm đứa. Tù binh hàng lốc nhốc hơn trăm thằng. Vui lắm bầm ạ. Bên ta chỉ có năm chục tử sĩ. Ta hốt hoảng. Năm chục người chết mà nó nói “chỉ có”, giời phật ơi.

- Còn cơm nguội không bầm? Con xin bát rồi đi kẻo tối.

Bất ngờ, lòng ta héo hon. Nhà vừa hết gạo, định ngày mai bán cá rồi đong mấy đấu về độn thêm sắn. Ta giục thằng Danh chạy đâu vay nóng lấy đấu gạo, nấu cho anh mày bát cơm nóng. Thằng Danh thò tay vào chum, bắt ra con cá quả to nhất, quật xuống đất.

- Không phải vay mượn gì cả. Để con nhổ sắn, nấu nồi cháo cá cho anh cả ăn một bữa.

Không ngờ thằng Cả hưởng ứng.

- Hay đấy! Chú đi nhổ sắn, để anh làm cá. Chú Lượng! Chạy ra vườn kiếm nắm rau thanh hao với tía tô. Nhanh lên!

Cả nhà tíu tít như có cỗ. Tiếc quá, hai con em nó lấy chồng làng khác. Nếu không, được gặp anh, đủ mà khóc vì mừng. Sắn tươi bóc vỏ, băm kiểu quân cờ, nấu sôi lục bục một lúc là bở nát, lúc ấy mới thả từng khúc cả quả vào, đậy vung đun một hồi nữa. Lửa reo ù ù, củi tre cháy phừng phừng. Chiếc nồi đất nung nhấp nhổm trong lửa, nắp vung lật bật, bọt trắng trào ra cùng mùi cá ngầy ngậy. Nhúm nắm muối nêm xong, chiếc đũa cả khoắng một hồi vòng quanh, sắn và thịt cá tan vào nhau, nửa trắng, nửa đen.

- Nhắc nồi ra đi con! Nhẹ tay không vỡ nồi là hốc xơi đấy.

Thằng Cả xoa tay, miệng sụt sịt thèm ăn. Thằng Danh cẩn thận đặt nồi cháo lên chiếc nọn rơm cuốn làm rế, đen thui nhọ nồi.

- Nào! Ăn cơm thôi! Ấy chết! Anh cả đưa em nắm rau thì là. Không có món này, mất ngon.

Rau thì là, tía tô thái nhỏ, rắc lên nồi cháo, bốc mùi thơm ngào ngạt.

- Có quả ớt hiểm nữa thì ngon!

Thằng cả vừa thổi phù phù, vừa húp cháo. Nó theo Việt Minh, quen cả ăn ớt. Người ta nói ở rừng, ăn nhiều ớt không bị ngã nước. Nhà mình có ai ăn ớt mà trồng hở con. Để mai bầm đi chợ, mua cho mấy xu. Thằng cả đang mút chùn chụt cái đầu cá, xua tay.

- Tí nữa con phải đi, chờ thế nào được. Để lần khác con xin nghỉ mấy hôm, bầm ạ.

Tiếng ngựa hí ngoài sân. Nãy giờ, đám cỏ gấu xung quanh gốc mận bị con ngựa vặt trụi. Có tiếng người í ới.

- Bà Mèo ơi! Cho cháu xin nắm lá bưởi.

Quay ra, đã thấy cô Xinh, con gái địa chủ Xung cầm nón quai thao bước vào.

- Mời cô xơi cơm ạ! Cô xin lá bưởi làm gì thế?

- Cháu nấu cho đẻ cháu nồi nước xông. Ối giời! Nhà ta có con ngựa đẹp ghê này. Y như ngựa của của cụ Trương đồn điền. Chắc của anh Hoành chứ không ai!

Thằng cả buông bát, bước ra chào hỏi.

- Cô Xinh! Mấy năm nay lớn quá, lại xinh đẹp ra. Cụ chủ có khỏe không cô? Nhà ta còn ủ men chứ?

Cô con gái nhà địa chủ má đỏ dựng, chết đứng như Từ Hải. Cô thấy nó khác lắm hử! Nó còn giống thằng ở trong nhà cô mấy năm trước không? Chả thèm nói ra, chứ hồi nó trốn theo Việt Minh, cha cô còn quỵt năm hào bảy tiền công đấy. Tiền của ăn núi cũng sập, nhưng con ta còn khỏe mạnh trở về, bằng cả núi bạc nhà cô, giàu nứt đố, đổ vách mà chỉ có bốn mụn con gái.

Xin nắm lá bưởi xong, cô Xinh lễ phép chào ra về, mắt không quên liếc nhìn thằng cả lần nữa. Mắt cô ấy đen hạt nhãn, hiền lành. Chẳng bù cho cô chị, ra đường mặt vác lên ngọn tre, coi người làng như rác. Từ ngày làng Nà Rậm trở thành vùng tự do, hai cô chị bỏ ra vùng tề buôn bán, cô Xinh và cô út ở lại trông nom ruộng nương cho gia đình. Giờ không nuôi người ăn, kẻ ở, nhưng công việc trên rừng, dưới ruộng nhà ông Xung vẫn thuê công nhật, hoặc theo thời vụ. Nhà có nghề ủ men, hai cô con gái quấn vào việc ấy đã hết ngày. Thằng cả ở đợ cho địa chủ Xung từ năm mười sáu tuổi. Đủ việc. Chăn bò, cày ruộng, đem vại sành, nồi đất đặt quanh chợ Lim để hứng nước tiểu, rồi pha loãng gánh lên đồi tưới cho cây sơn. Hơn bốn năm ăn ở trong nhà ông Xung, thằng cả vẫn khen cô Xinh tử tế, phúc hậu với kẻ ăn, người ở. Những hôm cuốc hố trồng sơn trên đồi xa, buổi trưa cô đem cơm ra cho thợ, bao giờ cũng dấm dúi thêm khúc cá hay ấm nước vối đậm.

Thằng cả lại chuẩn bị súng ống, yên ngựa lên đường. Ta muốn giữ con ở lại, nhưng nghĩ đất nước giặc giã, phải để cho nó thỏa chí nam nhi. Nó còn hát cho hai thằng em nghe, hẹn khi nào về ngang, sẽ dạy cho chúng thuộc bài này.

Bao chiến sĩ oai hùng

Lạnh lùng vung gươm ra sa trường

Quân xung phong, nước non đang chờ...

Ta nghe mà cũng xốn xang trong lòng. Ngày xưa bà Trưng, bà Triệu còn xắn váy quai cồng, cầm quân đánh giặc. Nay quân Pháp đến, con trai đi trận, mình níu chân nó làm gì. Lúc thằng cả ra khỏi nhà, cô Xinh đón đầu nó ở gốc đa tám cội. Chuyện ấy mãi sau này ta mới biết, khi cô Xinh chịu về làm dâu nhà nghèo. Chẳng biết chúng hẹn hò gì với nhau, mà ba tháng sau, thằng cả ghé qua nhà, xin ta mang trầu cau đi hỏi con gái ông chủ cũ.

- Ối con ơi! Đũa mốc chòi mâm son. Ai người ta gả con về nhà mình. Bầm chả dám đâu.

- Thì bầm cứ sang một lần cho con đi. Không được thì thôi.

Nó ép quá, mình phải nhờ ông Lực trưởng tộc thay mặt nhà trai, đi hỏi cô Xinh. Thời chiến, mọi sự đều phiên phiến. Không ngờ ông Xung đồng ý ngay, lại còn cho vợ chồng thằng cả cặp bò làm của hồi môn. Với thằng cả Hoành, bốn năm ở trong nhà, chắc ông ấy hiểu rõ tính nết, sức vóc thằng bé. Cưới vợ xong, thằng cả đi một lèo, mãi năm 1953 thì giải ngũ, mới biết mặt thằng con trai đầu lòng. Lúc ấy nó bảo sức khỏe yếu nên xin giải ngũ, nhưng lý do chính là tránh cuộc học tập “Cải cách ruộng đất” ở đơn vị, vì lấy vợ là con địa chủ. Mấy năm làm căng thẳng quá, dân nghèo thì được chia ruộng, nhưng xóm làng nháo nhác cả lên vì đấu tố. Dân rừng núi mình thật thà, chân chất, nên cũng chẳng có gì ghê gớm lắm. Thằng cả về địa phương đúng lúc, vừa tránh được cảnh kiểm điểm, khai báo ở đơn vị, vừa cứu được ông bố vợ. Đợt đầu, đội cải cách xếp ông Xung vào diện đầu tiên xử thí điểm. Anh con rể khôn ngoan ngầm vận động những người trước cùng làm mướn cho nhà ông Xung không ra mặt đấu tố. Có người còn mạnh dạn đứng ra thưa với đội rằng, ông Xung chỉ là trung nông lớp trên, có chút ruộng đất nên phải thuê mướn nhân công. Năm Dậu, không có mấy bồ thóc của nhà ông cứu tế, thế nào làng Nà Rậm cũng có người chết đói. Cuối cùng, ông Xung chỉ phải chia hơn hai mẫu rừng, ruộng cho tá điền. Đàn bò trước đó ông đã ủng hộ cho Việt Minh, còn giữ được ngôi nhà lá năm gian và nghề ủ men rượu. Thằng cả về nhà, mất mấy năm lủi thủi ruộng vườn, thêm nghề nấu rượu lấy hèm nuôi lợn. Hình như sau có sửa sai gì đó, mới được Ủy ban kháng chiến hành chính gọi ra làm ủy viên quân sự.


* * *


Dù trong lòng đang sôi sùng sục vì giận vợ, mình không thể thất hứa với đội trưởng Thọ. Nồi rượu cất xong từ ba hôm trước, hôm nay là chủ nhật. Không hiểu do men tốt hay là rượu biếu, mà mẻ này ngon hơn những mẻ khác. Chai rượu đầu pha với chai thứ ba, thứ tư mà rượu chắc lắm. Nhấp tí mà nóng từ cổ họng nóng xuống.

Ba con chó đen hay ba con gấu, hung dữ nhe răng, sủa ông ổng. Bà vợ đội trưởng thấy mình đứng trước ngõ thì chạy ra, miệng cười với khác, nhưng lại mắng mấy con chó.

- Hư nào! Đi vào trong kia! Bác Hoành sang chơi. Cha mẹ ơi! Tôi đang định chạy sang hỏi thăm chị ấy. Sao lại dây vào đám hủi làm gì. Cái con trăm thằng ấy, dính vào chỉ thêm xấu mặt. Thật với bác, hôm ông Thọ đi đào hầm giúp nhà nó, tôi định cấm tiệt, thấy bác cùng đi tôi mới đồng ý đấy. Giời ơi! Ầm ĩ cả xóm, chẳng ra thế nào. Phải như tôi, giữ chồng cho chặt, không việc gì phải đánh xé nhau ngoài đồng cho thiên hạ đàm tiếu.

Vừa dẫn khách vào nhà, miệng lưỡi mụ già cứ thơn thớt, đai mãi ra. Hỏi thăm mà bằng chửi bố người ta. Thôi đi bà. Giấu ông chồng ở đâu gọi ra đây cho tôi. Cũng nói thật với bà, hôm nay tôi đang buồn bực, sang kiếm bạn tâm sự đây. Có gì cho anh em tôi uống chén rượu mới nấu. Rượu tôi nấu đấy, chẳng giấu diếm gì. Nấu cho lão Thọ uống, giữ sức khỏe mà chỉ huy đội sản xuất, chứ uống mãi thứ rượu chanh quốc doanh, toàn cồn chứ báu gì. Đội trưởng chui ra từ trong bếp. Hôm nay lão có vẻ hùng dũng, không thấy e dè cái mặt vợ.

- Đúng hẹn nhẩy! Tớ rang lạc rồi.

- Tôi muốn sang ông từ sớm, sợ ông chưa dậy. Rượu đây! Nồi này may không khét, uống được. Hôm nay râu mọc ngược à?

- Nhờ anh đấy! Mình râu quặp vào mãi cũng dở. Tôi nói với bà ấy rồi, hồi bé tôi ngã cây, uống mật gấu, lỡ nóng giận lên là khổ.

Đội trưởng đỡ hai chai rượu bằng hai tay, cung kính như nâng báu vật. Hé nút lá chuối khô ra, ngửi. Lão trợn mắt, thì thào.

- Pí nọong ơi! Rượu này mới là rượu chứ.

Lão phải kêu bằng tiếng mẹ đẻ, tức là rượu ngon ngoài sự trông đợi.

Đội trưởng Thọ, họ Hoàng, người Tày Cao Bằng, đi bộ đội sau mình hai năm. Năm 1954, chính bà mọ Mèo nhà mình nhận về nuôi chứ ai, vì thế lão mới gọi mình là anh, dù nhiều hơn sáu tuổi. Hồi ấy, lão gầy yếu, cao như cây sậy, ra trước gió run run chỉ sợ ngã. Vừa bị thương, vừa sốt rét, cho lão về quê Cao bằng cũng không có sức mà về. Hội mẹ chiến sĩ làng Nà Rậm đón hai chiến sĩ về nuôi dưỡng, trong đó có lão Thọ. Đến khi đỏ da thắm thịt, anh chàng Tày đẹp trai phải lòng cô Mận, người hay đến giúp Hội mẹ chiến sĩ giặt giũ quần áo, bông băng. Thôn đội đứng ra tổ chức đám cưới đời sống mới cho họ. Mấy đĩa kẹo vừng, nồi nước vối, vài bó hoa giấy, thế mà vui đáo để. Cô Mận, tướng đàn ông, cao hơn chồng nửa cái đầu. Nhìn đôi chân mày rậm và đôi gò mà cao, biết cô không phải là người vợ dễ cầm cương. Mấy chục năm qua, lão Thọ như trâu ở với cọp, nem nép. Đấy, như uống chén rượu mà cũng phải thu thu, giấu giấu. Chị kia. Hôm nay tôi mang rượu tới biếu ông Thọ, tìm bạn tâm sự. Chị mà cấm đoán là không được với tôi đâu. Mụ già lột chiếc khăn đen đội trên đầu, rũ phành phạch, miệng cười chân thật.

- Tôi biết rồi, thông cảm lắm rồi. Hai anh em cứ nhẩn nha nhắm rượu, tôi đi cắt cho lợn nắm rau.

Chờ vợ đi khuất, đội trưởng Thọ mới rón rén mở nút chai rượu. Hai mắt lão ta bỗng chốc xanh lét như mắt mèo.

- Anh đừng lo. Tôi đã làm công tác tư tưởng trước rồi. Nhưng đêm qua nó không cho tôi đi câu, bảo làm gì mấy con cá ranh, xã viên người ta biết, tiếng để đời. Nào! Ta nhắm đi!

Mình không nhắm, mà làm một hơi. Rượu cay và nóng chạy rần rật dọc cổ họng xuống dạ dày. Nhúm nắm lạc rang, không vê vỏ giấy mà hắt vào mồm. Đội trưởng Thọ nhắp ngụm nhỏ, xuýt xoa, nhìn tôi vẻ lo lắng.

- Rượu uống thế, còn gì là ngon. Anh quên chuyện hai mụ đàn bà đi. Nghĩ nhiều thêm mệt.

- Vợ tôi nó ấu trĩ quá. Nhà cô Xuân ấy, nó chỉ xí xớn với anh, chứ với tôi, bố bảo. Thế mà bà Mận không ghen, nó lại nhảy vào đánh nhau với người ta. Có khổ tôi không.

Đội trưởng Thọ là người biết nhịn nhục, để đổi lấy ấm êm gia đình. Lão bảo, mình nể vợ mình, chẳng ai cười chê. Đánh nhau để làm gì? Con cái nó xấu hổ, nó nghĩ xấu về bố mẹ. Mình nhịn mà gia đình yên ấm thì đáng để nhịn. Mấy chục năm nay, cả làng, cả tổng ai cũng bảo lão sợ vợ. Còn lâu nhá! Để đàn bà họ nói cho hả, chửi cho sướng mồm. Ra vẻ có quyền hành chi tiêu hạt muối, cây củi. Chứ những việc lớn như làm nhà, cưới vợ cho con, trồng trọt, chăn nuôi thứ gì, một cái đầu lão quyết hết. Có tí rượu vào, lão lên mặt dạy đời.

- Anh công tác tốt, chưa chắc đã lãnh đạo gia đình giỏi. Chị nhà anh, thuộc diện con nhà tử tế, ưa ngọt. Anh thì “quân phiệt”quá, lúc nào cũng nguyên tắc. Hỏng! Chỉ tổ vợ nó bất mãn, càng phá tợn. Anh nghe tôi, cứ về thử thay đổi chính sách xem.

Mình chẳng quan trọng hóa chuyện bà vợ. Chỉ thấy hơi bị xúc phạm. Cái quan trọng nhất, là trong làng nhà nào cũng có hầm trú ẩn. Việc giúp đỡ gia đình phụ nữ góa bụa, cũng nằm trong công tác dân vận, mình thuộc lòng từ hồi còn quân ngũ. Lấy đại sự làm trọng, xét việc vợ mình đánh ghen nhầm, cũng là chuyện nhỏ hơn so với công tác phòng tránh máy bay địch.

- Ông tổ chức họp đội sản xuất, đem việc con mẹ thằng Bình ra kiểm điểm giúp tôi. Không lơ tơ mơ được.

- Có nên không anh? Làm to chuyện, chi bộ cũng họp kiểm điểm cả anh đấy.

- Kiểm điểm thì kiểm điểm! Đảng viên không làm gương, ai người ta phục.

Ha ha ha! Đội trưởng gật gật đầu, mặt đỏ tía. Rượu ngon, lạc bùi. Thôi nhá! Uống ít kẻo say. Hôm nay chuyện vui, chuyện buồn lẫn lộn, anh em mình chia sẻ thế này, còn hơn anh em ruột. Đội trưởng lại trợn tròn mắt.

- Ơ hay! Chẳng anh em là gì! Tôi đã coi cụ mèo như mẹ đẻ, thì cũng coi anh như anh em. Anh còn nhớ bài hát hôm tôi cưới vợ không? Hôm nay vui quá, hát lại cho anh nghe này. “Pỉ noọng ơi! Đau rần hai vai, chân chồn gối mỏi
Đường xa chi- pây. Noọng ơi đói rồi. Pỉ noọng ơi! Xa nhà đã lâu, thương chồng nhớ con. Tan giặc về em gặt lúa thôi! Pỉ noọng ơi! Mưa dầm hai vai. Hai hòm lựu đạn noọng lấy lá chuối noọng che bốn bề. Pỉ noọng ơi! Đêm rừng tối đen, đâu còn áo thay”.

Mình vỗ tay, giữ nhịp. Bài này hồi kháng chiến nghe dân công hát mãi, cũng thuộc đôi câu. Đội trưởng gục xuống bàn, nấc. Bà Mận dưới bếp đi lên.

- Say rồi phải không? Ông này rượu say là hát, hát xong thì khóc. Tôi nghe hát là biết ngay. Dào ôi! Nước mắt nước mũi kìa. Gần ra lão rồi mà mau nước mắt.

Mình giao lão chồng cho mụ vợ, nhót. Con chim tu hú kêu thảm thiết. Nhìn lên cây vải nhà họ, từng chùm quả đang ươm vàng. Sắp chín rồi, tu hú mới kêu. Lão khỉ này, không hái mấy chùm ăn cho mát ruột. Ba con chó đen nằm dưới gốc vải, thấy khách ra thì đứng cả dậy, nhe răng gừ gừ. Ừ! Chào chúng mày nhá. Đừng nhe mãi răng ra, tao xui lão chủ đem thui tế, biết đời.

Đêm, cơn mưa rào chợt đổ nước xuống mái cọ, gió lồng qua cửa sổ mát rượi. Mình khẽ nhấc chân thằng cu gác trên bụng, nhẹ bước vào buồng bầm nó. Đội trưởng Thọ nói đúng, lạt mềm buộc chặt, mình không nên rắn quá. Nghĩ cũng thương bầm nó, con nhà khuê các, chịu về làm dâu nhà bần nông, đã là sự can đảm. Chui vào mùng, với tay đắp cái áo cho con cún, tiện thể choàng qua ngực vợ. Bàn tay nửa đẩy ra, nửa kéo lại, tiếng khóc rấm rức.

- Ra đi! Ai khiến anh vào đây. Bỏ vợ nhục nhã ê chề, chắc hả dạ lắm.

- Bầm nó chỉ ghen tuông vớ vẩn. Chẳng qua vì việc dân, tôi mới phải giúp nhà nó. Còn con mẹ sề ấy, đem đổi bầm nó lấy ba đứa, tôi chẳng thèm.

Bàn tay đã luồn vào ngực, cặp vú bánh dày, hai đứa con rồi mà còn khá tròn. Tay người kéo ra, tay người cố lùa vào, cuối cùng thì im. Mân mê một hồi, thấy hơi thở đằng ấy gấp gáp, bàn tay kia luồn xuống dưới, kéo dây quần “phựt” một tiếng.

- Khỉ gió! Khe khẽ thôi cho con nó ngủ! Nhẹ thôi! Đau...

Buổi sáng, khắp nhà đầy tiếng cười. Thằng cu đâu? Ngủ đến bao giờ? Dậy trông em cho bầm luộc sắn. Vợ mình thoắt trở thành cô dâu nết na như ngày mới cưới.

- Mọ cứ đi rửa mặt, để con cho lợn ăn. Con đặt cho mọ bát cháo nhá, chứ già rồi ăn sắn luộc, hay bị nghẹn.

Bà cụ không hiểu điều gì đang xảy ra trong nhà con trai.

- Ối mèo! Chị làm gì cứ làm, để lợn gà cho bầm. Bầm ăn sắn được, đừng nấu cháo làm gì. Mèo! Mày lại để em đái ngay đầu hè hử. Bà thì cắt l...bây giờ. Con gái đái lở đầu nhà. Cha bố mày!

Thằng cu xách tay em, phát vào đít nó một cái. Con bé khóc ré lên. Vậy mà bầm nó vẫn cười.

- Lêu lêu! Con gái đái bậy còn khóc. Ừ! Con chờ bầm tí, ăn sáng xong bầm cho đi chợ nhá.

Pỉ noọng ơi! Thay đổi hai vai
               “Slip bả” cân gạo, “nhĩ slip” cân muối đèo thêm cái nồi
               Pỉ noọng ơi! Nặng thì có nặng, nhọc thì có nhọc
               Dù nặng nhọc nhưng lòng vẫn vui.

Pỉ noọng ơi! Kĩu kịt trên vai
               Hai đầu hai quả đạn súng đại bác hoặc dăm súng trường
               Pỉ noọng ơi! Cao thì có cao, trơn thì có trơn
               Đường bùn lầy nhưng đường vẫn vui



.Cập nhật theo nguyên bản của tác giả gởi từ TâyNinh ngày 03.5.2016.


VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004