Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





MƯA BẤT CHỢT







C hiều tháng bảy, bầu trời cao xanh bỗng tối sầm. Những đụn mây mầu chì che kín mặt trời, gió bụi mù mịt... cơn mưa bất chợt ập đến. Tôi mệt mỏi dắt chiếc xe máy dính bùn đất vào nhà Lê Toàn, bạn chiến đấu năm xưa. Hai người lính tóc pha sương ôm ghì nhau sau bao năm xa cách. Toàn nhìn bì to kềnh lấm bùn đất sau xe ái ngại hỏi:

- Ông chở gì nặng thế?

- Thơ đấy! Cầm bút hơn ba mươi năm chưa có đầu sách nào cho riêng mình. Những năm bẩy mươi thế kỷ trước, có vài cuốn sách in chung. Nay, tớ chọn năm mươi bài thơ tâm đắc được các tạp chí, báo Trung ương, địa phương đăng tải trong thời gian qua in tập thơ tuyển, lấy tên là “Lời Ru Trong Sương.” trình làng, tặng bạn yêu thơ. Một đời cầm bút phải để lại chút gì chứ. “ Trâu chết để lại da” mà. Tiền bạc ăn tiêu thì hết, thơ hay tặng bạn yêu thơ còn mãi với thời gian!

- Được thế thì tuyệt quá. Chúc ông toại nguyện! Toàn vui vẻ nói: Vừa rồi, tôi đọc trên báo văn nghệ Hội nhà văn Việt Nam bài thơ “ Trở lại đường xưa” của ông mà thương nhớ đồng đội, nhất là thằng Đạt hì hục kê nồi thổi cơm lúc hy sinh chưa được hạt cơm nào vào bụng. Ông viết bài này đúng tâm trạng ta lúc đó.

- Thế ông có nhớ câu nào không, tôi hỏi Toàn. - Tôi còn đọc nhiều lần cho vợ con nghe, giờ đọc cho ông nghe nhé. Toàn là người yêu thơ, hắng giọng đọc: “Rừng xưa giờ xanh mướt/ Lính xưa bạc đầu rồi/ Thời gian như đi như gió / Mấy mươi năm vụt trôi/ Hố bom xanh ngời cỏ/ Chim xây tổ bình yên/ Trận địa xưa còn đó/ Ta đào hầm xuyên đêm/ Lối này vào binh trạm/ Mũi tên tạc vào cây/ Đường vượt bao đèo dốc/ Nối từ Đông sang Tây/ Như thiên la địa võng/ Phá thế độc đạo vây/ Dọc ngang trong rừng rậm/ Người xe đi đêm ngày/ Trở lại thăm đường xưa/ Cứ mừng mừng tủi tủi/ Gặp hòn đá kê nồi/ Ngỡ bạn xưa ngồi đợi!”

Tôi sướng nhất câu kết này, Toàn nói.

Bài thơ nói đúng cảnh tình, tâm trạng người trong cuộc gợi cảm lắm. Thơ hay người đọc nhìn thấy tình cảnh, đọc được tâm tư nhân vật trong sâu thẳm cõi lòng. Tôi rất thích câu kết: “ Gặp hòn đá kê nồi/ Ngỡ bạn xưa ngồi đợi !” Nó vừa thật vừa hư... ý, tứ như tảng băng chìm! Hóa ra ông thổi hồn vào đá, hay thật!

- Cảm ơn ông. Tôi viết bài thơ này cuối năm ngoái, khi hội cựu chiến binh phường Ba Đình-Hà Nội thăm chiến trường xưa. Người thật việc thật, lâu ngày thăm lại nơi mình từng giữ đường trong bom đạn, nên cảm xúc chuyển thành thơ rất tự nhiên, không màu mè hoa lá. Từ gọi ý, ý hiện tứ, cứ thế tuôn chảy.

Lần này, lên tặng ông tập thơ tuyển và liên hệ bán quãng hơn trăm cuốn. Tôi in năm trăm cuốn, bìa cứng hết mười hai triệu đồng. Để hai trăm cuốn tặng bạn, còn ba trăm cuốn bán. Mới bán được ít cuốn cho các trường phổ thông. Số đông họ lánh mặt. Đến các xã, công ty, xí nghiệp trên địa bàn huyện, họ chỉ lấy mấy cuốn, đa số từ chối. Có người nói: “Thơ của ông nọ, bà kia chất đống trong tủ, có ai đọc đâu. Bác thông cảm. Thời này người ta cần tiền, chẳng ai cần thơ! “Văn hay chữ tốt không bằng thằng dốt lắm tiền! Bác thấy tôi nói đúng không!?” Tôi cười ra nước mắt...

Thư viện Tỉnh nhận phát hành ba mươi cuốn, trừ ba mươi phần trăm giá bìa, chưa biết khi nào mới có tiền!

Nhà văn, nhà thơ không thể không có tác phẩm. Nghĩ thế, tôi vay thêm bạn bè để in. Thôi thì cũng nhắm mắt đưa chân một chuyến để có tác phẩm. Vẫn biết nhiều năm nay, chẳng mấy ai ham đọc sách như trước, chẳng rõ do văn hóa nghe nhìn chiếm chỗ văn hóa đọc, hay mình viết tồi nên bạn đọc ngoảnh mặt với thơ!?


Nghĩ cảnh bạn thồ bao tải Thơ đi bán trong mưa gió, Toàn nói:

-Nhà thơ các ông có tiếng không có miếng. Xưa nay mấy ai sống nổi bằng đồng tiền nhuận bút? Với văn nghệ sĩ thời nào cũng vậy. Họ nể chứ không trọng đâu! Lắm cán bộ cả năm không cầm cuốn sách, thi thoảng lướt qua vài cái tít báo đắp đống trên bàn làm dáng chứ có ai đọc đâu! Thôi, số sách còn lại ông để tôi lo!”

-Bằng cách nào, tôi hỏi lại Toàn.

- Tôi đem qua mấy đồn biên phòng là hết ngay. Ở đó họ quý sách báo lắm, thơ có thương hiệu quốc gia như ông lo gì! Lâu nay mấy cán bộ đồn biên phòng thường đến mượn sách của tôi.

Buồn thật, nhà văn, nhà thơ nhìn rõ bản chất thiện, ác, vinh, nhục, vui, buồn... trăn trở với số phận con người, vận nước. Chấp nhận gian lao cầm bút bênh vực tự do, công bằng xã hội... ngợi ca những anh hùng liệt sĩ sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc. Bồi đắp lòng tự tôn dân tộc. Phản biện, dự báo thời cuộc... với trách nhiệm công dân không quản vất vả cho ra đời những đứa con tinh thần của mình lại không được bạn đọc đón nhận. Có lẽ mình viết chưa hay! Nhưng, Không ít nhà thơ lớn cũng không dễ khi phát hành tác phẩm của mình?...Sách in ra chỉ để tặng bạn.

Kể cũng lạ, đất nước ngàn năm văn hiến sao không mặn mà với văn hóa đọc? Chín mươi triệu dân, chỉ hơn một ngàn nhà văn, nhà thơ, chứ nhiều nhặn gì. Công quỹ quốc gia đâu đến nỗi, sao không bồi dưỡng xứng đáng lao động sáng tạo đặc thù của họ? Toàn an ủi tôi:- Tài thơ, văn như Tản Đà, Vũ Trọng Phụng Nguyên Hồng, Nguyễn Bính, Nam Cao... Chiều ba mươi tết còn phải đi trốn nợ nữa là ông! Tôi biết: Một trăm ngàn đồng nhuận bút một bài thơ; vài trăm ngàn đồng một truyện ngắn, các ông nghèo là phải! Trong khi, người ta thưởng một tỷ bạc cho cú sút tung lưới đối phương. (Cười) Cũng tại cái nghiệp văn chương vận vào thân...Anh nào dính vào văn chương chữ nghĩa đều “viêm màng túi”. Nhưng không “từ bỏ” được, trời bắt “ôm” nghiệp văn cho đến chết!...( cười)

- Lâu nay ông làm ăn ra sao, mà bà ấy đi đâu không thấy có nhà? Tôi hỏi Toàn.

- Nhà tôi đưa cu Mừng tránh lũ trên hang Treo. Mấy hôm nay mưa ghê quá...

- Vợ chồng ông mới sinh thêm cháu Mừng sao? Lâu nay tôi nghĩ chỉ có thằng Tâm thôi đấy. Bà Vui tái xuân rồi. Xin chúc mừng!

Vừa lúc mẹ con cô Hạnh tránh lũ trên hang Treo về. Toàn khoe với vợ:

- Mình ơi, nhà có khách quý, anh Vinh từ Hà nội lên chơi.

- Em chào anh Vinh, anh trẻ hơn trong ảnh rất nhiều, đúng là nhà thơ không có tuổi. Em nghe anh Toàn đọc thơ, bình thơ anh hay lắm, nay mới được gặp tác giả. Hai anh ngồi chơi, em làm vài món nhắm, để các anh hàn huyên...Tôi bất ngờ trước cô Hạnh trẻ đẹp, chứ không phải bà Vui như tôi biết. Toàn biết ý tôi, giải thích:

- Hạnh là em út bà Vui. Mình đến với Hạnh do vợ chồng bà Vui và bố mẹ vợ sắp đặt. Nên có thằng cháu Mừng bây giờ! Chuyện là thế này:

- Đêm rằm tháng bảy, năm hai ngàn lẻ tư, trời trong trăng sáng lắm. Bỗng dưng, những đụn mây mầu chì bộn lên như búi bừa trên cánh đồng mây, che khuất ánh trăng. Chớp giật lằng nhằng, sau những tiếng sấm ùng oàng, tiếng côn trùng im bặt. Mưa bất chợt trút xuống mái nhà như có ai quất roi lên tấm lợp. Không khí bốc mùi khét lẹt do khí nóng lạnh gặp nhau. Cái chảo mây mầu chì sũng nước úp sụp xuống, cơn mưa bất chợt mỗi lúc một to như trút nước. Có ông khách vào nhà xin trú mưa. Áo quần như người Tây Nguyên, mặt mũi bỏng sẹo loang lổ dị dạng, tóc lấm tấm bạc, ít nói rất khó đoán tuổi. Trên lưng một ba lô con cóc nặng trĩu. Chắc là ngà voi, xương hổ, hoặc sừng tê giác... Nên ông khách không rời chiếc ba lô căng phồng, cả khi ngồi uống nước!?

Sau tuần trà mình hỏi:

- Anh về đâu, mưa gió thế này hãy nghỉ lại đây cơm nước với vợ chồng tôi, sáng mai tạnh mưa hãy đi cho đỡ vất vả. Vợ mình họa thêm:

- Phải đấy bác ạ, để em dọn mâm mời bác dùng cơm tối với gia đình luôn thể! Mang nặng, mưa gió vất vả lắm, sáng mai bác hãy đi.

- Nhà tôi cách đây không xa. Ông khách gạt nước mưa trên mặt, hay nước mắt lúc bấy giờ tôi không để ý. Ông ta cứ nhìn vợ mình như dò xét, đăm chiêu, ẩn ức điều gì... Và giữ cái ba lô chằm chặp. Ông khách nói:

- Tạnh mưa là tôi đi thôi. Cảm ơn thịnh tình của ông bà!

Từ dưới bếp, Hạnh bưng mâm đậy lồng bàn đặt trên chếc chõng tre kê ngoài hiên, niềm nở:

- Mời anh Vinh uống thử rượu ngô men lá với nhà em. Tôi nói:

- Mời cô Hạnh ngồi với chúng tôi cho vui.

- Các anh cứ lai rai chuyện văn chương với nhau, nhà em mỗi lần đọc thơ lại nhắc đến anh. Ông ấy nghiện thơ. Toàn mở lồng bàn, mâm cơm có: Gà ri tẩm riềng mẻ nướng; ốc suối luộc chấm nước mắm gừng; măng vầu chấm mắm tôm; và một bát canh cá leo nấu lá chua. Hai anh em tôi uống hết bi đông rượu ngô men lá. Thứ rượu thơm ngọt giọng, say êm không nhức đầu, tôi rất thích. Mỗi khi Toàn về Hà Nội thường cho tôi đôi gà, vài chai rượu ngô. Khi đã ngà say tôi nói:

- Cậu thật tốt số lọt vào mắt xanh nàng. Hạnh đẹp người, đẹp nết đảm đang, lại sinh “ hoàng tử”. Hạnh phúc ngoài mong đợi. Chúc mừng ông! Lê Toàn thành thật:

- Đúng thế. Mình không nghĩ Hạnh đồng ý, bởi mình hơn cô ấy mười một tuổi. Nhưng được bà Vui và bố mẹ vợ vun vào mà nên. Đến khi về ở với nhau mình hỏi cô ấy:

- Sao em chấp nhận về sống với anh? Hạnh bảo:

- Em yêu quý anh, một người sống vì mọi người, chênh nhau mươi tuổi có hề chi. Mình như cánh đồng khô hạn gặp cơn mưa bất chợt, hoa lá lại hồi sinh...(cười). Từ dưới bếp, Hạnh mang cơm lên:

- Mời hai anh ăn cơm cho nóng. Em đi đón cháu Mừng tan buổi học chiều, chút nữa em ăn cơm với cháu cho tiện.

Lê Toàn kể tiếp: Ba ngày sau, cả huyện đồn ầm lên chuyện động trời: “ Ông Chí chồng bà Vui ở làng Me, báo tử năm bẩy lăm, nay lù lù trở lại nhà! khổ chưa, bà Vui lấy ông Toàn rồi! Bây giờ thu xếp sao đây? Tình cảnh khóc, cười thật khó xử cho vợ chồng ông Toàn.”

Dư luận sôi lên ở làng Me, làng Trám nơi vợ chồng tôi sống. Thôi thì đủ tình tiết, màu sắc thiên hạ thêm thắt vào câu chuyện tình hy hữu theo cách của họ...

Khi biết anh Chí trở về, bà Vui khóc lóc hoảng hốt, cắn rứt, hối hận việc tái giá của mình, tuy Nhà nước đã báo tử. Bà ấy nói:

- Em làm khổ anh rồi. Mười mấy năm qua anh là chỗ dựa của mẹ con em. Nuôi dạy thằng Tâm - đứa trẻ mồ côi cha lêu lổng, bướng bỉnh thành sinh viên đại học đoạt huy chương vàng đợt thi toán quốc tế vừa qua! Bây giờ em biết tính sao cho trọn tình vẹn nghĩa? Rất buồn, em không thể sinh con cho anh. Anh khuyên em vài lời đi!

- Em đừng buồn khổ nữa. Thằng Tâm đáng được như vậy. Bây giờ bố nó về rồi còn sung sướng nào hơn! Anh nhớ, khi mẹ con em về sống với anh đã ba năm nó chưa gọi anh là bố. Dù anh rất yêu thương, mong con gọi bố từng ngày!

- Vâng, em biết Tâm nó rất yêu quý, kính trọng anh. Anh xứng đáng làm cha nó. Dân làng, nội ngoại ai cũng nói vậy! Mẹ con em rất hạnh phúc sống bên anh. Nhưng bây giờ em phải làm gì cho trọn tình nghĩa, xin anh chỉ bảo em! Anh nghĩ:

- Em nên về với anh Chí, vì hoàn cảnh anh ấy rất khó khăn: Mẹ già, nhà dột, chưa được hưởng chế độ chính sách ngay lúc này. Anh ấy cần có em hơn lúc nào hết, anh Chí rất yêu em. Hôm nọ anh nói ý định này với anh Chí, anh ấy nắm chặt bàn tay anh khóc và nói : “Cảm ơn anh đã cưu mang vợ con tôi một thời gian dài, nuôi dạy cháu Tâm thành người!”... Cách này được gia đình, làng xóm đồng tình ủng hộ.

Vụ này, nhà ta còn tấn thóc em mang về bên ấy một nửa, nhà có hai mẹ con con trâu, em dắt con nghé đực về bên nhà quấy nước làm ăn. Chẳng việc gì mà than khóc. Phải giúp nhau vượt lên số phận!

- Thế còn anh sẽ sống thế nào. Vui vặn hỏi tôi?

- Anh có cách. Tôi trả lời cho qua chuyện, trong lòng rối như canh hẹ… chưa biết phải làm gì trong tình cảnh này.

- Không được đâu. Hay để em Hạnh về sống với anh, nó còn trẻ anh sẽ có con. Hạnh rất yêu anh, em đã ướm thử rồi. Để em vận động thầy mẹ, chắc các cụ thuận lòng thôi. Họ rất quý cách ứng xử của anh suốt mấy chục năm qua. Như thế chẳng hơn sao! Tôi băn khoăn:

- Hạnh kém anh mười tuổi, xinh đẹp thế, chắc gì thành?...

Không biết bà Vui nói thế nào với bố mẹ vợ và đoàn thể... Một buổi sáng đẹp trời, ông cụ gọi tôi sang nhà vừa uống trà cụ vừa nói: “ Chuyện anh Chí trở về là phúc lớn với gia đình, họ hàng nội ngoại. Mười mấy năm qua anh là người con rể ta yêu quý. Có công hàn gắn vết thương lòng con Vui và gia đình này. Dạy dỗ cháu Tâm nên người, làng xã ai cũng cảm phục ý ăn, ở của anh. Nay bố mẹ cho con Hạnh thay chị Vui, anh nghĩ sao?”

- Mình lặng người vì hạnh phúc quá bất ngờ. Chưa biết thưa với bố vợ thế nào cho phải, thì cụ nói tiếp: “ Bố chọn ngày mai cho hai chị em về nhà chồng. Mọi việc còn lại các con bảo nhau thu xếp cho êm đẹp. Được vậy bố mẹ rất vui lòng!” Tôi chỉ biết nói mỗi câu:- Chúng con cảm ơn bố mẹ! Rồi ngây người vừa mừng vừa tủi...

Chín giờ sáng hôm sau, cán bộ mặt trận, Chi hội cựu chiến binh, Chi đoàn thanh niên, Chi hội phụ nữ và bà con trong bản đưa dâu về nhà chồng. Tôi mặc trang phục nhà binh, với quân hàm thiếu tá đỏ tươi, chuyển năm tạ thóc trên chiếc xe trâu sang nhà anh Chí. Bà Vui ( giờ là chị vợ tôi) quảy hai lồng gà sang nhà anh Chí làm bữa cơm thân mật. Cô Hạnh, cháu Tâm, hai dì cháu mỗi người một bó hoa tươi mừng ngày hợp hôn, đoàn tụ! Tôi và Hạnh về sống bên nhau từ đó, để có thằng Mừng hôm nay! Chuyện thật như bịa phải không? Toàn nhìn tôi cười mãn nguyện. Tôi nói vui:

- Đúng là ông có số đào hoa. (cười)

Ngày hôm sau, tôi và Toàn sang làng Me dự lễ đón hài cốt liệt sĩ Nguyễn văn Nông, được anh Chí chôn cất, vừa đưa về làng. Anh Chí kể lại:

- “ Một buổi chiều hai người đi lấy gạo, anh Nông đạp phải mìn hi sinh tại chỗ. Tôi đem thi hài Nông bỏ vào hẽm đá trong hang sâu, vác một hòn đá to như cái nắp rương đè lên, phòng thú rừng công mất xác. Tôi tiếp tục gùi gạo về nơi tập kết. Nhưng, nơi trung đội tôi trú quân vừa bị bom. Tôi đi tìm đơn vị, đi mãi, đi mãi bị lạc rừng. Ngày đi, đêm treo võng trên cành cây cao nghỉ, khi ăn hết gùi gạo trên lưng vẫn không tìm thấy đơn vị. Đến ngày thứ mười lăm, trên đường đi tìm nước uống, tôi lầm rầm khấn:

- “ Anh Nông ơi, tôi lạc rừng đã nửa tháng rồi. Anh khôn thiêng đưa đường dẫn lối cho tôi về đơn vị!” Đi được một đoạn đường tôi gặp hai chiến sĩ công binh đi tìm đường tránh, mừng như gặp mẹ về chợ. Tôi kể hoàn cảnh lạc rừng không tìm được đơn vị. Đề nghị các đồng chí cho tôi gặp chỉ huy xin nhập đơn vị mới. Đồng chí trung đội trưởng hỏi họ tên, phiên hiệu đơn vị, cấp bậc, chức vụ của tôi. Anh tươi cười phân công nhiệm vụ:

- Giờ cậu Chí đi nấu cơm, hai anh em tôi khảo sát đường tránh xong, về đại đội tôi sẽ báo cáo trường hợp xin nhập đơn vị của cậu. Cứ yên tâm công tác!

Hôm sau, tôi cùng đơn vị mới đi phát cây mở tuyến đường tránh vừa khảo sát xong. Khi giải lao tôi đi dọc bờ suối nhận ra con dốc trước mặt mình chính là chỗ Nông đạp phải mìn, máu còn vương trên thân cây! Hóa ra mười lăm ngày mình đi loanh quanh, lại quay về điểm xuất phát!

Từ đó đến khi giải phóng miền Nam, đơn vị tôi bảo vệ đoạn đường này. Là bạn đồng hương, đồng ngũ nhớ ngày hi sinh của anh Nông tôi lại vào thăm mộ. Khi được ra quân. Tôi quyết định phải mang hài cốt anh Nông về quê. Vì ngoài tôi ra không ai biết chỗ anh nằm!

Khổ nhất khi mang hài cốt lên xe, tàu phải chia nhỏ bộ xương, bỏ vào các hộp bìa đựng bánh kẹo mới che mắt được nhà xe. Không hiểu sao họ kiêng kị vô lí thế? Rồi xe, tàu vẫn chạy về bến an toàn. Lẽ ra phải ưu tiên chở các liệt sĩ về quê mới phải đạo lí uống nước nhớ nguồn, đàng này nhà xe lại kỳ thị thật vô lối! Mỗi lần giấu xương cốt anh vào các hộp bìa đựng bánh kẹo tôi lại khấn: “ Lạy vong linh anh Nông, hãy che mắt nhà xe để tôi đưa anh về quê mẹ!”

Anh Chí nói đến đây bật khóc tu tu như đứa trẻ. Trông người lính già khóc, bà con không cầm được nước mắt về sự hi sinh, tinh thần thương yêu đồng đội của anh bộ đội Cụ Hồ.

Lúc hạ huyệt, trời đang trong xanh là thế, bỗng từng đụn mây mầu chì kéo đến che ánh mặt trời, sấm chớp đùng đùng... Chúng tôi vừa đắp xong ngôi mộ liệt sĩ Nguyễn Văn Nông, bất chợt trời đổ mưa. Các già làng đắc ý nói: “Khi lợp nhà, phong mộ xong gặp mưa bất chợt may mắn lắm!”

Chuyện xảy ra đã nhiều năm, mỗi khi thấy mây màu chì, trời nổi gió tôi lại nhớ hình ảnh anh Chí cõng ba lô hài cốt bạn trên lưng suốt chặng đường dài hàng ngàn cây số về quê, và câu chuyện tình hi hữu của vợ chồng Lê Toàn. Những mảnh vỡ số phận, di chứng cuộc chiến tranh... Và những cơn mưa bất chợt ám ảnh tôi./.


Tháng 8-2013.



@.Cập nhật theo bản mới của tác giả chuyển từ Thanh Hóa ngày 26.4.2016.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004