Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





MỘT ĐỨA CON








C ựu chiến binh Phạm Khâm gặp tai nạn. Một chiếc xe tải bất ngờ va vào ông. Ông nằm bất động giữa đường phố, toàn thân bê bết máu. Cả đời binh nghiệp, trải mấy chiến trường, bom đạn như núi, không đụng đến móng tay, vậy mà cuối đời, giữa phố xá thanh bình, tính mạng ông đang ngàn cân treo sợi tóc. Người ta đưa ông vào một bệnh viện gần đó cấp cứu trong tình trạng mất máu nặng nhưng tỉnh táo. Những người ở chiến trường lâu năm có nhiều kinh nghiệm bảo rằng, người bị thương nặng mà tỉnh táo, thường khó qua khỏi. Một bên chân ông bị bánh xe đè dập nát. Mấp máy đôi môi đã nhợt nhạt, ông bình tĩnh thông báo với bác sỹ là đi thăm con trai, giáo sư - tiến sỹ triết học Phạm Khang đang giảng dạy ở một học viện chính trị trong thành phố.

Bệnh viện tiến hành hội chẩn và lệnh truyền máu gấp. Nhưng vận đen cho cựu binh Phạm Khâm: Trong kho dự trữ, nhóm máu nhóm O đã hết từ mấy ngày trước. Người có nhóm máu O, khi bị nguy cấp do mất máu thường rất khó tìm người tiếp máu, vì nhóm O có thể cho tất cả các nhóm khác, nhưng khi nhận về, lại chỉ nhận đúng nhóm máu của mình.

Trong trường hợp này, chỉ có những đứa con ruột thịt mới cứu được cha của nó nhờ quan hệ huyết thống. Người ta nghĩ ngay phải tức tốc gọi con trai nạn nhân, may ra còn kịp. Mười lăm phút sau, chiếc xe con đen bóng lao đến. Người con trai hớt hải bước vào. Anh chỉ kịp gọi: - Cha! Rồi nhanh nhẹn vén tay áo.

Những giọt máu quý giá của người con được đem đi xét nghiệm tức khắc. Kết quả: Con trai ông máu nhóm AB. Lúc sau, vợ ông cũng đã có mặt rất kịp thời, một mực đòi hiến máu cứu chồng. Nhưng cũng không may mắn hơn. Bà nhóm máu A.

Tiến sỹ Phạm Khang hết nhìn cha rồi nhìn mẹ. Nước da ngăm đen tai tái của anh như tố cáo tội lỗi của mẹ. Cha anh, dáng người thanh nhỏ, da trắng, mắt đen sáng, mẹ cũng thế, sao anh lại có mầu da khác? Nước da tai tái, ngăm ngăm rất riêng của anh, dù có ở phương trời nào cũng không thay đổi được. Đó là mầu đặc trưng do các huyết sắc tố di truyền theo huyết thống, các mã Gien gửi thông tin đến các thế hệ sau.

Những người bác sỹ trực cấp cứu hôm ấy đều đổ dồn nhìn vào tiến sỹ Phạm Khang. Là con trai sao chẳng có yếu tố di truyền nào? Bí mật của gia đình anh vô tình bị bại lộ. Đức hạnh của người mẹ cao quý sinh ra vị tiến sỹ triết học bị hủy hoại ngay ở phòng cấp cứu. Phạm Khang quỳ xuống bên cha, mặt thất thần. - Cha ơi! Thế là dòng máu của con không thể tiếp vào huyết quản của cha. Cha con ta vô phúc rồi! Không phải lỗi của con và cũng không phải lỗi của cha. Cha hãy tha thứ cho đứa con bất hiếu này!

Phạm Khang đưa mắt nhìn mẹ. Khuôn mặt mẹ anh như được nặn bằng sáp. Bà mấp máy đôi môi tái nhợt, vẻ hoảng loạn khi thấy người chồng thân yêu nhất của đời bà đang co giật trong cơn hấp hối.

- Mình ơi! Bà gục xuống bên chồng, nước mắt trào ra như suối. Còn giọt nước mắt nào thì em trút hết cho mình đây! Rồi từ nay trở đi, em như cái cây bị rút hết nước giữa dòng đời khô hạn này. Em sẽ tự làm khô héo dần để sớm được đi theo mình. Bao nhiêu kỷ niệm đớn đau nhưng tràn đầy tình thương yêu của hai người trong quá khứ chợt tái hiện. Bà vô vọng khi nhìn cặp mắt ông từ từ khép lại.

Phạm Khang không khóc. Anh chết lặng. Trong ánh mắt của anh, một câu hỏi như xoáy sâu vào tâm can người mẹ. Bà biết, đứa con bà đang nghĩ gì? Nó đang tố cáo và khinh bỉ mẹ nó. Nó có quyền nghĩ thế. Vì tại sao người đàn ông mà từ khi lọt lòng, nó coi là cha ruột, đến bây giờ, mới lộ ra là không cùng chung huyết thống?


* *

*

Đám tang cựu binh Phạm Khâm diễn ra trong thời tiết mưa phùn, gió bấc. Từng đợt khí lạnh từ phường Bắc ùn ùn đổ xuống. Làng xóm cùng những người đồng đội của ông năm xưa trên khắp các chiến trường đều có mặt, lặng lẽ cúi đầu đưa tiễn đều run lên vì lạnh. Giữa cánh đồng trống vừa qua mùa gặt hái, cái quan tài cô quạnh phủ lá Quốc kỳ, bên trong chứa thi hài còm cõi của người cựu chiến binh một thời ngang dọc trên khắp các chiến trường, như đỏ rực lên.


Trở về học viện chính trị, các tiết giảng của anh không còn hấp dẫn và trôi chảy như trước đây nữa. Anh đang lâm vào một trạng thái tâm lý tồi tệ. Là một tiến sỹ chuyên ngành khoa học xã hội, anh đã từng nghiên cứu nhiều trường phái triết học, nhưng niềm đam mê của anh vẫn dành cho triết học phương Đông, dòng chảy tư tưởng đạo đức Nho giáo. Anh căm ghét sự phản bội. Song anh vẫn là tín đồ trung thành của học thuyết Mác - Lê nin, một trường phái tư tưởng trên một nền khoa học chính thống. Mãi bây giờ anh mới biết, cha con anh đều đã bị người đàn bà là mẹ anh lừa dối. Anh xót thương cho cha anh. Cả đời cha anh lăn lộn trên các chiến trường, bao nhiêu yêu thương ông dành trọn cho vợ, cho con. Vậy mà mẹ đã...

Có những hôm trên giảng đường, tự nhiên anh đứng lặng khiến học trò ngạc nhiên. Phải mất vài giây sau, anh mới lại trấn tĩnh để tiếp tục bài giảng.

Mẹ! Mẹ phải trả lời cho con biết ai là bố đẻ của con? Cho dù người đó còn sống hay đã chết. Giá là con ruột, cùng huyết thống thì cha con đâu đã chết? Một người gần gủi thân thiết, đã hy sính hết cuộc đời vì con, vì tấm bằng tiến sỹ của con. Nếu con ở xa thì một nhẽ, nhưng cha con gần nhau gang tấc mà khi cha cần tiếp máu, con cũng cứu được cha. Suy nghĩ là thế, giận hờn là thế, nhưng khi gặp mẹ, trước tình mẫu tử, môi anh như bị ai khâu chặt, không sao hé được một lời. Tuy không phải con ruột của cha anh, nhưng bà đã mang nặng đẻ đau, sinh ra anh thành vóc thành người, đã đỗ đạt đến hàng tiến sỹ! Ôi, cha ơi! Con biết nói gì bây giờ? Khi mà cha con ta đã cách biệt âm dương...

Nhưng nhất thiết anh phải có thái độ. Từ hôm cha mất, Phạm Khang cắt đứt mọi liên lạc với mẹ. Anh biết, tình trạng này không thể kéo dài, nhưng hiện tại thì cứ tạm như thế đã. Để mẹ anh sẽ tự biết mà ăn năn sám hối trước bàn thờ cha anh...


Trong ngôi nhà hai tầng lầu nép mình dưới hàng cây ăn quả do con trai xây cất, từ hôm chồng thân yêu của bà ra đi, bà Lê Lan Phương lặng lẽ như một cái bóng. Bà biết, mọi chuyện rồi cũng không thể giấu được con. Nó đã trưởng thành, đã đỗ đạt đến hàng tiến sỹ. Nó cần phải tìm ra nguồn cội của nó. Ôi, cuộc đời sao mà khắc nghiệt! Bà gục đầu trước bàn thờ chồng nấc lên: Mình ơi, em biết sao bây giờ? Mình có thể tha thứ cho em, nhưng với đứa con mà mình cố tình bắt em giữ lại, nó sẽ không tha thứ cho em. Nó sẽ bỏ tất cả công việc, kể cả cái bằng tiến sỹ để đi tìm người cha nó đấy! Nó muốn biết cha ruột của nó là ai? Tên là gì, hiện đang cư trú ở đâu? Em không biết, anh không biết, cả dân tộc này cũng không biết. Vậy thì làm sao em trả lời cho con được? Mình hãy hiện lên đi! Mình đã gây ra hoàn cảnh này đấy! Vậy thì mình phải về mà trả lời cho con! Mình gây ra thì mình phải gánh chịu hậu quả. Mình đáng phải bị trừng phạt như thế!

Có những ngày bà đứng hàng giờ trước bàn thờ chồng, hai chân thậm thịch, nửa như hờn giận, nửa như bất lực. Trên bàn thờ, trong di ảnh, đôi mắt người cựu binh vẫn thanh thản nhìn vợ, tươi tắn và trong trẻo. Tấm ảnh chụp anh trong những này đầu giải phóng Sài Gòn. Khi đó anh còn trẻ lắm, mới ngoài hai mươi, trẻ trai, mạnh mẽ , tràn đầy sinh lực, sẵn sàng hiến thân cho lý tưởng. Tấm ảnh chị yêu thích nhất. Chị đặt trên bàn thờ, bởi chỉ muốn anh trẻ mãi như thế trong tâm tưởng, để ghi nhớ một thời anh và chị gặp nhau, hạnh phúc trộn lẫn đắng cay tủi nhục. Anh vừa là ân nhân của chị và cả cái bào thai oan nghiệt chị mang trong bụng. Chị bồi hồi nhớ lại kỷ niệm bi thương ngày chị gặp anh...


Gần bốn mươi năm về trước, khi ấy, chị là một trong số những giáo viên dạy học ở một ngôi trường gần biên giới Tây Nam. Trong một đêm trời tối đen như mực, bọn Pôn Pốt bất ngờ tràn qua biên giới. Chúng bắt chị và rất nhiều người đưa về Cam Pu Chia. Chúng dồn tất cả vào trong một cái hang đá lớn. Chúng tách riêng đàn ông đàn bà. Đàn ông thì đưa vào các công trường xây dựng rồi thảm sát hết. Đàn bà chúng giữ lại làm nô lệ tình dục. Ngày mưa cũng như ngày nắng, chúng không cho các chị mặc quần áo vì sợ bỏ trốn. Bao nhiêu nỗi đớn đau tủi nhục ê chề các chị phải chịu đựng gần nửa tháng trời. Vào một đêm trời mưa như trút, nước lũ ào đổ về, không chịu nổi sự hành hạ dã man của chúng, nhân cơ hội chúng sơ hở, chị cùng một số chị em trốn chạy ra bờ sông rồi lao đầu xuống nước, trên người không một mảnh vải che thân. Chị chỉ nhớ, trong cơn quẫn bách, chị cứ bơi xuôi chiều con sông, lẫn trong cây khô, bèo bọt giữa bồng bềnh sóng gió. Đằng nào thì cũng chết! Không thể chết dần trong sựu nhục nhã đớn đau giữa lũ người mà độc ác hơn loài cầm thú. Khi tổ quân báo của anh cứu được chị, thân thể gần như đã cứng đơ, may mắn sống được nhờ hai cánh tay ôm chặt thân một cây gỗ khô đang trôi trên dòng sông. Khi chị tỉnh lại, tưởng lại gặp lũ Pôn Pốt, chị hét lên rồi vùng chạy. Các anh bộ đội đã giữ chị lại, giải thích là chị đã được bộ đội Việt Nam cứu thoát. Chị khóc nức lên tức tưởi trong nỗi đớn đau nhục nhã ê chề. Chị đã ở lại với các anh trên bờ con sông Mê Công trong những ngày mưa lũ ấy. Chị đã được các anh tận tình chăm sóc, chị gần như hồi phục hoàn toàn. Tổi trẻ mà! Năm ấy chị hai mươi tuổi. Nhưng số phận nghiệt ngã, Chị nhận ra trong cơ thể mình có một sự đổi khác. Một mầm sống đã hình thành! Trời ơi! Trong cơ thể chị, có một tên Pôn Pốt con. Chị hình dưng ra khuôn mặt của nó trong những lần bọn Pôn Pốt thay nhau làm nhục chị. Sợ hãi đến mức hoảng loạn, không biết bao nhiêu lần chị lao đầu xuống nước tìm đến cái chết nhưng đều bị các anh bộ đội phát hiện và ngăn lại. Sau rồi, vì nhiệm vụ của tổ quân báo còn rất nặng nề, phải trinh sát tình hình và thông tin cho quân ta ngăn chặn các cuộc tấn công bất ngờ của bọn Pôn Pốt, không thể để chị ở lại trong tình thế chiến trường khốc liệt, đành phải rút bớt một người trong tổ đưa chị về hậu cứ. Người lính trẻ trai được phân công đưa chị về, chính là anh bây giờ.

Suốt mấy ngày đêm ngồi trên một chiếc bè gỗ kết vội cùng với anh trôi trên dòng Mê Công, anh đã bao lần động viên chị mỗi lần chị định lao đầu xuống dòng nước. Mỗi lần như thế, chị đều hét lên: - Anh buông tôi ra, tôi không thể để cái bào thai oan nghiệt này sống. Trước hay sau, nó cũng phải chết. Tôi phải dìm nó chết!

- Làm sao em phải chết? Em dìm chết nó là dìm cả em. Sống mới là khó, chứ chết thì còn có nghĩa gi? Em biết không, con sông Mê Công trước khi chảy vào đất Việt đã đi qua mấy Quốc gia? Nhưng dù đi qua Quốc gia nào, phù sa dòng sông mang theo đều nuôi dưỡng đồng đất quê ta. Cũng như giọt máu trong cơ thể em vậy. Cứ hình dung mình là dòng sông hiền hòa đi em. Em sẽ là một người mẹ tốt. Đừng nghĩ dại dột nữa!

- Nhưng nó không phải là hạt phù sa! Nó là mầm mống rắn độc. Em không thể đẻ ra một con rắn độc!

- Nó không bao giờ là rắn độc cả! Rồi em xem. Khi em đã không chết, mọi sự tốt đẹp mà!

- Em sẽ phải nói với má em và những người thân của em như thế nào khi sinh ra nó?

- Em cứ bình tĩnh lại đi. Rồi chúng mình sẽ tính.

- Anh tính làm sao? Khi mà cái bào thai khốn nạn ấy mỗi ngày mỗi giờ đang lớn dần trong bụng em?

- Nếu anh đưa em về nhà anh, anh thưa với ba mẹ anh, nói là đó là giọt máu của anh, và nhận em là vợ anh thì sao?

- Anh không thể làm việc ấy. Nó không thể nối dõi dòng họ anh. Em không thể!

Suốt mấy ngày đêm, sự việc cứ lặp đi lặp lại như thế. Cái bè gỗ càng trôi dần về hạ lưu con sông Mê Công, tốc độ càng chậm. Đêm xuống, giữa mênh mông sóng nước chỉ có hai người bên nhau. Người thì khóc rấm rứt, kẻ cố gắng tìm cách động viên. Có lẽ do mệnh trời, hai số phận càng thấy gắn bó với nhau.

Sau rồi chị cũng thấy nguôi nguôi, khi trong một thời khắc nửa đêm về sáng, anh đã thực lòng trao tuổi trẻ của anh cho chị với một lòng bao dung và một tình yêu nồng nhiệt...

- Anh ơi! Em cảm thấy nó đang dần lớn lên. Em sợ lắm.

- Em đừng nghĩ như thế sẽ ảnh hưởng đến con và sức khỏe của em. Nó sẽ lớn lên trong cơ thể của em, nên vóc nên hình. Nó sẽ trở thành một con người giỏi giang khi được sự chăm sóc của em và anh. Người ta, bất kể dân tộc nào, khi sinh ra đều tốt. Tâm tính con người chỉ thay đổi khi lớn lên ở một một nền chính trị xã hội khác nhau. Anh và bao đồng đội đã ngã xuống bên chiến trường nước bạn là để bảo vệ dòng máu trong sạch của dân tộc họ, chứ đâu chỉ nghĩ cho dòng máu riêng mình.

Chị nép vào ngực anh trong cơn gió đột ngột thổi ngược dòng sông Mê Công. Giờ thì chị tin anh. Tin anh như tin một đấng cứu thế...

Chị chợt bừng tỉnh. Đã bao nhiêu đêm không ngủ. Quá khứ cứ hiện lên. Hình ảnh bọn Pôn Pốt dùng gậy tre vót nhọn thọc vào bụng những phụ nữ đang mang thai, máu phọt lên nhuộm đỏ cả ngọn cây. Những con người bị mổ bụng phanh thây, những thai nhi cựa quậy trong mớ gan ruột bùng nhùng... Sao số phận đứa con trai của chị bây giờ lại may mắn đến thế? Nó may mắn hay chị may mắn? Giờ thì mọi sự đắng cay đang trút lên đầu chị. Chẳng nhẽ chị nói với nó rằng, cha mày là một tên Pôn Pốt ư? Nó đang là một tiến sỹ triết học, cuộc đời và sự thăng tiến đang hứa hẹn. Và có thể, nó cũng chẳng tin. Nhưng không! Không bao giờ chị lại nói với con cái điều đó. Nhưng nó sẽ nghĩ về chị thế nào? Mẹ nó là một kẻ khốn nạn đã lừa cha con nó ư? Hay nói là cha nó bị bệnh vô sinh nên vợ chồng chị xin con nuôi? Xin con nuôi? Nó sẽ lục lọi sổ sách các bệnh viên để tìm cho ra cha mẹ ruột của nó. Nó có quyền làm thế!

Ôi, mình ơi! Chị lại nấc lên, vô vọng. Chị trở dậy, lật đật châm nến. sao hôm nay bàn thờ anh lửa hương lại tắt cả thế này? Chị sa sẩm mặt mày. Chị đổ sụp xuống đất tưởng không thể nào đứng lên được nữa. Thứ bảy tới, con trai chị điện là sẽ về thắp hương cho bố. Nó đã coi thường mẹ nó. Con trai mà! Khi đã trưởng thành, bao giờ chúng cũng nghiêng về bố, người truyền cho nó dòng máu nóng và ý chí vượt lên số phận. Nó sẽ hỏi mẹ bằng một câu hỏi thẳng đẻ mẹ nó không thể lẩn tránh, rằng bố đẻ nó là ai? Mẹ có thể lừa dối bố. Với con thì không!

Chị biết mình đang đối diện với sự thật phũ phàng: Một là tiếp tục lừa dối con, hai, nói thẳng với nó sự thật.

Không! Chị không có quyền nói ra sự thật. Nó là kết quả của sự giao phối thú tính, giọt nạn ngoại bang mà mẹ nó bị cưỡng bức. Mẹ nó mấy lần định xổ ra nhưng người đàn ông nhân đức là cha của nó bây giờ đã giữ lại và nhận là huyết thống của mình. Liệu nó có cám ơn người đàn ông mà nó vẫn gọi là cha không? Và khi nó biết, cha ruột nó là ai thì liệu nó có trở về nơi cội nguồn để tìm lại người cha đẻ của nó không?

Chị hình dung lại khi thằng Pôn Pốt dáng to cao, mầu da tái đen, mồm tru ra như mõm ác thú đè lên chị. Hàm răng nó nhe ra trắng ởn như mặt sư tử đực, vừa mạnh mẽ, vừa man dại. Thằng đó! Linh cảm của người đàn bà mách bảo cho chị biết, khi chị rướn người lên theo bản năng, chính là cha ruột của đứa con chị bây giờ.

Ôi, con ơi! Tội ác và tình yêu! Tội ác của cha ruột con và tình yêu của cha nuôi con. Giá cha thật của nó là loài ác thú thì mọi sự đã khác bởi giữa hai loài khác mã gien, không thể thụ thai. Chị chị bị dày vò bởi nỗi đau đớn về thể xác chứ không khốn khổ về tinh thần. Nhưng khốn nỗi, lại là người nhưng lòng lang dạ thú. Cũng không hiểu tại sao, từ khi chị sinh ra nó, anh như người mê muội, suốt ngày ôm ấp chăm ẵm, yêu thương nó hơn cả bản thân mình. Những tháng ngày kinh tế khó khăn thời bao cấp, anh dành cho nó sự toàn bộ sự ưu ái, thậm chí anh còn bớt khẩu phần của ông bà nội. Ôi, giọt máu tai ương của mẹ!

Giờ thì em biết làm sao đây? Nỗi đau nhất của người đàn bà là khi sinh con ra, không dám nói với con ai là bố đẻ của nó.

Chị cứ nằm một mình nhìn trân trân lên đình màn, cõi lòng tan nát. Không thể trốn chạy. Chị hình dung ra đôi mắt có chút gì đó quan hệ với đôi mắt hung dữ của tên Pôn Pốt, cha của nó và hỏi chị mỗi một câu: - Bà hãy trả lời cho tôi biết, cha ruột tôi là ai?

Chị chợt nhớ đến lời nói của anh trong cái đêm tối đen trên dòng sông Mê Công: - Những tên Pôn Pốt khi sinh ra, chúng đâu có man dại đến mức tự hủy diệt dân tộc mình? Chúng là kết quả của một học thuyết lai căng và phi nhân tính. Chúng không có tội. Những kẻ đứng phía sau nuôi dưỡng và nhồi nhét vào đầu chúng những thứ gọi là học thuyết, xúi bẩy chúng tự hủy diệt dân tộc mình và các dân tộc anh em, mới có tội.

Giờ thì anh đã chết rồi. Ôi, mình ơi! Đến giờ phút nguy nan, cũng không cậy được con! Con anh không có lỗi, anh không có lỗi, và vì tình yêu đồng loại, em cũng không có lỗi. Chị nhớ lại khi chị nhìn sâu vào vẻ mặt của anh trước khi nhắm mắt, rất thanh thản. Chị biết, anh không ân hận. Anh đã mang theo xuống mồ một tấm lòng vị tha và đức tin vĩnh cửu.


Chị tỉnh dậy sau một đêm mưa, sấm sét đùng đùng. Chính những tia sét đêm qua vừa làm cho chị hoảng hốt lại vừa ngủ mê đi. Những tia chớp rạch ngang bầu trời đã giúp chị tìm ra một phương hướng: Chỉ còn cách tìm đến cái chết! Chết là chấm hết mọi chuyện! Vừa che dấu được quá khứ, vừa tìm đến với người chồng bạc mệnh của mình. Chị và chồng chị sẽ mang theo bí mật xuống mồ. Cái quan trọng nhất là con trai chị sẽ mãi mãi không biết sự thật về người cha của nó. Phải chấp nhận hy sinh cho con! Hình như có điềm báo, chẳng thế mà cái đêm trước hôm anh ra thăm con trai, anh đã dặn chị: Quá khứ có những việc phải chôn vùi không bao giờ được nhắc tới, bởi nó làm tan vỡ tương lai. Nhưng có những chuyện không bao giờ được lãng quên bởi nó cảnh báo trước để hiện tại không lặp lại. Đúng vậy! Nếu con trai chị biết, sẽ làm tan nát tâm hồn nó, sụp đổ niềm kiêu hãnh của nó về một người cha lâu nay nó vẫn hằng ngưỡng mộ. Nó sẽ là một tiến sỹ triết học, nó sẽ trở thành viện trưởng, rồi viện sỹ trong tương lai. Cuộc đời nó mọi sự phải toàn vẹn. Đến thế hệ tiếp theo, hai đứa cháu của chị, sẽ lại kế thừa dòng máu trong huyết quản cha nó. Quá khứ hoàn toàn bị xóa sạch và cần phải xóa sạch vĩnh viễn đối với cha con nhà nó! Nghĩ thế, chị nhẹ nhàng trở dậy, lặng lẽ mở tủ thuốc gia đình. Hai tay run run nhưng cương quyết, chị bóc tất cả những viên thuốc mầu đỏ nhỏ tí trong bốn vĩ thuốc làm giãn mạch, cho vào miệng, nâng cốc nước lọc đổ theo và nuốt chửng...


Phải hai ngày sau, tức là chiều thứ bảy, con trai chị mới về. Nhìn thấy mẹ nằm im thiêm thiếp, hai mắt nhắm nghiền, trông mẹ trẻ ra đến hàng chục tuổi, toàn thân đỏ hồng nhưng sao lay mãi mẹ không tỉnh. Anh ta hoảng hốt gọi bác sỹ đến cấp cứu. Người bác sỹ nâng nhẹ thân hình người đàn bà lên, đưa tay xem mạch, kiểm tra đồng tử mắt. Bác sỹ lắc đầu. Anh thông báo với giáo sư tiến sỹ triết học Phạm Khang rằng: Các động mạch của mẹ anh bị giãn đột ngột, máu không lên nuôi não. Bà đã "đi" từ hai tiếng đồng hồ trước.

Tiến sỹ Phạm Khang quỳ xuống, gục đầu lên thi hài người mẹ còn chưa lạnh. Anh nấc lên:

- Mẹ ơi! Con biết lỗi của con rồi! Có những bí mật của đấng sinh thành, con không bao giờ được biết đến. Con không có quyền được hỏi bởi con biết những nỗi vất vã đớn đau của cuộc đời cay nghiệt. Con được ăn học đỗ đạt như thế này là nhờ công lao của cha mẹ. Dù người cha vừa mất không phải là cha ruột của con nhưng đã cưu mang nuôi dưỡng con thì người đó là cha của con rồi mẹ ạ! Dù cha ruột của con là ai, con chỉ mong sao, ông ấy là một người lương thiện.

Như có một luồng điện sinh học truyền qua, người bác sỹ đứng cạnh không tin vào mắt mình. Ông thấy khuôn mặt bà Lê Lan Phương như hồng trở lại, trên khóe miệng bà ẩn một nụ cười mãn nguyện...


1/2016



.Cập nhật theo nguyên bản của tác giả gởi từ Thanh Hóa ngày 17.4.2016.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004