Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới






CÂU CHUYỆN KÝ ỨC KHẮC GHI TRONG TÔI











Cuối năm học 1964-1965, tôi đậu tú tài phần hai và nhận lệnh phải đi “quân dịch”. Người thầy dạy môn Anh ngữ tên là Nguyễn Văn Mười, nguyên là sỹ quan phòng không trong quân lực Việt Nam cộng hòa, vốn rất có cảm tình với tôi, có lẽ do tôi hiền lành và luôn học khá môn Anh ngữ. Một hôm sau giờ học, thầy Mười gọi tôi vào văn phòng:

- Chào em Nguyễn Công Thành ! Thầy thấy em có năng khiếu môn Anh ngữ, học tập khá toàn diện, với hình thể của em, đủ điều kiện để vào quân chủng không lực. Nếu em đồng ý, thầy sẽ là “người hướng đạo” cho em đi !

Từ gợi ý của thầy Mười, tôi về thưa chuyện với mẹ tôi với ý nghĩ theo con đường lái máy bay của thầy Mười , thử vận cuộc đời mình. Hơn thế nữa, hai từ “Phi công” lúc nấy giờ nghe uy nghi lắm; gây háo hức, thôi thúc trong tôi.

- Mẹ chỉ mong muốn một điều là con không nên trực tiếp cầm súng bắn lại cha, anh của con. Mẹ vẫn biết quy luật của chiến tranh là tàn khốc, nhưng nghề lái máy bay chắc không gây hại nhiều như các binh chủng khác..Tùy con, vì đằng nào con cũng phải đi “quân dịch”. Mẹ còn đủ sức, ở nhà với chị ba của con, lo làm ăn cũng được...Con cứ yên tâm đi đi. Mẹ chỉ nhắc con là dù làm gì, con cũng luôn nghĩ đến từ bi, yêu thương quý trọng con người, mà dây chuỗi bồ đề mẹ mang cho các con trong cườm tay là vật chứng nhắc nhở con làm điều thiện, nghen con- Mẹ tôi rươm rướm nước mắt !

Hai mẹ con tôi ôm nhau sụt sùi một hồi lâu. Chị ba của tôi cũng khóc rưng rức !

- Em đi nhớ thường biên thơ gởi về cho mẹ và chị nghen em! Chị cầu Phật trời gia hộ cho em đi an lành !

Ngày sau đó, tôi lên đường xa mẹ và chị tôi. Người anh trai của tôi, từ năm 1961 đã “nhảy núi”. Chỉ còn ba mẹ con tôi phải vào Trại định cư, xã Phước Thạnh, quận Tuy Phước do chính quyền Việt Nam cộng hòa lập ra để quản lý dân tản cư. Tôi được mẹ và chị tảo tần buôn bán rau quả, nuôi tôi ăn học đến ngày đi quân dịch.

Sau vào quân ngũ tập luyện một thời gian ngắn, tôi được chọn đưa sang Fort Rucker, Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ học khóa huấn luyện lái máy bay trực thăng. Sau gần một năm học tập, kết quả được xếp loại xuất sắc và tôi về nước nhận nhiệm vụ tại Không đoàn 45 chiến thuật- thuộc Bộ tư lệnh không quân Việt Nam cộng hòa. Tôi được gắn lon trung úy và được giữ chức trưởng phi cơ chiếc trực thăng. Phi hành đoàn chúng tôi, ngoài tôi, còn có hoa tiêu phó là trung úy Hà Thanh Tùng, trung sỹ Nguyễn Dung, cơ khí viên phi hành và một bác sỹ quân y với các dụng cụ, thuốc men cấp cứu khá đầy đủ trên trực thăng. Nhiệm vụ của chúng tôi là đi tải thương từ các chiến trường miền trung Việt Nam. Những năm 1966, 1967, cuộc chiến ngày càng ác liệt, máy bay chúng tôi phải hoạt động tải thương càng tăng tần suất. Với hàng trăm chuyến bay ngày, bay đêm, trực thăng chúng tôi luôn đảm bảo an toàn tuyệt đối. Nhiều lần được thượng cấp khen thưởng .

Tôi nhớ rõ, hôm đó, đúng vào ngày sinh nhật lần thứ 20 của tôi 07/10/1967, tôi được lệnh khẩn đến Phòng hành quân tại sân bay Quy Nhơn nhận nhiệm vụ tải thương đột xuất tại vùng rừng núi quận An Lão, phía bắc tỉnh Bình Định. Phi hành đoàn chúng tôi lên trực thăng, động tác đầu tiên là Check weather (kiểm tra thời tiết), nhận thấy thời tiết vùng núi An Lão lúc này mây nhiều và có mưa. 9g30, trực thăng chúng tôi cất cánh. Tôi lấy độ cao, rồi trực chỉ theo hướng quận An Lão Sau hơn 30 phút bay, tới điểm check point, đích cần đến, trời mây giăng dày đặc và mù sương phủ kín. Chúng tôi cho hạ độ cao dần. Bỗng nghe tiếng động quất vào động cơ trực thăng, “bộp bộp”, lập tức tiếng nổ máy bay khác thường. Tôi lấy bình tĩnh đầy cần “mixture” lên “full”, check lại những đồng hồ phi cụ. Nhưng vòng quay của máy (RPM) lại tiếp tục bất thường và chiếc trực thăng chúng tôi mất độ cao dần dần. Trung úy Hà Thanh Tùng hốt hoảng chụp vào cần lái, ấn intercom hét to, “núi”, “núi”!!! , và ấn nút Emergency-Force (khẩn cấp)...Nhưng, không kịp nữa, một tràng tiếng “ầm, ầm!!” Cây cối rừng bị phang ngã ào ào! Cánh quạt và đuôi trực thăng văng ra khỏi thân máy bay! Đầu trực thăng cắm xuống đất rừng! Cú va chạm quá mạnh, làm lồng ngực tôi như bị vỡ ra.! Tôi gắng sức bình sinh mở cửa thoát xuống đất, nhưng quay lại buồng lái thấy trung úy Tùng, chân bị kẹt dưới ghế ngồi. Theo phản xạ, tôi cố dùng tay mở seat bell cho Tùng, cố đẩy bạn ra khỏi buồng lái, rồi tôi cũng lao ra liền. Miệng thét thất thanh: “ Tránh xa máy bay! Coi chừng nổ...!”

- Tao...tao... bị... gãy chân rồi ! Không... bò đi được! Đừng bỏ tao . Tùng méo giọng!

Tôi quặn lòng. Nước mắt ứa ra. Mặn chát môi. Lết nhanh lại phía Tùng.

- Tao không bỏ đồng đội đâu! Bám vào vai tao nè !

Tôi gắng sức cõng Tùng lôi đi, vượt xa thân trực thăng chừng 10 mét. Tùng hét vào tai tôi:

- Còn thằng Dung và bác sỹ Thân đâu?

Tôi vội quay mặt nhìn lại chiếc trực thăng, hoảng hốt thấy trung sỹ Nguyễn Dung gục đầu nơi cửa máy bay, máu còn chảy! Và bác sỹ Trần Thân, bị văng ra cách máy bay hơn chục mét , máu me be bét. Bất động. Tôi lặng người, vì biết cả hai đều đã chết. Còn chiếc trực thăng bị phân hai hai phần; thân một nơi và đuôi trực thăng thì treo lơ lửng trên nhành cổ thụ. Thằng trung sỹ Dung vừa mới mừng thôi nôi con gái đầu lòng của nó hôm qua, tôi cũng được mời đến dự tiệc nhỏ. Giờ nó không còn dịp nhìn thấy mặt con nữa! Tôi chợt xót xa nghĩ đến lời ru ca dao:

“ À ơi! ...Cái ngủ mày ngủ cho say

Bố mày đi đánh giặc xa chưa về...!”

Như cái xác không hồn, tôi cố cõng Tùng đi về phía dốc núi. Ngay lúc này, trời vụt xâm mờ, mưa đổ ầm ầm, gió rét căm căm...như điệu nhạc hoang dã, man rợ...làm tôi rùng mình. Có lẽ nhờ cơn mưa rừng lớn, mà trực thăng chúng tôi tuy bị đâm đầu xuống rừng cây, xăng chảy ra lênh láng mà không bị phát nổ, bốc cháy. Tôi trấn tĩnh lại và tự dưng thấy mình cứng cỏi, vững vàng, cố cõng Tùng chạy nhanh đến hang đá cách máy bay chừng 200 mét. Hang đá này rộng chừng 6 mét vuông. Ba bên kín. Phía trên hang là một tảng đá lớn làm mái lợp, khá bằng phẳng. Bom đạn khó mà xuyên thấu. Cửa hang hẹp, thấp, phải khom người mới chui vào được. Tôi đặt Tùng vào hang đá để tránh mưa rừng mỗi lúc một nặng hạt. Nhìn đồng hồ trên tay, kim chỉ đúng 12 trưa. Chờ cơn mưa tạnh, tôi nói với Tùng:

- Mày nằm yên nghỉ đây! Tao phải quay lại trực thăng để lo “hậu sự” cho hai đồng đội nhé! Và lấy các vật dụng cần thiết trên máy bay...

Tôi lao đi! Tay trái nắm lấy xâu chuỗi bồ đề mẹ tôi mang vào cườm tay tôi từ lúc chiến tranh xảy ra. Lúc này, tôi như nghe tiếng của mẹ tôi bật lên từ một cõi thăm thẳm nào đó, mờ mịt mây, mờ mịt núi:

- Con ơi !...Dù làm gì con cũng luôn nghĩ đến “từ bi”...yêu thương quý trọng con người!

Rồi lại vang lên tiếng mẹ từng nhắc lại lời dạy của Thích Đạt Ma Phổ Giác: “Chúng ta không nên lo lắng quá nhiều, vì nó sẽ phá hỏng nội tâm, làm cho chúng ta khiếp đảm, bất an...Bình tĩnh sáng suốt khi đối diện với chướng duyên, nghịch cảnh..”

Lời đó, như tiếp sức cho tôi. Đến máy bay, tôi trèo lên thân, kéo hai chiếc băng ca đặt dưới đất, rồi ẵm Dung đưa xuống băng ca..Lấy băng gạc, lau đầu và mặt Dung cho sạch máu. Mắt Dung còn mở mờ đục, tôi đưa tay vuốt nhẹ vài lần và mắt nó khép lại như ngủ. Tiếp đó, tôi lại ẵm bác sỹ Trần Thân cũng đặt nằm ngay ngắn trên băng ca thứ 2... Tôi xé bọc nylon bản đồ, phủ lên mặt hai bạn, tránh mưa chan vào mặt bạn. Quặn lòng, nước mắt tuôn trào, tôi thầm khấn:

- Hai bạn ơi ! Xin hai bạn hãy tha thứ cho tôi ! Và hãy phù hộ cho hai chúng tôi còn sống sót được an lành, để đưa hai thi thể bạn về quê nhà...!

Xong việc, tôi quay trở lại hang đá, lấy bông băng, thuốc sát trùng rửa bó vế thương chân của Tùng. Tùng nằm thiêm thiếp. Khi thấy tôi trở lại, Tùng thì thào: “Tao đói và khát nước”. Lúc này mưa ngưng hẵn. Tôi lần theo nước chảy trên mặt đất, cố tìm ra con suối để lấy nước và tìm thức ăn. Quả nhiên, đi xuống triền núi chừng 300 mét, tôi thấy con suối nhỏ, nước trong veo. Tôi liền lấy bi-đông múc nước và khi nhìn lên đầu nguồn suối thấy có bụi chuối rừng và một buồng chuối đang độ chính vàng ruộm. Tôi mừng như bắt được của quý. Bẻ lấy một cành cây rừng, tôi cố băm dần dần cho thân cây chuối cao hơn 2 mét, đổ xuống, để lấy buồng chuối với 5 nải. Tôi mang nước và chuối rừng về hang đá. Hai chúng tôi ngấu nghiến như chưa bao giờ được ăn. Để giảm bớt lạnh tạt vào hang, tôi bẻ lá cây rừng lấp bớt miệng hang và chọn lá cây mềm, khô nước lót dưới nền để ủ hơi ấm, nằm. Hai chúng tôi phải cởi đồ philot, hong gió cho khô dần... Rồi ngủ thiếp lúc nào chẳng hay.

Tôi choàng tỉnh dậy bỡi mưa lại đổ ầm ầm; giông gió chuyển trời, rung đất. Tùng trở mình rên rỉ, có lẽ vết thương ở chân đang hành bạn. Tôi khẽ khàng quay qua ôm lấy Tùng cho hơi ấm truyền qua bạn. Liếc qua đồng hồ dạ quang, tôi thấy kim chỉ hơn 2 giờ sáng. Mưa vẫn trút nước ào ào. Tùng lại run lên bần bật, rít từng tiếng dài: “Lạnh..lạnh... quá” ! Tôi phải lấy thêm mớ lá cây rừng đắp kín lên đôi chân của Tùng. Tôi tự nhũ lòng: “Đừng thở dài, hãy vươn vai mà sống” . Rồi màn đêm cũng được vén lên. Vài tia nắng yếu ớt vạch lá rừng chui vào hang đá chúng tôi. Sau khi đẩy mớ lá cây cửa hang cho ánh nắng lùa thêm vào, tôi dìu Tùng ngồi dậy, lấy nước và chuối làm bữa “điểm tâm” cho chúng tôi. Tiếp đó, tôi bò ra khỏi cửa hang, quan sát chung quanh và nhìn lên bầu trời. Cây rừng um tùm và phía trên tán cây là bầu trời lúc quang mây, lúc âm u. Tôi lại trèo lên dốc, đến hai thi thể của đồng đội. Hai bạn như đang ngủ say trên chiếc băng ca đặt bên xác máy bay trực thăng. Mưa rừng đã làm ướt sũng quần áo và chiếc băng ca hai bạn đang nằm. Có lẽ mưa lạnh nên thi thể hai bạn vẫn chưa trương lên. Tôi lại thầm khấn: “ Mong hai bạn an giấc và phù hộ cho tôi sớm đưa hai bạn về quê nhà”.

Một ngày nữa trôi lê thê trong khu rừng hoang giá lạnh. Tôi trở về hang chăm sóc vết thương cho Tùng. Nhờ có các dụng cụ y tế lấy từ bác sỹ quân y, tôi liên tục rửa vết thương chân cho Tùng, nên vết thương có dấu hiệu “hiền lành”. Tùng cũng bớt rên xiết. Tôi mừng lắm. Vết bầm nơi ngực và cánh tay tôi cũng mờ dần. Chúng tôi cứ ăn chuối, uống nước suối cầm hơi.

Mới có 17 giờ kém, mà toàn cánh rừng đang hòa dần trong màn sương u ám. Một lát sau, cánh rừng lại dầm mình trong mưa lớn. Cái lạnh bắt đầu xồng xộc vào hang. Tôi lấy thêm lá cây phủ kín hang, lót thêm chỗ Tùng và tôi nằm. Chúng tôi lại quấn lấy nhau nằm lặng im; mỗi người theo đuổi một ý nghĩ miên man. Đột nhiên, Tùng ôm lấy tôi và nói nhỏ vào tai tôi:

- Tao muốn nghe lại giọng hát của mày!

- Ừ , mày thích, thì tao chiều..!

Ngoài trời, đang mưa gió não nề, tâm trạng tôi hòa với cảnh vật u buồn ấy... Chợt nhớ đến bản nhạc “Xin thời gian qua mau” của nhạc sỹ Lam Phương. Tôi đằng hắng giọng....

Buồn nào hơn đêm nay. 
Buồn nào hơn đêm nay
 
Khi ngoài kia bão tố đầy trời.
 
Từng cánh lá cuốn gió
 
Rơi vào lòng đêm thâu.
 
Thương thầm mối tình ngâu.
 

Ngày về ôi xa quá.
 
Cánh nhạn còn miệt mài.
 
Trong nắng hồng mê say.
 
Lạc bầy chim chíu chít.
 
Hai phương trời cách biệt.
 
Đêm chờ và đêm mong.
 ...

Bất chợt, chúng tôi nghe tiếng bước chân bên ngoài gần cửa hang và một giọng nói nam, trong hơi thở hồng hộc:

- Đến cửa hang rồi! Thủ trưởng Tuấn ơi ! Ủa, ủa...sao mà lá cây ở đâu mà lấp đầy miệng hang vầy!

- Coi chừng thú dữ ẩn nấp mưa gió đó! Một giọng nam khác nói trong mệt nhọc.

- Thủ trưởng nấp qua một bên, đưa súng AK cho em bắn dọn đường trong hang.

Nghe thế, tôi và Tùng giật bắn người, vội ngồi dậy nép mình vào sát vách hang. Nghe tiếng động gạt lá cây xào xạc trước cửa hang. Rồi một phát đạn “bùm” bay vào hang, chạm đá, lóe lên ánh lửa. Bản năng sinh tồn, tôi hét lớn:

- Đừng bắn nữa, có người, có người!

- Ai? Ai? Giơ tay lên!!! Một giọng nam ban đầu hô to.

- Chúng tôi lạc đường, vào đây tránh mưa gió- Tôi lên tiếng

- Yêu cầu bước ra khỏi miệng hang! Không thì tôi bắn.

- Dạ, dạ !!! Tôi ra đây!

Tôi bò ra khỏi miệng hang trong bộ dạng chỉ có độc chiếc quần lót và hai tay để trên đầu. Lúc này, trời đã nhá nhem và đã ngớt mưa, nhưng cái lạnh như cắt da thịt. Tôi run cầm cập. Người cầm súng cao, to hỏi lớn:

- Anh là ai? Anh từ đâu đến đây?

- Tôi bị lạc rừng. Bên trong hang còn một anh bạn nữa bị té gãy chân. Tôi cố giấu tung tích, vì tôi biết họ là Việt Cộng. Tôi đưa mắt nhìn qua người thứ hai cũng mặc bộ đồ xanh lá cây đang nằm co ro bên trái cửa hang. Ông ta lên tiếng:

- Họ là người lành đó! Thôi, cùng nhau vào hang đi, kẻo chết cóng hết!

- Dạ, dạ, tuân lệnh thủ trưởng! Người cầm súng AK hạ giọng. Thôi, cho anh chui lại vào hang.

Người được gọi là thủ trưởng Tuấn, bàn chân trái bị băng kín bằng vải , được ông cầm AK cõng vào hang. Thấy 3 người vào, Tùng ngồi bật dậy. Ông Tuấn, rọi đèn pin vào Tùng hỏi:

- Anh bị gãy chân à?

- Dạ! Tùng lí nhí

- Quê quán các anh ở đâu? Làm gì trên rừng này mà bị lạc?

- Dạ, em quê quán ở huyện Tuy Phước- Tôi đỡ lời cho Tùng. Theo người quen lên rừng tìm gỗ hương...bán kiếm tiền.

- Tuy Phước, thôn, xã nào? Người tên Tuấn tiếp tục truy vấn tôi.

- Dạ, thôn Phổ Đồng, xã Phước Thắng !

- Cậu con nhà ai thôn Phổ Đồng?

- Dạ, cha em tên là Nguyễn Canh và mẹ là Trần Thị Sinh..

- Trời đất ơi! ...Đúng không?

- Dạ đúng?

- Vậy, cậu có phải tên là Nguyễn Công Thành hay không?

- Dạ, đúng !

Ông ta lao đến ôm tôi vào lòng! Nước mắt ông thấm ấm cả tấm lưng tôi. Lạc giọng, ông sụt sùi:

- Em ơi ! Anh là anh trai của em đây nè! Anh Tuấn đây, em nhớ ra chưa? Vừa nói, ông ta vừa bấm đèn pin vào mặt ông ta.

- Anh, anh! Vậy là Trời Phật xui khiến anh em mình gặp nhau đây! Tôi ràng rụa nước mắt. Hai tay ôm choàng chặt lấy anh. Vóc dáng anh, thì nhỏ thó, đứng chỉ tới vai tôi và nước da ngâm đen giống mẹ ; trái với thân hình vạm vỡ của tôi, gien của cha . Hai anh em lại ở hai chiến tuyến. Qua ánh đèn pin, tôi nhìn thấy tay phải anh cũng đeo một xâu chuỗi bồ đề. Tôi sờ nó.

- Dây chuỗi bồ đề, mẹ mình cho hai anh em đeo từ thuở loạn lạc nè! Anh Tuấn vừa nói vừa kéo tay tôi và anh soi rọi hai dây chuỗi bồ đề trong cườm tay giống hệt nhau. Em đừng giấu anh nữa, em là phi công ngụy đúng không? Chiếc trực thăng bị các anh bắn rơi...cách đây hai ngày là do em lái phải không? Hai bộ đồ phi công này, là minh chứng đúng không em?

- Dạ, đúng vậy anh à!...Anh ơi, không ngờ hai đối thủ trên hai chiến tuyến lại gặp nhau trong cảnh ngộ này...! Tôi nấc lên...

- Em à! Chỉ cần ta quay lưng lại với “cái xấu” là ta sẽ nhìn ra con đường tới “cái thiện” . Anh Tuấn lại ôm chặt lấy tôi. Hạnh phúc như đang nở hoa trong hai em chúng tôi.

Tùng và người lính Việt Cộng cầm AK gục đầu, xúc động.

Chỉ vào người lính Việt Cộng cầm AK, anh Tuấn nói:

- Đây là Sơn, lính của anh. Không có nó, có lẽ anh chết cách đây hai ngày rồi. Anh là đại đội trưởng bị thương nát bàn chân trái trong trận đánh với địch. Đại đội anh bị thất trận, do binh lực của địch quá mạnh...Sơn cõng anh tránh bao hiểm nguy mấy ngày nay. Nhưng, giờ vết thương chân anh có lẽ bị nhiễm trùng, đau nhức và bị sốt liên tục...Anh Tuấn kể lại.

Tôi liền lấy đèn pin từ tay anh, soi rọi xuống bàn chân, mở dây băng đầy bùn đất ra. Vết thương nung mủ, màu hoen đỏ loét. Nhờ Sơn cầm đèn pin soi vào bàn chân anh Tuấn, tôi lấy bông băng, thuốc sát trùng rửa vết thương chân anh..Sơn thì bị đạn “ăn” mất vành tai phải, máu cứ ứa ra. Tôi cũng đã rửa vết thương cho Sơn, nhưng có lẽ Sơn to khỏe, vết thương không làm “quỵ” nổi.

Tùng lấy nải chuối cuối cùng , bẻ ra , mời anh Tuấn và Sơn...

Vừa ăn xong quả chuối, anh Tuấn ngã ra nền, run cầm cập, mắt nhắm riết. Miệng anh kêu: “Lạnh quá, chịu không nổi nữa.” Tôi lấy bộ đồ phi công choàng qua anh..mà anh vẫn không bớt run. Ngay lúc đó, Sơn nói:

- Tôi có cách xông lửa ấm cho anh..Vừa nói, anh lao ra khỏi hang.

Một lát sau, Sơn mang vào hang một quả đạn pháo 105 ly.. Rồi anh ta dùng lưỡi lê hì hục moi trong đầu đạn. Chứng kiến cảnh này, tôi và Tùng hoảng hồn. Tôi nói như khuyên giải:

- Đừng, đừng, coi chừng nổ đó!

- Không sao đâu! Tôi đã tháo ngòi nổ trước khi đem vào hang mà.

Miệng nói, hai tay Sơn bê quả pháo trút ra thuốc gây cháy lên đống cây rửng, rồi bật lửa đốt đống thuốc. Lửa bén, đống cây tươi rói cháy rần rật...Hơi ấm lan tỏa trong hang.. Bớt lên cơn run, anh Tuấn nằm yên thiêm thiếp.

- Anh bạo dạn quá, không sợ nguy hiểm sao dám tháo quả đạn pháo? Tôi hỏi Sơn.

- Các anh có nghe câu chuyện lính Việt Nam tham gia cuộc thi quốc tế được xếp “ngoại hạng” chưa? Sơn cười cười. Để tôi kể cho các anh nghe vui tai và quên bớt đau nhức, nhé!..Một cuộc thi quốc tế để tranh “giải dũng cảm”, gồm 3 nước: Nhật- Mỹ và Việt Nam. Trước mặt Ban giám khảo, một người lính Nhật Bản, sau khi thất trận, rút kiếm ra mổ bụng tự tử, ngã lăn ra đất, gan ruột xổ ra, gớm giếc. Ban giám khảo nhất trí chỉ cho 7 điểm dũng cảm, vì cách chết quá mất vệ sinh và thiếu thẩm mĩ. Đến lượt lính Mỹ, lắp đạn vào khẩu súng colt, kề sát mang tai, bóp cò. Một tiếng nổ gọn gàng và anh ta ngã lăn ra đất, trên mang tai chỉ để lại một vết thương nhỏ. Ban giám khảo công nhận lính Mỹ dũng cảm và nhất trí cho 8 điểm. Đến lượt lính Việt Nam, anh ta bê ra trước mặt Ban giám khảo một quả đạn pháo lép, như quả đạn này-Sơn gõ tay vào quả đạn trước mặt. Rồi dùng cưa, cưa quả đạn pháo...Ban giám khảo trố mắt, hồn vía bay lên mây, vội vàng hô lớn:

- Thôi, thôi, đừng cưa nữa!!! Chúng tôi nhất trí cho anh 10 điểm ngoại hạng...

Tôi và Tùng bật cười hả hê . Còn anh Tuấn của tôi tuy bị lên cơn lạnh run người, cũng nhếch mép, mặt tươi rói. Một lát sau, chúng tôi ngã lưng, thiu thỉu...nhờ hơn ấm từ đống lửa tỏa ra. Khoảng gần sáng, anh Tuấn trở mình, kêu..:

- Nóng quá ! Nóng quá!...Cõng anh ra cửa hang giùm đi..! . Cho uống nước! Nước !

Tôi cỡi bộ đồ phi công của tôi đắp trên người anh, mớm nước cho anh; rồi bò ra khỏi miệng hang. Quan sát bốn bề, thấy im ắng. Tôi vào hang, cõng anh ra, đặt anh nằm trên mớ lá cây. Anh bất động. Mắt thâm quầng. Mất hết sức sống! Tôi như ngồi trên đống lửa. Trời đã hửng nắng. Tôi lấy bộ đồ phi công che mặt anh. Vừa lúc đó, tôi nghe tiếng máy bay trực thăng. Tôi nhìn lên thấy phù hiệu máy bay của không lực Việt Nam cộng hòa. Lòng tôi như đang hát to, vui mừng khôn xiết. Tôi liền vớ lấy bộ đồ phi công, leo lên đỉnh miệng hang đá. Chiếc trực thăng đảo lại. Tôi vội lấy áo huơ, huơ lên không gian. Hình như thấy tín hiệu của tôi, chiếc trực thăng làm low pass và thả xuống trái khói ngay gần chỗ tôi, có khoảng đất trống. Lúc này, Tùng và Sơn cũng đang đứng gần tôi.. Tùng đã khoác lại bộ đồ phi công. Sơn vẫn cầm khẩu AK trên tay. Tôi hét lớn vứt súng đi ! Nguy hiểm lắm! Sơn liền quăng súng vào hang. Tôi hô lớn :

- Cõng giùm anh Tuấn xuống chỗ trái khói đang xịt ra kia kìa !

Sơn đến xốc anh Tuấn lên lưng và tôi cõng Tũng cùng chạy hướng trái khói..Chiếc trực thăng đang hover chờ đón chúng tôi lên máy bay. Hai đồng đội trên trực thăng cũng lao xuống khiêng hai băng ca thi thể của trung sỹ Dung và bác sỹ Thân lên máy bay.

Thế là, Trời Phật đã phù hộ chúng tôi! Sau chừng một tiếng đồng hồ, chúng tôi đã xuống sân bay Quy Nhơn và được đưa ngay đến viện quân y, trước bãi biển Ghềnh Ráng Tiên Sa.

Tôi và Tùng thống nhất lời khai: Anh Tuấn và anh Sơn là hai người dân địa phương đã cứu giúp chúng tôi từ khi máy bay bị rơi. Vậy là tất cả 4 chúng tôi được điều trị vết thương; chăm sóc thuốc men, ăn uống chu đáo. Riêng anh Tuấn của tôi phải điều trị thêm bệnh sốt rét gần một tháng mới bình phục hoàn toàn. Mừng nhất là bàn chân anh không bị cưa bỏ như lúc đầu một bác sỹ đã đề nghị.

Một đêm trăng sao sáng rực trời, tôi đến bệnh viện thăm lại anh Tuấn. Hai anh em ra ghế đá khu công viên trong viện quân y. Khoảnh khắc ấm áp sum họp này, tôi bỗng thấy vầng hào quang tương phản với khoảng trống mất mát, đau thương.... Khi nói về gia đình, lòng anh em chúng tôi chùng xuống. Hình ảnh người mẹ yêu thương bao nhiêu năm đùm bọc đàn con; rồi mẹ trở thành góa bụa khi đang giữa chừng xuân. Chúng tôi chưa có ngày nào báo hiếu trọn vẹn cho mẹ! . Nắm chặt lấy bàn tay anh, tôi gúi thêm xấp tiền cho anh, vì tôi sắp chuyển công tác về Tây nguyên. Ngay lúc này , Sơn xuất hiện và nói nhanh: “ Anh Tuấn ơi ! Đến giờ rồi anh!” Quay lại anh ôm chặt lấy tôi, rồi vội buông lao ra cổng cùng với Sơn. Một xe máy đang chờ hai người. Bóng chiếc xe vút đi trong ánh trăng mờ nhạt. Tôi đứng trân người, nhìn lên bầu trời xa xăm..Đôi mắt tôi rưng rưng...


(Viết những ngày cuối tháng 3/2016)



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ BìnhĐịnh ngày 03.4.2016.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004