Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





GÓC LÀNG









Chương II




C ơm tối xong, tôi nhót ngay ra ngõ. Bầm tôi chưa ăn cơm, còn tắm bì bũm sau rặng cúc tần cạnh giếng. Tiếng điếu cày roen roét của bố đuổi theo sau lưng. Tôi nhảy chân sáo, trong đầu lại ung ung giọng khàn ấm của chị Nguyệt, đến nỗi nóng bừng cả người. “Tối! Tối nhá!”. Trời mờ trăng suông, đom đóm bay chập choạng quanh gốc đa, soi xét dọc bờ mương. Tôi định chui vào hốc cây đa, nhưng lại sợ rắn. Đôi nam nữ chưa tới chỗ hẹn, mình cứ ngồi phục cạnh hốc cây, lúc nào họ đến, thì chui vào trong.

Tôi co ro, ngồi dính sát gốc đa già, vơ váo nhìn khắp vòm cây rộng tối mờ tối ảo. Lũ chào mào có trên ấy không? Chắc bọn nó ngủ rồi. Xóm làng xung quanh im ắng lạ thường, thấp thoáng những ngọn đèn dầu cao, thấp. Cái thấp là những ngôi nhà ven đồi, sát chân ruộng, cái cao ở lưng chừng đồi, trong những mái nhà dựng xen vườn cọ, có lối đi vòng vèo, bậc thang. Bọn kiến hình như không ngủ, có mấy con rúc tận bẹn tôi, cắn nhoi nhói. Tôi nhìn quanh, tụt vội chiếc quần đùi, rũ kiến. Một tiếng phành phạch ngay trên đầu, trong ngọn đa vút ra, làm tôi suýt đái ra quần. Tiếng con vạc sành gõ vào màn đêm, như báo động. Hay là có ma? Tôi không nhát lắm, dám một mình đi vào nghĩa địa lúc trời tối, theo lời thách thức của bọn thằng Dũng, nhưng một mình dưới vòm cây vắng tôi chợt thấy nhồn nhột. Tôi cố nghĩ tới chuyện khác, cho quên đi nỗi sợ. Tôi tưởng tượng, tí nữa chị Nguyệt và anh xóm Nghè tới, họ sẽ làm gì? Hai người sẽ ngồi xuống bãi cỏ ở cội đa thứ năm, anh kia choàng tay qua vai chị Nguyệt, làm chị ấy xấu hổ cúi mặt xuống. Anh kia lấy tay nâng mặt chị lên, hôn môi, rồi từ từ vật chị nằm ngửa ra cỏ...Sẽ giống y hệt cảnh trong bộ phim “Đất vỡ hoang” của Liên xô mà tôi đã xem, mặc dù người ta thông báo là cấm trẻ em dưới mười tám tuổi. Dưới chỗ tôi ngồi có sự lạ, một rễ cây nào đâm ngược, đội vải quần cứng ngắc. Tôi thò tay xuống sờ xem, chợt nóng mặt xấu hổ. Đó là con chim, tự nhiên nó đựng đứng lên.

Keng keng! Keng!

Keng keng! Keng!

Keng keng! Keng!

Tiếng kẻng trên đỉnh núi Voi chợt vang lên lảnh lói, thúc giục. Trước đây mấy tháng, thấy xã đội phổ biến tình hình chiến sự mới, máy bay Mỹ đã vào ném bom Hải Phòng, Nghệ An, mọi nhà phải khẩn trương đào hầm trú ẩn. Hầm nhà tôi đào ngay cuối vườn, sát con mương cánh đồng Mẫu Ba. Bố, bầm và tôi, ba người hì hục cả tuần mới đào xong. Miệng hầm có bảy bậc lên xuống, nóc hầm ken từng đoạn tre tươi, hình chữ A, trên lấp đất dày. Từ cửa xuống một đoạn, tiếp khúc gấp vuông góc, có một cửa thoát ra vở mương. Dưới sâu một mét rưỡi, nền đất luôn được quét sạch sẽ, rộng đủ trải chiếc rách, buổi trưa bọn trẻ con hàng xóm chơi ú tìm chán thì lăn ra ngủ.

- Xa nhà quá! Nhỡ có máy bay, chạy bao giờ cho tới.

Nghe bầm lo lắng, bố mắng gạt đi.

- Đàn bà biết gì. Hầm phải xa nhà, mới an toàn. Máy bay nó nhìn thấy nhà, nghi ngờ bắn rốc-két là chết cả đám.

Chuyện máy bay chắc chỉ nói cho mọi người cảnh giác, chứ không thấy động tĩnh gì. Tối nay chốt phòng không trên núi gõ kẻng báo động, hay là có máy bay thật. Tôi nhấp nhổm định chạy về, nhưng lại tiếc không được tận mắt xem người ta yêu nhau. Nhưng bây giờ lỡ bố gọi mình, không thấy đâu thì chết. Tôi bấm bụng, chạy về. Qua cổng nhà mọ Bích, thấy đèn đóm tắt hết, chỉ nghe tiếng bà mọ hốt hoảng gọi chó.

- Êu êu! Mực mực! Về đi con ơi. Tàu bay nó đến đới.

Một tiếng rít kinh hoàng ngay trên đầu, tiếng gầm rú giống tiếng xé vải, lại loảng xoảng như sắt thép va vào nhau. Theo phản xạ, tôi nằm sấp xuống mặt đường, cát văng đầy mồm. Lần đầu tiên tôi nghe tiếng máy bay phản lực. Ánh chớp phía núi Voi giần giật, hơi gió nóng ở đâu thốc tới, lật tôi nằm ngửa. Uỳnh! Uỳnh! Uỳnh! Chắc là bom. Tôi nghĩ đến bà nội, đến bố mẹ và em bé gái ba tuổi. Nỗi lo lắng đầy trách nhiệm của thằng con trai mới lớn khiến tôi chồm dậy, co cẳng chạy về nhà, vừa chạy vừa kêu thét.

- Bầm ơi! Em bé ơi! Xuống hầm đi.

Hình như trong đầu tôi thoáng qua rất nhanh điều gì đó nuối tiếc, về một cuộc hẹn trai gái hò dở dang.

Bố vớ được tôi người ngợm đầy đất cát, giáng một bạt tai đau điếng, nổ đom đóm mắt. Đang lúc bom đạn hỗn loạn, thấy con còn sống là mừng rồi, chẳng qua vì lo quá nên bố đánh tôi. Bố ấn cổ tôi vào hầm trú ẩn, cả nhà chen chúc trong ấy. Bà nội ngồi lầm rầm niệm phật. Em bé nằm co ngủ trong lòng bầm. Thấy tôi, bà nội choàng tỉnh. “Ối mèo! Mày đi đâu hở thằng chết chòng kia”.

Sáng, cả làng kéo ra đường nhìn lên mấy hố bom đỏ loét trên sườn núi. Trận bom ném xuống dọc núi Voi, nhằm vào kho xăng dầu ngầm, chôn ở thung lũng phía đít voi, nhưng trượt. Chẳng có ai sây sát. Cây cối, ruộng vườn cũng chẳng ảnh hưởng gì, vì bom toàn ném lên núi. Cái chết trên trời đang rình rập, không còn là chuyện bàn tán cho vui. Mấy ngày liền, đội sản xuất nghỉ việc đồng áng, cho xã viên tu sửa hầm hào. Có hẳn một đội đi kiểm tra hầm trú ẩn từng nhà một, nhà nào làm sơ sài, bắt làm lại. Dọc đường làng, tả luy bên trong cứ cách một trăm mét lại khoét một cái hầm ếch, đủ cho hai người lớn hoặc ba bốn đứa trẻ nấp khi có máy bay địch. Hội trường Hợp tác xã, trụ sở Ủy ban, đều có giao thông hào chạy chữ chi từ cửa tới ven đồi. Trung đội dân quân, còn gọi là B5, bước vào thời kỳ trực chiến 24/24.


***


- Mèo ơi! Cu ơi! Về ăn hột mít luộc này.

Tiên nhân vạn đời bố nó! Giả câm. Giả điếc. Hột mít mật bở tung thế này, mà nó chê. Đến lúc đói ngoác mồm ra, rồi thì cứt đái gì cũng ăn tất. Nó lại vắt vẻo trên cây sung nhà Đức. Ngon lành gì đâu chứ. Chát sít, tắc cổ họng. Con mẹ nó từ hôm bị chồng đánh, ăn cơm độn hột mít, không thấy lèm bèm nữa. Con bé Mít ba tuổi rồi, chứ không thừa sữa bú. Giống mít mật ấy, lá nấu nước, hột nấu canh, sữa về nhiều lắm. Có nước bảo bầm nó đẻ đứa nữa. Nhà có hai đứa con, thời chiến tranh biết thế nào được. Mai kia thằng Cu học xong, mười tám tuổi, lại chả nghĩa vụ quân sự sớm. Nói ghở miệng, chứ lỡ trúng hòn tên mũi đạn như chú Dại nó, tiệt nòi à? Ông nhà này mất sớm, mới 45 tuổi đã bỏ đàn con nheo nhóc năm đứa. Hai đứa đàn bà lấy chồng rồi, chẳng nói làm gì, chứ thằng bố Cả vất quá, suốt ngày cưỡi xe đạp đi long nhong việc làng, việc xã, về tới nhà là lao ra vườn, trườn xuống ruộng. Con vợ thì đủng đỉnh như dê nằm đình, việc nặng nhọc chất cả lên vai chồng, đến việc đẻ thêm đứa con nữa mà nó cũng lười. Thằng Dại hi sinh, chẳng kịp vợ con gì, khéo đến cái vú con gái nó cũng chưa biết tròn méo thế nào. Thằng út thì ham chơi, đi công nhân lâm trường đã ba năm, mà vẫn phải về xin tiền anh Cả.

Gọi là anh Cả quen miệng, chứ tên họ đầy đủ của bố thằng Cu là Phan Đức Hoành, tuổi Giáp Tí. Thằng Cu tuổi Tí giống bố, kém hai giáp sinh năm Mậu Tý, tên khai sinh là Phan Hòa Bình. Anh Cả đặt tên con trai là Hòa Bình, không biết có ý gì. Có thể là qua chín năm bom đạn chống Pháp ác liệt, mong muốn được hòa bình của người ta lớn quá. Hoặc là anh muốn ghi nhớ nơi em trai mình nằm xuống không toàn thân xác, tại Suối Rút, tỉnh Hòa Bình.

Chiến tranh ám ảnh mấy đời nhà anh Cả. Cụ cố nhà anh ngày trước là lính của thủ lĩnh Đề Thám, chết đói trong rừng sâu núi Sáng, bên kia sông Lô, cũng may còn kịp lấy vợ, sinh được người con trai. Bố anh là người buôn gỗ cực giỏi, quanh năm ngồi bè trên sông Hồng, từ Yên Bái về bến Cổ Đô giao gỗ. Chuyến lên lại thuê đò chở dầu, muối lên rừng. Làm ra tiền, nhưng ông ham xóc đĩa. Ông mê những tiếng “chẵn, lẻ” còn hơn mê vợ. “Sinh nghề, tử nghiệp”, ông bị đánh chết trên đường về nhà một cách bí ẩn, sau một trận thắng bạc lớn. Sau trận Điện Biên, anh Cả tưởng rằng con mình sẽ sống trong hòa bình. Anh mơ ước thằng Hòa Bình sẽ học giỏi, được đi học bên Liên Xô, Tiệp Khắc gì đó, họ Phan sẽ mở mày, mở mặt. Nhưng cơ chồi này, không ổn. Tuần trước, bom đã ném xuống làng, tức là chiến tranh đã thò tay đến cửa nhà mình rồi, không còn là chuyện đánh nhau đùng đoàng mãi đâu trong Nam nữa. Bốn mươi tuổi, mình còn trong độ tuổi tổng động viên, nếu cần lại tiếp tục cầm súng. Thằng Cu năm nay mười lăm, ba năm nữa chiến tranh còn ác liệt, rồi cũng đến lượt nó thôi. Anh Cả là chính trị viên xã đội, hội nghị nào, cuộc họp nào, thậm chí trước mỗi buổi chiếu phim, anh đều khản giọng hô hào thanh niên sẵn sàng tòng quân cứu nước. “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, nếu thằng Cu đến tuổi, chắc chắn anh sẽ cho nó đi bộ đội, dù là con một.

Mới trận bom đầu, người làng Nà Rậm đã có những phản ứng khác nhau. Bọn thanh niên cảm thấy thích thú, tò mò khi được trực tiếp đối mặt với chiến tranh. Những người già “gần đất xa trời” thì sợ chết, lạ thế chứ. Họ chỉ lo quanh quẩn gần những chiếc hầm trú ẩn, đi chơi nhà bà con, đi ăn cỗ họ hàng, mới đặt đít ngồi xuống, miệng đã hỏi. “Hầm ở chỗ nào?”. Lão Tạ chủ nhiệm Hợp tác xã nông nghiệp, con người quyền lực nhất xã vì nắm trong tay gạo thóc, thực phẩm. Xã muốn mổ con lợn liên hoan cuối năm, muốn có con ngỗng làm thịt tiếp khách trên huyện, muốn có mấy chục cân gạo cho cán bộ đi học, đều phải qua tay lão Tạ. Vì thế lão mới sợ chết nhất xã. Chiếc xe đạp hiệu Favorits của lão, giá bán cung cấp đã ba trăm tám mươi đồng, người ta mơ chẳng được, thế mà lão bỏ xó, đi làm toàn đi bộ, xuống các đội thì bắt cậu Căn kế toán trưởng đèo bằng chiếc xe đạp Thống Nhất loang lổ sơn xanh. Chiếc xe Favorit do Tiệp Khắc sản xuất, trừ đôi lốp, còn tất cả sáng choang, bố lão Tạ chẳng dám dắt ra đường. Lão cấm cán bộ nhân viên Hợp tác xã đeo đồng hồ, đội nón trắng. Buổi đi thăm đồng, cả đoàn đang đứng quanh bờ ruộng, một chiếc phản lực rẹt qua. Lão Tạ hoảng hốt nhào xuống ruộng, nằm trong đám lúa lơ phơ trổ đòng, miệng la hét chửi ông Liễu phó chủ tịch ủy ban xã.

- Tiên sư nhà ông! Đồng hồ, đồng chảo gì, máy bay nó bắn chết cả đám bây giờ.

Ông Liễu kéo tay áo xuống, che chiếc đồng hồ Polzot, cười nhạt.

- Máy bay ta đấy ông chủ nhiệm ạ, không nhìn thấy ngôi sao năm cánh đỏ à. Mà chết một đống, hơn sống một người. Ông nhảy xuống ruộng, núp, bỏ chúng tôi chết chùm à.

Buổi thăm đồng bị ngừng lại, phần vì trưa rồi, mọi người sợ máy bay địch đến bất ngờ, phần vì ông chủ nhiệm quần áo đầy bùn, ướt từ đầu tới chân. Anh Cả là người bình tĩnh nhất trong đoàn, không phải coi thường máy bay Mỹ, mà tự tin mình có kinh nghiệm. Đã có B35 trực chiến rồi, nếu là máy bay địch, nó sẽ đánh kẻng báo động, chưa chi đã đâm nhào xuống ruộng, mấy cô còn kéo nhau chúi cả vào vách mương, chỉ tổ kiến đốt. Hồi chống Pháp, ngồi dưới giao thông hào, nghe tiếng móc-chê rít trên đầu, anh biết nó rơi ở đâu để liệu đường mà tránh. Bây giờ các ông, các bà cứ nghe tiếng máy bay là náo loạn cả lên, trong khi chiếc phản lực trắng lóa, nhỏ như con ruồi, bay vòng quanh bên núi Tam Đảo xa tít.

Công việc khẩn cấp hiện nay là bắt buộc các gia đình phải có hầm tránh bom chắc chắn. Huy động lực lượng thanh niên, dân quân, tự vệ đào hầm ếch trên tất cả mọi tuyến đường liên thôn, tuyến tỉnh lộ, quốc lộ chạy qua địa bàn xã. Làm thế nào, để khi có máy bay địch, người dân đi trên đường có thể chạy vào căn hầm gần nhất.

Chị Xuân nhà một mình ở chân núi, là người chưa có hầm trú ẩn. Góa chồng, chị một mình nuôi bốn đứa con.Hai đứa của chồng cũ, một đứa của ông thợ mộc dưới Hà Tây lên đóng giường, tủ, một đứa của anh Cầu bộ đội miền nam tập kết. Chị Xuân cứ phây phây như thể tranh hết phần phồn thực của đám đàn bà trong làng. Mặt tròn xoe, lúc nào cũng hây hây đỏ. Ngực, mông ngồn ngộn, thách thức. Anh Cả loay hoay tìm chỗ dựng xe đạp trước sân nhà chị Xuân, đã nhìn thấy như vậy. Đúng là nhà đàn bà góa. Từ cổng vào sân không một gốc cây, bụi chuối, toàn dây xấu hổ bò ngang dọc, lắc lư hoa tím. Mười một giờ trưa, nắng rát mặt. Chắc chủ nhà mới vừa tắm xong, đầu tóc ướt rối, áo thấm nước từng bãi nhỏ, hai bầu vú lớn thả lõng thõng.

- Bác Hoành đến chơi ạ!

- Ừ! Mấy bầm con cơm nước gì chưa?

- Chưa ạ! Mấy đứa nhà em tát xúc dưới đồng, đã thấy mò mặt về đâu.

Anh Cả trật chiếc mũ cọ xuống, phe phảy.

- Nắng nôi thế này, để chúng nó dãi đày ngoài đồng, cảm chết.

Chị Xuân xụ mặt, bước vào nhà. Anh Cả nhìn thấy một bộ mông vĩ đại án trước mặt mình.

- Cho chết bố chúng nó đi. Em nấu canh chuối xanh với lạc rõ ngon, chúng nó chê, rủ nhau đi xúc tép. Bác vào xơi nước.

- Thôi! Nước nôi gì! Hầm trú ẩn nhà cô ở chỗ nào?

Chị Xuân quay ra, không biết vô tình làm bật cúc áo ngực lúc nào.

- Hầm nhà em trong này. Trưa nắng, năm mẹ con chui xuống dưới nằm ngủ, mát lịm.

- Đâu? Chỗ nào?

- Đây mà bác! Cái phản mít này bố con Châm đóng cho, dày năm phân đấy ạ. Có báo động, mẹ con em chui xuống dưới gầm, chả sợ gì sất.

Thế là rõ. Hôm ông Thọ đội trưởng sản xuất báo cáo, anh Cả không tin lắm. Bảo vệ sinh mạng năm con người mà không làm, lười nhác hết chỗ nói rồi.

- Không được! Cô phải đào hầm ngay! Hai đứa lớn cũng bằng thằng Cu nhà tôi rồi chứ bé bỏng gì. Mấy bầm con xúm vào, đào mấy hôm là xong.

Chị Xuân ngồi phệt xuống bậu cửa giữa của căn nhà nhỏ một gian hai chái. Một trận gió dưới thung lũng núi chợt thổi ào lên, mái lá cọ cũ kêu rào rào. Vì chị Xuân ngồi banh hai chân ra, gió áp tới khe giữa đùi, một đám thịt lồi lên sau làn vải phíp mỏng. Anh Cả nhìn tránh đi chỗ khác.

- Nói thật với xã đội, bắt em làm gì em cũng làm, nhưng đào hầm thì em chịu. Em đã thử rồi, cầm lấy chiếc xà beng, tí nữa em ngã ngửa ra ý.

Đúng thế. Cái thân toàn thịt nung núc kia, đào thế nào được hầm. Mà sao ăn đói, con mẹ này vẫn béo tròn, béo trục ra nhỉ? Khó cho mình đây. Nó thí thân, đùa với bom đạn, nhưng nói dại, lỡ bầm con nó thế nào, mình dính kỷ luật om xương. Thôi cũng phải ra tay giúp nhà nó.

- Chủ nhật, cô chuẩn bị cuốc, xẻng. Tôi và ông Thọ sẽ đến giúp một buổi. Mấy bầm con tập trung cả lại, tôi khắc phân công việc cho mà làm.

- Vâng ạ!

Câu trả lời nhẹ như hơi thở. Đương nhiên rồi. Không phải bây giờ mới có người đàn ông ngỏ lời muốn giúp mình. Chị góa nghĩ thầm.


***


Ba tháng hè, bọn học sinh không được nghỉ, mà tập trung chuyển trường đến địa điểm sơ tán. Trường cũ nằm cạnh quốc lộ 2, lại gần trụ sở Ủy ban huyện, nên phải khẩn trương dời đi. Các khối cũng được chia ra từng địa điểm khác nhau, có khi xa hàng cây số. Từ quốc lộ, theo con đường đất đỏ dẫn lên rừng Rậm Dài khoảng ba cây số, rẽ trái theo con đường mòn nhiều rặng tre là tới ba lớp của khối 5. Rẽ phải một cây số là ba lớp của khối 7, chui tọt trong một quả đồi phủ kín các loại cây mít, bưởi và tre, vầu. Đi thẳng lên, rẽ xuống một thung lũng tre gần cánh đồng là khối 6. Bọn trẻ chẳng còn cơ hội đàn đúm với nhau giờ ra chơi nữa. Lớp học làm thấp tè, mái lá cách mặt đất chỉ nửa mét. Sau đó nền lớp được đào sâu một mét sáu mươi, kê hai dãy bàn ghế. Hai bậc lên xuống ngay đầu lớp, nhưng cuối lớp chỉ có một lối thoát ra dãy giao thông hào hình chữ chi, dài mãi cuối vườn. Dọc hai bên là từng căn hầm hình chữ A, cho từng bàn học. Mỗi bàn một căn hầm, thứ tự bàn gần trú xa, bàn xa trú gần. Tôi ngồi dãy bàn thứ hai, gần cuối, nên được sử dụng căn hầm thứ hai, tính từ lớp ra. Bàn tôi, ba trai, hai gái. Con Phúc hơn tôi một tuổi, cao lớn, ra mã thiếu nữ, tóc dài chấm mông lúc nào cũng thoang thoảng mùi hoa bưởi. Con Hoa người mỏng dính như mo nang, tóc hoe nắng, khét lẹt. Tất nhiên cả ba thằng tôi đều mê con Phúc hơn. Những lúc giả báo động, xuống hầm, tôi tìm cách đứng gần con Phúc ở cuối hầm, người rung từng đợt ngây ngất.

- Tránh đường cho tôi ra! Cậu ngủ gật à?

Một lần con Phúc phát vào vai tôi, vì bị chắn mất lối ra khi đã hết báo động. Chẳng qua là tôi đang mê mẩn vì mùi tóc của nó. Thằng Thứ kều có vẻ ganh ghét với tôi, chẳng mấy khi bộ răng sỉn của nó chịu cười trước con Phúc, nếu có tôi bên cạnh.Thầy giáo chủ nhiệm thấy tôi và Thứ kều hay chuyện riêng thì đặt ngay con Phúc vào giữa, bù lại bên kia con Hoa gầy và thằng Mục còn hơn buôn bạc giả, thì thầm suốt buổi học. Nói cho công bằng, Thứ cao hơn tôi nửa cái đầu, đã ra vẻ người lớn, lại học toán cực giỏi. Mỗi lần kiểm tra một tiết môn toán, con Phúc mở to đôi mắt đen long lanh vẻ lo lắng liếc sang thằng Thứ kều, thằng ấy bỗng thay đổi, bộ mặt trở nên vô cùng hiền từ. Tờ giấy nháp rất nhanh được gạt sang chỗ con Phúc. Tôi ngồi bên này, tranh thủ liếc mắt qua, gỡ bí. Cô Lượng cử tôi làm “cán sự” môn văn. Cái chức vô bổ ấy làm tôi một thời mặt vênh như bánh đa nướng. Tôi học văn khá, thường được điểm 4, điểm 5, chẳng bù cho thằng Thứ và con Phúc bị xơi ngỗng liên tục. Hồi ấy, nhà trường chấm theo thang điểm Liên Xô, điểm 5 là cao nhất. Đứa nào bị điểm một, điểm hai thì bị chế là xơi gậy, xơi ngỗng. Nhân một lần con Phúc xơi ngỗng môn văn, tôi làm một bài thơ động viên nó.

Ngỗng về thì mặc ngỗng về

Tóc em dài vẫn đam mê trong lòng

Có người đêm vắng ước mong

Được ôm ngỗng nhỏ trong lòng dịu êm.

Bài thơ dở hơi, ngô nghê kinh người, mà con Phúc lại thích. Học nhóm ban đêm, tôi dúi cho nó bài thơ kia. Phúc che vở đọc xong, quay sang cười với tôi.

- Ngỗng về cho vài con, có nước bỏ học mà lấy chồng, chứ ở đấy mà đam với mê.

Lấy chồng thì càng tốt, có sao đâu. Tự nhiên tôi nghĩ, nếu Phúc bỏ học lấy chồng, thì chồng nó chắc chắn phải là tôi. Lợi dụng con Hoa ra ngoài đi tiểu, tôi liều mạng ôm lấy đầu con Phúc, hôn lên má nó. Nó không nói gì, chỉ cúi xuống bàn, mái tóc dài che kín mặt. Hồn vía tôi bay lơ lửng bên trên.

Công nhận nhà trường cho chúng tôi đi sơ tán rất đúng lúc. Sau trận bom ở núi Voi, không thiệt hại gì, đầu năm học mới thêm trận nữa. Hôm đó, bom Mỹ ném xuống hai quả dọc dộc ruộng núi Đuôi bò. Chỗ ấy, giữa là ruộng, hai bên là đồi núi, chẳng có gì nghi ngờ mà ném bom cả. Sau thấy bố tôi nói, máy bay định bắn phá Ủy ban huyện, nhưng bom ném lạc hơn cây số xuống ruộng. Thứ kều là nạn nhân đầu tiên của làng tôi, chết vì bom. Từ nhà tôi, nhà con Phúc, con Hoa phải đi qua đồi Sóc, men theo lối mòn dọc dộc ruộng tới nhà thằng Thứ, qua một bãi đất rộng chuyên trồng lạc, rồi lội qua con mương, mới tới lớp học sơ tán. Chiều hôm bom ném, cả lớp đi lao động tu sửa hầm trú ẩn. Nhà xa, tôi và con Phúc, con Hoa nắm cơm theo. Chúng tôi không ngồi trong lớp ăn cơm như các nhóm khác, mà ra bóng cọ cạnh hầm, chặt một tàu lá cọ, trải ngồi ăn cơm. Nắm cơm của tôi, hạt gạo đỏ quạch vì độn hạt mít. Cơm của con Phúc trắng tinh, mịn màng vì được lăn kỹ trong khăn mặt ướt. Nắm cơm của con Hoa màu vàng, lổn nhổn những khúc sắn nấu lẫn. Tôi giở thức ăn của mình gói trong lá chuối ra. Một gói muối trắng nướng thâm đen, nhưng thơm mùi tỏi. Con Phúc reo lên.

- Ngon quá! Tớ ăn trước nhé!

Nó nhón khúc sắn nghệ trong phần cơm của con Hoa, chấm vào gói muối, suýt xoa. Đây là món tủ của bà nội, gồm mấy nhánh tỏi, vài thìa muối. Muối và tỏi đem giã nát, để vào chiếc đĩa sành, than hồng trong bếp gắp ra, xếp một lớp dày bên trên. Phe phảy quạt nan một lúc, muối nổ lép bép, tỏi dậy mùi nhức mũi, đến khi than tàn là được.

Con Hoa bỏ ra một lọ mực Cửu Long. Tôi ngạc nhiên hỏi.

- Ăn với mực à?

- Ừ! Mực cũng tốt chứ sao.

Nhưng đó là lọ xì-dầu mà tôi rất mê. Nắm cơm trắng của con Phúc, cắt từng lát mỏng, chấm vào cái nắp lọ bé tí đựng xì-dầu, còn ngon hơn thịt lợn. Con Phúc có vẻ sang nhất, được nguyên một con cá mắm nướng cháy nham nhở. Thứ đặc sản ấy, ăn với nắm cơm độn hạt mít của tôi, lại vừa thơm, vừa bùi. Cả ba đứa cười như nắc nẻ vì chuyện cơm đứa này ăn với thức ăn của đứa kia. Tới lúc ăn xong, ba chai nước uống cũng là sự khác biệt. Chai của con Phúc là xi-rô pha loãng, màu hồng nhạt, uống lờ lợ, muốn nôn. Thứ này chỉ uống chơi, chứ càng uống càng khát nước. Chai của con Hoa là nước vối, chan chát, ngòn ngọt. Chai của tôi là nước lã, múc thẳng lên từ cái giếng mới đào.

Tôi nhìn thẳng vào mắt con Phúc, định đọc cho nó nghe một câu thơ mới đọc được của Xuân Diệu, nhưng thấy mắt nó vô cảm, chăm chú nhìn đàn chuồn chuồn lao ngược, lao xuôi trên ngọn cây cọ.

- Chuồn chuồn bay thấp thì mưa. Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm. Chiều nay râm mát các cậu ạ.

Con Phúc vừa buông lời thì một tiếng rít xé toạc bầu trời xanh, kéo qua trên đầu chúng tôi. Chiếc máy bay phản lực bay thấp quá, như bóng đen con chim đại bàng khổng lồ lướt qua. Đất chỗ bọn tôi ngồi chao đảo, rung chuyển. Tôi vội vàng kéo hai đứa bạn xuống hầm. Lát sau, khói bom từ hướng dộc ruộng bốc lên cao, trùm kín trên khu trường học, mùi khét lẹt, tanh nồng.

Lúc hai giờ chiều, chúng tôi mới nhận được lệnh nghỉ buổi lao động. Thầy giáo chủ nhiệm mắt đỏ hoe, báo tin dữ.

- Bạn Thứ bị bom rồi!

Chiều tối, chúng tôi kéo cả sang nhà Thứ, dự đám tang của nó. Bầm thằng Thứ khóc vật vã.

- Ối con ơi là con ơi! Bầm bảo tí nữa mát hãy đi, con cứ nằng nặc đi sớm để mang cho bạn con sáo mỏ ngà. Thế là bầm mất con rồi thứ ơi!

Bỗng bà hét lên, tiếng khản đặc.

- Cha vạn đời bố thằng Mỹ kia! Sao mày nỡ giết con bà? Con bà nó còn bé, nó có tội tình gì? Hử! Tội tình gì?...

Bầm thằng Thứ ngã vật ra, ngất đi. Tiếng đàn ông vang lên, thúc giục.

- Cô Lành y tá đâu? Tiêm cho chị ấy mũi long não!

Thằng Thứ vận đen. Nó đang tung tăng cầm con sáo đi cạnh bãi trồng lạc thì máy bay xoẹt qua. Quả bom ném xuống ruộng, cách chỗ nó mấy chục mét. Mảnh bom văng trúng bụng thằng Thứ, ruột xổ ra lòng thòng. Ba chúng tôi mạng lớn bằng cái đình, cứ như mọi ngày tôi và hai đứa bạn gái tới rủ thằng Thứ cùng đi, chắc cùng chết với nó rồi.



.Cập nhật theo nguyên bản của tác giả gởi từ TâyNinh ngày 01.4.2016.


VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004