Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





KHÓC VÀ CƯỜI








 T ừ vùng quê dời lên phố thị sống đã hơn bốn năm nhưng Tám Túc chỉ quen thân mỗi một ông Phước Lợi, người hàng xóm. Hai người có lối sống, nghề nghiệp, tính tình khác hẳn nhau mà lại hợp nhau. Ông Phước Lợi thích tính thực thà và tài đánh cờ tướng của anh cựu nông dân. Tám Túc thì phục sự biết nhiều hiểu rộng và lòng thương người của ông láng giềng giàu có. Anh thường nói: “Nhà mình chỉ bằng cái bếp ông ấy, nhưng ổng không phân biệt đối xử, thiệt đáng trọng”. Phần mình, ông Lợi nói: “Anh Túc vui tính, ngay thẳng, bộc trực, có thể chơi được”. Thế là họ kết thành đôi bạn tâm giao, không kể tuổi tác, không đếm xỉa đến địa vị xã hội.

Dưới mắt Tám Túc mọi thứ trong nhà ông Lợi đều cao sang, lóng lánh. Con ông, ba đứa, học giỏi, vóc dáng như Tây. Bà Phước Lợi thì trẻ trung, đẹp, nói hay như các nhân vật trong sách trong tuồng. “Còn con mình, vợ mình…” anh không muốn nghĩ tiếp, không dám so sánh.

Những lúc buồn ông Lợi thường gợi chuyện để Tám Túc nói về vợ con anh ta, như một cách tiêu khiển:

“Sao, nay mấy thằng nhỏ nhà anh ăn học thế nào?”.

“Dạ, chẳng đâu vào đâu, như người leo cột mỡ! Thằng lớn tới lớp tám phải nghỉ, ở nhà phụ giúp tôi lo công chuyện làm ăn. Thằng nhỏ thì đần quá, tám chín năm rồi vẫn chưa qua khỏi lớp sáu!”.

“Vợ anh coi bộ hà tiện lời nói, chắc chị ấy chẳng bao giờ cãi cọ với ai?”.

“Dạ, mụ thuộc loại ít mồm ít miệng, hiền quá hóa ngu, anh à!”.

“Vậy anh chị đối thoại với nhau bằng tay chân?”

“Dạ, gần như thế!... Ở chung một nhà nhưng chúng tôi ít khi tâm sự. Xưa giờ bà ấy vẫn gọi tôi là “ông”, đối lại tôi gọi bả bằng “bồ”. Cổ hủ, lộc cộc, khó nghe, nhưng quen miệng rồi!... Được cái, mụ khỏe, không đau ốm, khéo tay, chăm việc ngoài, giỏi việc nhà. Kể về mặt xã giao, đối ngoại thì bết, lóng ngóng, nói năng cục cằn, nhát gừng, cứ như gã thiểu năng!”. Ông Phước Lợi khoái chí, cười ngặt nghẽo.

Khác chồng, bà Lợi không ưa nhà Tám Túc. Bà hỏi ông: “Vợ chồng tay Túc có gì hay mà ông thích?”.

“Họ hiền lành, chất phác”.

“Anh chồng coi còn được, nhưng chị vợ thì mệt. Tướng như voi, bước đi lún đất, mặt lúc nào cũng quạu quọ, lầm lì”.

Ông Lợi che chở bạn: “Ở quê lâu năm, không quen giao tiếp, chị ta vụng về”.

“Còn có tật lúc nào cũng cúi gằm mặt xuống đất như quân ăn trộm bị bắt, nói thì ấm ớ, cộc lốc”.

“Con người chị ấy vốn như vậy, do chỉ quanh quẩn trong nhà trong làng nên ngại gặp đám đông, không biết cách diễn đạt ý mình, đây là hình ảnh của dân quê xưa còn sót lại… Sinh ở châu Phi thì ẵm gọn da đen, môi dày, cát trắng. Nghĩ xem, nếu ra đời ở các vùng quê cằn khô thì chúng ta thế nào?... Đừng chê họ, không ai muốn nghèo khổ ngu dốt. Có những người như thế ta đây mới nổi bật”.

*

Tám Túc đến nhà ông Phước Lợi để chia buồn. Anh vừa nghe tin dữ: bà Lợi đánh bạc thua hơn tỷ đồng, đã cuốn gói theo gã nhân tình trẻ – một vua cờ bạc – trốn đi mất. Chuyện quái, mới nghe qua Tám Túc không tin. Ai ngờ, người đàn bà sáng rực, sang quí thế kia lại hành động như một con mẹ…

Mới mấy ngày nhưng trông ông Phước Lợi như một người khác, gầy rộc, phờ phạc. Ông rót trà mời khách, rồi ngồi ôm đầu nhìn xuống bàn. Tám Túc lúng túng, chẳng biết nói gì để an ủi ông bạn vàng. Anh cứ nghĩ về chỗ vợ xấu vợ đẹp. “Con mụ nhà ta ngốc nghếch, quê mùa, nên ta được coi như ông sếp lớn. Mụ an phận, suốt đời lặng lẽ làm hết công việc trong nhà ngoài chợ, không cần chỉ tiêu kế hoạch, chẳng chờ động viên đốc thúc… Gỗ tốt đâu cần nước sơn”.

*

Sau ngày bà vợ biến, ông Phước Lợi nằm lì trong nhà hai tuần. Khi nỗi buồn vơi chút ít ông lên Đà Lạt đổi gió mười ngày, rồi vù thẳng vào Cần Thơ chơi một tháng. Biến cố đến bất ngờ, và lớn, mấy đứa con ông cũng choáng váng.

Đi đâu rồi cũng phải về. Ông Phước Lợi về, hình dạng và tính tình có vẻ khác trước, da sẫm hơn, ít nói hơn. Ông lại mời Tám Túc qua chơi, uống cà phê. Tám túc thấy khó xử, chẳng biết phải ăn nói thế nào, không dám nhắc đến tên bà Lợi. Nhiều hôm hai người ngồi với nhau suốt buổi mà chỉ nói năm ba câu, như mấy đứa thụt lưỡi. Có bữa, ngồi nhìn mặt nhau, đối ẩm ba tiếng đồng hồ mà hai ly café không cạn, bình trà còn nguyên. Buồn, mất hứng. Nhưng làm sao khác được. Khó thể tìm thấy phép màu để kéo những ngày vui cũ trở về.

Đến một hôm, ông Phước Lợi nghĩ ra một việc khiến cả xóm xầm xì, ba con ông sửng sốt. Ông mời ban nhạc Khóc Cười đến nhà biểu diễn, suốt bốn tối. Đây là ban nhạc phường, nghiệp dư, mới ra đời hơn một năm, chuyên phục vụ các tiệc tùng nhỏ, liên hoan, đám ma. Nó đa năng, chơi cả tân, cổ nhạc, đôi lúc còn hát chèo. Cái tên Khóc Cười do bà con đặt. Khóc là chơi cho đám chết, cười là hát trong tiệc cưới. “Ông Lợi buồn tình, chập mạch”, người ta cười, nói với nhau. Nhưng xem ra đây là chuyện nhỏ, việc riêng, không phạm pháp, nên nó được thực hiện thông suốt, trong tình trạng lập lờ, chẳng rõ khóc hay cười.

Đêm ca nhạc diễn ra trong vườn nhà ông Lợi, không sân khấu phông màn, nhưng kèn trống đầy đủ, xôm trò. Ban nhạc trẻ có sáu thành viên, bốn nam hai nữ, tất cả đều có dáng nghệ sĩ, tóc bờm xờm vàng khè, ăn mặc như mấy ông hát bội, em nào hát cũng ngọt. Ông Phước Lợi hứa, sẽ trả công gấp hai các đám tiệc khác, nên ai nấy đều phấn khởi… Điều bất thường là khán giả, chỉ hai người, ông Lợi và Tám Túc. “Các bạn vào cuộc cho mạnh, nóng, cũ mới xài hết, nhạc tình nhạc hùng chơi ráo!”. Ông Lợi bảo.

Cuộc hát hò trôi chảy, êm xuôi, không ồn ào, cũng chẳng buồn tẻ, dù nhìn qua đã thấy ngay nó có bộ mặt lạ. Khán giả quá ít, diễn viên mất hứng thú. Không hò hét, không cổ vũ thì không khí loãng, lạnh. Thế nhưng tốp nghệ sĩ trẻ vẫn chơi, càng về khuya càng bốc, có lẽ nhờ số tiền công hậu hĩnh tiếp sức… Giờ giải lao ông Phước Lợi đưa ra cho các ca sĩ, nhạc công một câu đố vui, ai giải đáp đúng, hay, dí dỏm sẽ được thưởng hai hộp cà phê hòa tan. “Nếu con mèo yêu của bạn bỗng lăn đùng ra chết, bạn làm gì?”. Không được hỏi nhau, câu trả lời viết ra giấy. Sau này, năm tháng qua nhanh, mấy đêm ca hát bất thường lùi vào bóng đêm quên lãng, nhưng nhiều người dân quanh xóm nhà ông Lợi vẫn còn nhớ chuyện con mèo chết.

Kết quả cuộc đố ấy, một cô ca sĩ nhí viết: “Sau ngày mèo qua đời, trong hai năm, mỗi bữa ăn tôi bày một cái chén, một đôi đũa, vái mời hồn nó về hưởng”. Tay chơi guitar viết: “Mèo chết, tôi họa hình nó, treo trong phòng khách. Mỗi năm tới ngày buồn đó, tôi giỗ nó ba con chuột”. Hai anh chị này được thưởng.

Về sau, trong các cuộc nhàn đàm bên bàn trà, ông Lợi hay đặt ra cho Tám Túc những câu hỏi giải trí. Trong đó có câu dễ, ai cũng biết, nhưng phần lớn là lắt léo, đố mẹo, hiểm, hài hước. Câu nào Tám Túc đáp đúng, hay, đều được thầy Lợi ban một phần thưởng tượng trưng: bao thuốc Capstan, hộp bánh ngon. Lúc đầu Tám Túc thấy trò chơi có vẻ không ổn, tâm thần, nhưng dần dà rồi cũng quen.

Thế là, kiểu uống café đố vui có thưởng cứ kéo rê, dài dài, một rồi hai năm. Số phần thưởng Tám Túc nhận được, nếu giữ nguyên, chắc xấp xỉ một thúng vun. “Đại ca mát nặng quá”, Tám Túc nghĩ, không dám nói ra. Tuy vẫn qua lại tâm tình, nhưng càng về sau anh càng cảm thấy bất an, cho đến cái ngày đáng nhớ, có thể gọi “ngày định mệnh”: ông Phước Lợi xin vào ở trong một ngôi chùa giữa phố. Xuất gia, không qui y, ông sống theo dạng Phật tử làm công quả, cầu phúc. Chùa mở hai lớp dạy chữ cho những trẻ lang thang, con nhà nghèo. Ông Lợi làm thầy, dạy số trẻ đó. Lúc đầu, người ta tưởng ông làm đỡ buồn, qua ngày tháng. Không ngờ, ông trụ lại lâu dài, 5 năm, rồi 6 năm. Ông ăn chay, ngồi thiền, trắng trẻo, mập ra, như một người khác.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ VạnNinh KhánhHòa ngày 13.3.2016.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004