Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

tiểu thuyết


ĐẤT BỎNG



        CHƯƠNG 11.



 Chiến tranh thế giới chấm dứt. Người Pháp tiến hành khai thác than cấp tập, nhiều hơn trước. Tấng được mở dài rộng cao sâu, hết tầng này đến tầng khác. Moong oong - theo tiếng Pháp là đáy mỏ thứ nhất, đáy mỏ đầu tiên - đã hình thành tại Cẩm Phả phía trên lò cai Chi. Dân Việt tiếng Pháp. Moong oong đọc ngay là Mông Giăng cho dễ. Lò cai Chi gọi ngay là khu Lộ Chí cho tiện. Tương tự như vậy, Moong oong ở vùng hẻo lánh phía đông bắc Cửa Ông gọi thành Mông Dương. Có người còn cãi tên Mông Dương được hình thành do sông ông Dương mang tên người sơn tràng đánh được con cá măng kìm năm nào theo bè vận chuyển tre gỗ trên sông hoang vắng. Bây giờ, cái tên Mông Dương được gọi căn cứ vào hai lí do trên.

Kiệt quệ về kinh tế sau chiến tranh, Pháp huy động lực lượng, tăng cường sản lượng than ra hàng năm. Công ti Pháp mỏ than Bắc Kỳ (Soci é té Fran cai se des Char bon na ges du Ton Kin) viết tắt là S.F.C.T tăng vốn, mộ thêm nhân công, mở rộng địa bàn khai thác. Năm 1919, S.F.C.T đưa 520 ngàn tấn than ra cảng. Trong đó phần lớn được khai thác tại vùng Cẩm Phả. Hàng trăm ngàn tấn than chảy trên vai, trên lưng người thợ, làm giàu cho chủ mỏ. Do trữ lượng than lớn giúp chính quốc phục hồi kinh tế, Công ty Pháp mỏ than Bắc Kỳ đã nghĩ tới việc mở cảng than tại khu vực Cẩm Phả. Việc vận chuyển than bằng tàu thay thế lừa ngựa. Sau nhiều năm khảo sát, Cửa Ông được chọn là nơi mở cảng.

Cửa Ông là làng nhỏ. Dân sinh sống bằng trồng trọt. Phần lớn hơn, đánh lưới quăng chài, thuyền bè, mủng mảng. Đền thờ Đức Ông là một am cỏ dựng tại vườn nhãn. Ở Cẩm Phả có gần chục điểm được gọi truyền miệng là vườn nhãn. Cái tên vườn nôm na dễ hiểu ấy hiện còn tồn tại ở nhiều nơi. Dân Sán Dìu tập trung tại hai khu (Cẩm Phú và đông bắc Cẩm Trung kéo dài qua Cẩm Thuỷ, Cẩm Thạch, Quang Hanh, Dương Huy theo địa giới hành chính cuối thế kỉ 20). Vườn nhãn thuộc khu vực Cẩm Phả mán. Mán ở đây chỉ là danh từ chỉ những dân tộc ít người. Gọi thế để phân biệt với ba khu còn lại: - Cẩm Phả min (mỏ) - Cẩm Phả Po (bến) - Cẩm Phả đảo (Kế Bào, Vân Đồn, Quan Lạn…). Đền thờ Đức Ông nằm ở khu vườn nhãn thuộc Cẩm Phả mán. Lúc đầu, đó là am cỏ, sau xây dựng miếu đền rồi mất dấu tích cuối những năm tám mươi thế kỉ 20. Nhân dân gọi là đền cậu sau ngày đưa đức ông Trần Quốc Tảng về thờ tại khu vực đền chính bây giờ. Sự tích kể vào năm Trùng Hưng thứ tư(1288) quân Nguyên kéo sang xâm lược Đại Việt lần thứ ba. Hưng nhượng vương đang bị đày ở cửa Suốt xin lập công chuộc tội. Trần Hưng Đạo đồng ý. Ông về triều, xin đi đánh giặc, lập đồn ở Trác châu, huyện Thanh Lâm. Chỉ sau ba ngày, ông cùng quân sĩ tiến thẳng đến trại giặc trên sông Bạch Đằng. Quân đi gấp, viêc chuẩn bị có phần chưa được chu đáo. Đến giữa sông Lục Đầu, ông gọi thuốc hút. Người lính vội làm điếu bằng tre tươi đưa ông. Hút thấy xịt xịt, Trần Quốc Tảng giận, vứt điếu ra giữa dòng. Đoạn tre trôi ngược táp vào bờ. Sau này, bờ ấy dày những khóm tre mọc ngược cả ngành lẫn mắt. Hưng nhượng vương đưa quân tiến vào, nhanh chóng giành thắng lợi. Đến ngày chiến thắng khải hoàn, ông được vua Trần phong tiết độ sứ nhận làm suất ty tuần Đại An ra vùng này. Trước đó, vì tính cương dũng không theo đúng đạo làm con, ông bị cha là Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đày ra trấn giữ cửa biển. Lần này, ông vẫn trấn giữ một vùng quan yếu nhưng theo lệnh vua. Từ đó cho tới lúc mất, Trần Quốc Tảng dành phần lớn thời gian gìn giữ yên bình vùng đông bắc. Cái chết của ông, sứ sách còn chép lại:

Ông ra cửa Suốt. Trời mưa to gió lớn, sấm sét nổ ầm ầm. Ông thấy phiến đá to bèn ngồi lên. Ngay lúc đó, sóng nổi cuồn cuộn, nước ào dâng rất cao. Phiến đá tự nổi trên mặt nước. Hưng nhượng vương hoá thân ở đó vào ngáy 16 tháng 8 năm 1311. Một lúc sau mưa gió tĩnh lặng, dân chúng đến xem, thấy trên phiến đá có chiếc mũ đá. Mũ đá trôi đi. Ngày mồng một tháng chín năm ấy, mũ đá trôi đến địa giới Hàm Giang rồi đến bờ sông xã Trúc Châu (tên tục là vườn nhãn). Gìa trẻ lớn bé đêm hôm đó mộng thấy một người cân đai áo mão chỉnh tề đứng ở đình làng bảo rằng: - Ta là gia tướng nhà Trần, nay số đã hết lại trở về nơi đóng đồn cũ giữ yên dân nước”

Hôm sau, dân chúng ra đình xem thấy một phiến đá và một mũ đá bên bờ sông. Đo phiến đá được 5 thước 4 tấc, ngang 2 thước ba tấc, có năm màu huyền ảo như mây. Dân làm lễ đón mũ đá về, lập miếu thờ và làm biểu tâu lên vua. Vua biết Trần Quốc Tảng là người có công lại linh ứng cho lập miếu thờ, phong làm thượng đẳng phúc thần, cho 800 quan tiền công hàng năm hai mùa cúng tế vào bậc nhà nước”

Sau đó, đền thờ mới được đưa về chọn đặt tại vị trí bây giờ. Đền thờ bây giờ, trước cũng có một am cỏ thờ Hoàng Cần. Ông vốn là vị chủ thần, người địa phương. Sách Đại Nam nhất thống chí chép:

Xưa có giặc răng trắng miệng vàng thường cướp bóc nhân dân vùng ven biển đông bắc. Hoàng Cần người xã Hải Lạng (Tiên Yên) tự mình chiêu mộ trai tráng trong vùng, lập thành đội quân đánh đuổi giặc. Với chiếc cọc tre trong tay, Hoàng Cần đã tả xung hữu đột đánh tan được quân giặc và truy kích chúng chạy thục mạng lên biên giới phía đông bắc. Đuổi giặc đến xã Vô Ngại (nay thuộc Bình Liêu. Quảng Ninh). Từ trên lưng ngựa nhảy xuống, tự tay Hoàng Cần cắm ngược ngọn tre xuống đất. Từ đó, tre vùng này thành rừng thành luỹ đều mọc ngược. Sau khi Hoàng Cần chết, vua ban sắc phong ông là Khâm sai Đông Đạo tiết chế. Dân địa phương lập miếu thờ. Thuyền bè qua lại cầu đảo đều linh ứng”.

Sách “ Đồng Khánh địa dư chí lược” còn xác nhận vị trí đền thờ Hoàng Cần: “ Miếu thờ Hoàng Cần tại địa phận xã Cẩm Phả, tục gọi là miếu Đức Ông. Các triều vua trước phong tặng Đức Ông tước hiệu Khâm sai thái bảo xuyên quốc công tôn thần. Nhân dân trong châu và thuyền bè bắc nam qua lại cũng như quan quân chinh phạt đi qua cầu đảo đều linh ứng”

Như vậy, hiện thời khu vực đền thờ Trần Quốc Tảng và Hoàng Cần là một. Trông nhân gian, cả hai ông đều được tôn vinh thành kính là Đức Ông. Khi dân vườn nhãn dâng biểu xin vua cho lập miếu thờ (sau ngày 01.09.1311) và nhà vua phê chuẩn, tên cửa Suốt dần dà biến mất. Thay vào đó, tên Cửa Ông được gọi cho đến ngày nay. Ngôi miếu được tôn tạo thành hệ thống đền Thượng, đền Trung, đền Hạ bằng gạch nung. Sắc phong thần còn giữ được đề năm Quang Trung thứ ba(1790). Nhiều người dâng câu đối lên đền chắc chắn vào đời Nguyễn.


Cu li mỏ đã đông đặc trên tầng. Họ đến bằng nhiều đường tuy không khốn khổ, vất vả như ông Đục, ông Bội nhưng chẳng êm ả gì. Tàu xe thuận tiện hơn. Đi bộ ít hơn nhưng tiền đâu? Những kẻ ruộng nương thẳng cánh, rủng rỉnh tiền bạc ra mỏ làm gì. Những người rách rưới, không chốn nương thân, không nơi nương tựa, nhờ vả mới phải tính bước đường cùng. Ai cũng hốc hác gầy guộc, vai đùi chân cẳng xương xẩu như nhau. Tầng nhiều cụ già con trẻ. Tuổi ngoài sáu mươi leo dốc còn lẩy bấy, vẫn còng lưng đội, căng tay kéo than. Những đứa trẻ mười, mười hai khinh đời không thèm lớn hùng hục khuân vác. Họ cùng anh em con cái, anh em thân sơ lao vào cay đắng tìm kiếm tương lai vu vơ. Họ đổ đá, kéo tà vẹt, bắc đường ray. Họ xây, họ chống phá, đục đẽo. Họ vì than, gắn bó với than. Cũng có những dân quê ra mỏ làm những tháng nông nhàn. Cày cấy xong, lúa đang đợi lớn. Tốp năm tốp mười kéo nhau ra làm vài tháng, có ít tiền rồi về cày bừa trồng cấy xong lại ra. Cứ dài dài nhiều năm như thế. Trong con mắt họ chưa có sự khiếp hãi chỉ nhiều mây giông và cực nhọc.

Người đông. Nhu cầu sinh hoạt tăng. Dưới bến đã thấy thuyền chở gạch, chở ngói đậu dưới chân Cốt Mìn. Lực lượng phục vụ cho những người làm than lâu dài và thời vụ hình thành tự phát. Các cửa hàng cửa hiệu mở. Chợ đã xây, có mái tôn, nền đất được thay bằng gạch đỏ, xi măng đổ dày. Phần nhiều dân rau mắm gạo muối. Cá tươi từ biển lên. Các dãy phố dài bắt đầu xây dựng. Hàng tạp hoá đã mở cửa, bán tại nhà. Dưa cà, khoai khoẳm, sắn ngô…ở chợ. Hiệu may cũng đã có. Vải thường là vải mộc, phần lớn tối màu. Cu li vẫn lầm than vất va vất vưởng.


... CÒN TIẾP ...



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 13.3.2016.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004