Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới






THIÊN ĐỨC TRUYỀN KỲ




Trong tập Phong thổ Hà Bắc (Ty Văn hóa Hà Bắc xuất bản 1970) có in tư liệu “Kinh bắc phong thổ ký” của tri phủ Lạng giang là ông Nguyễn Thăng viết năm Gia Long thứ 6 (Đinh Mão 1807). Ông Thăng đã viết rằng “ Sông Thiên Đức phát nguyên từ Nhị Hà ở làng Xuân Canh qua Hoa Lâm Yên Thường (Đông Ngàn) Phù Ninh (Tiên Du) Cổ Bi (Gia Lâm) Đông Triều (Siêu Loại) Vạn Tư (Gia Định) Lậu khê và ra sông Lục đầu. Dòng chảy tự nhiên đó làm Nam Bắc giới cho hai phủ Từ Sơn và Thuận Yến”

Hai trăm năm sau tôi về Đặng Xá (Gia Lâm) làm điền dã, hoỉ về sông Thiên Đức thì được giải thích : Ngày xưa sông Thiên Đức chảy từ Đền Đô (Bắc Ninh) qua rừng Báng, Cầu Chạc (Phù Đổng) Phù Đổng, Hoàng Long, Viên Ngoại, Nhân Lễ đến đầu làng Sủi (Phú Thị)

Khi dòng chảy qua làng Khoai, dân gọi là sông Ghênh. Từ khi đào sông Đuống cắt qua đoạn Phù Đổng-Hoàng Long đã lấp đi cửa Hoàng Long và sông Thiên Đức mất dòng từ đó. Nơi cửa sông có làng Đổng Xuyên chuyển cư từ bên Phủ Đổng sang,

Phía sau làng Đổng Xuyên từ cửa đình Hoàng Long kéo dài theo vệt đường 179 có nhiều ao, hồ rộng, đó là sông Thiên Đức bị lấp, chia cắt làm nhiều mảnh.

Trong quá trình tồn tại, trên con sông này có nhiều câu chuyện kỳ bí. Chúng tôi đã thu nhận được, sắp xếp lại và giới thiệu với bạn đọc


-a/ Chuyện con vua Lý chết đuối và sự thành lập Thập tam trai ở Thăng Long :


Theo thần phả của đền Lệ Mật chép rằng vào thời Lý có ông Hoàng Phúc Trung sinh vào giờ ngọ ngày 13/tháng 1 năm Bính Dần. Ông là con bà Hoàng Thị Tâm. Lớn lên từ năm 16 tuổi ông đã trở thành một võ sĩ tài giỏi, có sức mạnh hơn người, được tuyern vào cung làm thị vệ.

Con vua Lý đi thuyền chơi trên sông Thiên Đức chẳng may bị đắm thuyền, tìm không thấy xác.Vua Lý rất buồn phiền cho xá nhân đi rao khăp vùng hứa hẹn phong thưởng cho ai tìm được thi hài công chúa. Hoàng Phúc Trung xin đi tìm, chàng đưa thuyền đến chỗ xoáy nước, lặn xuống giao đấu với thủy quái., giành giật được thi hài công chúa mang về. Vua Lý mừng lắm, khen thưởng rất hậu nhưng chàng trai không nhận, chỉ xin được phép mang dân làng Lệ Mật sang miền đất phía Tây cửa Quảng Phúc để khai khẩn, Vua Lý ưng theo. Thế là bà con người Lệ Mật vượt Nhị Hà sang quê mới.

Họ khai khẩn đất hoang và sớm trở thành một vùng nông nghiệp gồm các trại : Liễu Giai, Vĩnh Phúc, Ngọc Khánh, Kim Mã, Yên Biểu, Giảng Võ, Thủ Lệ, Hữu Tiệp, Cống Yên, Vạn Phúc, Đại Yên, Ngọc Hà, Cống Vị.

Sử gọi đó là vùng Thập tam trại, dân gọi đó là Kinh Quán.

Đến nay các trại kể trên đã thành làng đô thị hóa, nhà cửa khang trang to đẹp, nhưng họ vẫn nhớ về làng cũ, hàng năm dân 13 làng trại kéo nhau về Cựu Quán để làm lễ Tổ. Có câu ca dao dân gian kể rằng :

Đến ngày hăm ba tháng ba

Dân trại ta vượt Nhị Hà thăm quê

Kính quán-Cựu quán đề huề

Hồ Tây cá nhảy đi về trong mây.

Tục cũ của vùng Lệ Mật tin rằng trước ngày Hội lễ long trọng thường có mưa to gió lớn. Cá chép Hồ Tây đã theo mây gió bay về giếng thờ Lệ Mật Dân làng thường tát giếng bắt cá làm lễ dâng cúng.


b/ Chuyện kết chạ giữa các làng Nhân Lễ - Đề Trụ


Vào thời vua Trần Thánh Tông nhà vua sinh hạ hai công chúa đặt tên là Quỳnh Châu và Ả Lã. Hai nàng đều xinh đẹp thông minh nên nhà vua quý lắm Năm Ả Lã 20 tuổi, vua định lập Phò mã, nhưng công chúa tâu xin không lấy chồng, xin được tự do dong chơi đi ngắm phong cảnh đất nước. Biết rằng có ép cũng không được, vua Trần bèn cho phép nàng được tùy thích đi chơi.

Một hôm du thuyền theo sông Thiên Đức đến vùng Gia Lâm thấy quang cảnh sông nhánh Nghĩa Giang đẹp, phong cảnh tốt tươi, công chúa bèn cho dừng thuyền định làm nơi ngắm cảnh. Bỗng nhiên trời đất tối sầm, gió to mưa lớn nổi lên, các loài thủy quái từ đầu sông cũng kéo đến lật thuyền, công chúa bị chìm trong nước, hôm đó là ngày Một tháng Chạp. Đám người hầu cận cùng dân cư ven sông ra sức cứu vớt mà không tìm thấy xác công chúa cùng người hầu của nàng, đành báo tin dữ về Thăng Long.

Vua Trần nghe tin, sai quân lính tát cạn sông Nghìa Giang để tìm công chúa, không thấy nàng đâu, chỉ thấy một con thuồng luồng, bèn sai mang lên bờ mổ bụng nó để tìm thi thể công chúa, nhưng cũng không thấy bền vứt xác thuồng luồng ở gò. Nơi ấy ngày nay dân xã Phú Thị gọi là gò Dọc Xác. Lại giận con sông tên là Nghĩa Giang mà lại hại chết công chúa nên nhà vua đổi tên sông là Bất Nghĩa Giang. (Nay Bất Nghĩa Giang không còn vì cư dân ven sông đã nhanh chóng lấp cạn) Nhà vua cũng cảm ơn làng ven sông đã có công cứu đoàn thuyền nên đã ban cho tiền, và đất để xây nơi thờ công chúa làm Thành hoàng bản thổ. Trải qua thời gian chiến tanh, đình bị phá hoại, nay dân làng góp tiền xây mấy gian nhà thay cho đình cũ để thờ công chúa.

Tại đình làng Nhân Lễ ngày nay còn lưu bức tượng tròn công chúa ngồi thiền, nét mặt khoan hòa nhân hâụ

Lại nói trong cơn phong ba trên sông Nghĩa Giang, người cung nữ của công chúa cũng bị rơi xuống nước theo chủ. Xác cô ta trôi đến làng Đề Trụ thì được dân làng vớt lên an táng và thờ làm phúc thần. Hai làng vì nghĩa đó mà kết chạ với nhau. Nhân Lễ làm Chạ Anh, Đề Trụ làm Chạ Em. Mọi việc sinh hoạt của hai làng, no, đói, hội hè đều chung vai giúp đỡ nhau.

Tôi đến thăm đình làng Đề Trụ thấy tại chân cột của ngôi đình cổ vần còn những tảng kê bằng đá tạc hoa sen. Các cụ kể chuyện tại làng có tục nuôi lợn thờ gọi là nuôi Ông Ỷ. Nhà nào được phân công nuôi Ông Ỷ phải chăm sóc cẩn thận, lỡ ra trong năm đó mà Ông Ỷ chết, phải có cơi trầu trình làng chịu phạt vạ rồi mới được nuôi con khác.

Hàng năm hai làng Nhân Lễ và Đề Trụ cùng tổ chức hai ngày lễ trọng đó là ngày sinh 10 tháng Ba và ngày hóa 1 tháng Chạp. Nhưng lệ làng tổ chức ngày sinh to hơn, đông vui hơn. Từ ngày 9 tháng Ba bên làng Đề Trụ đã rước kiệu vị phúc thần (cung nữ) sang yết kiến công chúa. Đường đi khá xa. Các cụ đặt ra một trạm đón tiếp đó là Nghè Táo để hai làng gập nhau vui vẻ.

Hội làng Nhân Lễ rất vui, nhưng do hai làng Nhân Lễ, Đề Trụ đã kết nghĩa với nhau làm Anh Em nên lệ làng không cho trai gái hai làng kết hôn.


c/Chuyện dân gian về sông Thiên Đức


Tại làng Hoàng Long thuộc xã Đặng Xá bên sông Đuống, tôi được nghe cụ Hội trưởng Hội Người Cao tuổi kể câu chuyện “Ông Thượng Cói đào sông Đuống”. Câu chuyện như sau :

-Thời vua Tự Đức có ông Nguyễn Tư Giản được giao việc trị thủy ở Bắc bộ. Ông Nguyễn Tư Giản là người làng Cói (Đông Trù) đỗ Tiến sĩ đã trình đề án đào nối sông Đuống từ sông Hồng về Lục Đầu Giang. Được vua đồng ý ông đã thực hiện tốt công việc . Khi sông Đuống đào qua Gia Lâm đã cắt dòng Thiên Đức làm hai phần không thể thông thương với nhau. Nay ở phía Nam sông Thiên Đức chỉ còn vết tích ao, hồ nông cạn, đôi quãng dân có thể lội qua.

Chuyện dân gian kể rằng : Năm xưa ở làng Cói có một sinh đồ đi thi đã đỗ Hoàng Giáp. Đó là điều vui cho cả huyện nên quan địa phương và các nho sinh đều đến chúc mừng. Khi ra về, các quan khách đều cảm thấy không vui vì thái độ kênh kiệu của bà mẹ quan Tân Khoa đối với mọi người. Vì sự xúc phạm đó nên quan khách tìm cách triệt hạ trả thù. Họ dò biết mả Tổ của vị Hoàng Giáp đặt ở chợ Vân, mới tìm thầy địa lý giỏi đến xem . Sau khi xem kỹ về địa hình, long huyệt, ông thầy nói “ đây là kiểu đất con quạ ăn mồi.

Mộ Tổ đặt ơ diều con quạ nên phát quan, có người đỗ đạt” Các quan nài nỉ ông thầy địa lý bầy cho cách triệt hạ. Ông thầy đã bầy cho một kế rát thâm hiểm đó “cắt cổ con quạ”

Một nho sĩ được quan tin cẩn đã bàn với ông Hoàng Giáp rằng “ Mả Tổ của Ngài hiện đang đặt ở thế “Con Quạ ăn mồi” Nhưng có ăn thì phải có uống. Nay Quạ ăn no mà chưa có nước uống thì không hợp với sinh hoạt. Nếu ta đào một con sông nối từ Dâu về Lục đầu giang chảy qua chợ Vân thì khi nước về dòng họ của Ngài sẽ phát lớn”

Ông Thượng đã nghe theo kế sách, tâu vua xin đào sông Đuống để trị thủy đồng bằng Bắc Bộ.

Khi cuộc đào sông hoàn thành, thì cũng là lúc sông Thiên Đức bị cắt đôi Long mạch bị đứt, các làng văn học như Hoàng Long, Phú Thị,..không có ai thi đỗ. Làng Đông Trù cũng không có ai đỗ đạt nữa.

Câu chuyện “đứt long mạch” đó xưa nay nhiều nơi, nhiều người chú ý, nhưng cũng có người cho là chưa đủ chứng cứ khoa học

Biết nói ra sao. Chuyện Dân gian kể sao biết vậy mà thôi.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 06.3.2016.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004