Việt Văn Mới
Việt Văn Mới






Bài Đọc Ngày

Kỷ Niệm Nhà Thơ Yến Lan Tròn 100 Năm Tuổi.






K ính thưa:

CT liên hiệp các HVHNT Việt Nam-ông Nguyễn Hữu Thỉnh

V à, Phó CT Hội nhà văn Việt Nam – ông Trần Đăng Khoa

Cùng các Quí vị đang có mặt tại Hội trường số 9 NĐC kính mến.




H ôm nay, 2/3/2016 tôi rất vinh hạnh thay mặt toàn thể gia đình kính chúc các quí vị năm mới sức khỏe, hạnh phúc, tài lộc và gởi tới các vị lời cảm ơn chân thành, sâu sắc nhất vì được Quí vị bớt thời gian quí báu đến dự ngày kỷ niệm-nhà thơ Yến Lan tròn 100 năm tuổi.

Khi còn tại thế, nhà thơ tâm sự: “Là thi sĩ, cái chết về thể xác không đáng sợ, chỉ sợ mình mất đi trong lòng người.” Tuy biết Ban lãnh đạo Hội Nhà văn VN sẽ T/C lễ kỷ niệm cho cha, và thực tế những gì diễn ra hôm nay đã chứng minh rằng: Trên trần thế vẫn còn có các đồng nghiệp thế hệ trẻ, người yêu thơ Yến Lan nhớ đến ông, nhớ đến Bến My Lăng và những vần thơ ăm ắp tình người, mà cha để lại cho đời: Có một đoạn văn phản hồi trên mạng đã chứng minh:

Về An Nhơn mới thấy, bàng bạc cảnh vật - lòng người là hình bóng Yến Lan. Nhất là ở những bến nước dọc bờ sông Côn ở An Nhơn, người đa cảm một chút rất dễ nhận ra nơi nào cũng là... bến My Lăng, và một bến sông nào trong tâm tưởng cũng là bến My Lăng! Có lẽ "cái bóng" của ông quá lớn đối với mảnh đất này, bên cạnh những vị vua, những nhà yêu nước hoạt động trên mảnh đất này)

Cuộc đời của mỗi con người may, rủi đều do số phận; nó giống như những đóa hoa trên cùng một cội; song không phải hoa nào cũng hứng được sương và ánh sáng như nhau. Đời Yến Lan từ khi lọt lòng 1916 đến khi từ giả cõi đời 1998 đã gặp quá nhiều rủi ro, thua thiệt:


Quê ngoại bên kia bãi cát vàng

Mẹ tôi về lỡ chuyến đò ngang

Cơn đau trở dạ không giường chiếu

Tôi lọt lòng ra giữa bãi trăng

(Quê ngoại)


Là con út trong 6 anh chị em. Cuộc sống gia đình chỉ dựa vào bàn tay giỏi giang của mẹ. Lên 6 tuổi thì mẹ mất, các anh chị đi làm xa; cha xin làm thủ từ trong ngôi đền thờ Quan Thánh. Cuộc sống của hai cha con chỉ dựa vào cây thị:


Ôi thị, thay phần mẹ dưỡng nuôi; 

Nhành khô thường sưởi tuổi mồ côi, 

Quả, ra chợ đổi lành thân áo, 

Bóng phủ rèm trưa, lá: chiếu ngồi.

(Thị)


Ít lâu sau cha lấy vợ kế, nhà càng túng bấn. Gánh nặng trên đôi vai gầy, bé nhỏ của Yến Lan dường như trĩu xuống mà tiền bán thị chả thấm vào đâu nữa:

Giá một quả cam bằng mẹt thị /Trồng chi bóng mát hỡi cha xưa.”

Và tuổi thơ cha trải dài năm tháng trong ngôi chùa Ông như một định mệnh:  


Tuổi thơ một đời cây thị 

Chiều lung linh theo tiếng chuông chùa         

Mẹ chết sớm, chị đi phu 

Quần áo rách túm bằng giây chuối

Cơ rô bích chuồn nằm đêm cha nuối 

Muốn nuôi con cha lại bám đời con

Trong những đêm dài canh bạc tưởng trống trơn 

Láng giềng giàu cấm làm bạn lứa

Nhiều hôm no tuổi, no hờn 

Ở đây đọng một nỗi buồn lưu ly

Biết đi đâu? Biết mong gì?

Tuổi thơ ơi ! tuổi thơ 

Ta có em hay không có bao giờ…

                   (Tuổi thơ )


Song cũng tmôi trường ấy đã tạo nên trong cha mt thi sĩ đầy bản lĩnh và một nhân cách lớn bằng cả tâm, tài và tầm. Ông cùng Hàn Mc T, Chế Lan Viên, Quách Tn họp nên “T Hu Bàn Thành”. Cả bn người, mỗi người mỗi vẻ, bng văn chương của mình góp phần làm rạng danh cho đất Bình Định thành câu danh ngôn vang mãi đến ngàn năm Đất võ trời văn”. Nhưng trong thc tế, khi nhc đến tên Yến Lan chỉ còn có cái “Bến My Lăng” mà thôi

Ai đã từng sống và biết Yến Lan chắc không quên mảnh đời cơ khổ mà thanh bạch của nhà thơ. Ông không chọn cho mình cách sống bon chen, song cũng không nản lòng trước nghịch cảnh bạc bẻo của đời, ông sống thủy chung với bạn, nhân nghĩa với đời. Ông lẳng lặng làm việc, lẳng lặng vượt khó không than thở, tự mình hàn vết thương đau :


Ứa nhựa hàn vết đau

Tĩnh yên cành gió quật

Quả đu đủ góc ao

Lặng dâng đời quả ngọt

(Đu Đủ)


Hơn ai hết với tâm hồn nhạy cảm của người nghệ sĩ đã quen tự lập, ông mạnh mẽ đón lấy ngọn gió thời đại mới. Cảm hứng mới đem lại diện mạo mới cho thơ ông, làm cho thơ ngày càng bay bỗng. Tượng đài nhạc sĩ, nhà thơ tài hoa Văn Cao đã viết:

Từ một người bình dị Yến Lan đang trở thành một người muốn thúc đẩy một sức gì đang làm trì trệ cuộc sống của chúng ta. Tôi thấy ở anh một sự chuyển biến, một sự mở ra có sức lực..”- trích lời tựa T/P “Tôi Đến Tôi yêu


Là con cháu, chúng tôi cũng cảm nhận được qua những vần thơ lưu của cha đều toát lên nhân cách sống của con người. Dù hoàn cảnh nào cũng đều hướng về cái vô thường, giản dị và thiện chí. Con người với con người là một thực thể xã hội, với muôn vàng quan hệ chồng chéo:


Nhà không vườn, không gác, không sân

Tôi nợ đời rau trái tôi ăn

Nợ hàng xóm trưa hè bóng mát

Nợ em cài bên cửa một vầng trăng.

(Nợ)


Trong cuộc sống, ông sống theo qui luật của nước “nước chảy vào chỗ trũng”, trước sau như một, thủy chung, sẻ chia. Với bạn bè là tình cảm yêu thương, chan hòa nâng đỡ; những ký gạo giúp nhà thơ Quang Dũng trong thời kỳ tem phiếu, khó khăn vất vã. Và chắc chắn hình ảnh một mình Yến Lan đi sau linh cữu cụ Phan Khôi đến nơi an nghĩ cuối cùng trong ngày cuối đông vào thời khốc liệt nhất của văn nghệ sĩ trong cái gọi là “Nhân Văn Giai Phẩm” với “nghĩa tử là nghĩa tận.” Còn trong đời thơ, ông không may mắn như bạn cùng thời. Những tác phẩm có thể làm nên tên tuổi đưa ông lên vị trí cao hơn trong làng văn thì bị thất lạc như 2 tập thơ “Giếng loạn, Bánh xe luân hồi (viết về Đạo Phật), Không bị mất thì cũng bị người khác đứng tên như vở kịch thơ đầu tiên của nền Văn học Việt Nam “Bóng Giai nhân”

Trong những năm cuối đời, cha nói với hai con gái lớn: “Là phận gái trong gia đình này, vì ba nghèo, các con phải chịu thiệt thòi nhiều. Nhưng các con có quyền tự hào về ba, vì suốt đời ba đã phấn đấu là người làm thơ khiêm tốn và biết tự trọng; điều đó còn quí hơn vàng bạc châu báu...”

Vâng, chúng tôi rất tự hào về cha mình. Bởi vì hai đức tính này nghe thì rất bình thường, nhưng đã mấy ai làm được, nhất là vào những thời điểm mà chân giá trị đích thực của con người chưa được đặt đúng vị trí.

Trong bản in lần đầu của Thi nhân Việt Nam xuất bản năm 1942, tác giả Hoài Thanh nhận định mấy dòng về thơ Yến Lan như sau: “…Xem thơ Yến Lan tôi mơ màng như đi trong mây mù. Khi đầu thì cũng hay hay, nhưng dần lâu cơ hồ ngạt thở…” Thi nhân Việt Nam là tác phẩm kinh điển đúc kết phong trào Thơ mới được nhìn nhận bởi đôi mắt của hai nhà phê bình tầm cỡ, nhưng cũng chỉ thấy “cơ hồ ngạt thở”. Rõ ràng thơ Yến Lan không phải một sớm một chiều mà hiểu được chân giá trị.

Nhà thơ Quách Tấn khi đọc “Lời tựa thơ Yến Lan” của Chế Lan Viên, mà rằng: “Con tôi có đọc thơ và tựa cho tôi nghe. Song chỉ nghe qua một vài lần thì không thể nhận chân được giá trị. Chế nói đại lược về mối tình lúc nhỏ giữa Chế và Yến chớ không nêu những nét độc đáo trong thơ của Yến Lan. Còn ai hiểu thơ của Yến Lan bằng Chế Lan Viên?! Nhưng nay Chế đã qua đời (1989). Cái hay cái đẹp cái kỳ trong thơ Yến Lan biết nhờ ai đưa ra cho kẻ hậu học, thấy rõ và đúng để mà phân thưởng hay để mà làm gương; không lẽ tác giả tự làm lấy! Nhưng nghĩ lại không ngại gì. Tố Như tiền bối có câu:


Bất tri tam bách dư niên hậu

Thiên hạ hà nhân khốc Tố Như.


Nghĩa là


Sau ba trăm năm nữa trên trần thế

Biết sẽ là ai khóc Tố Như.


Nhưng chưa đầy trăm năm mà đã có biết bao nhiêu người khóc Tố Như thì lo gì thơ Yến Lan sẽ không có người giải thích thấu đáo” ...

Thơ Yến Lan làm thời kháng chiến chống Pháp (1945-1954) tôi có trong tủ sách gia đình trên vài chục bài nhưng tôi chỉ nhớ 4 câu mà tôi cho là tuyệt tác:


Đèn chong gác hẹp sầu nhân bản

Cháy lụn guồng tim lạnh bút thơ

Xuống thang mặt trắng bơ phờ

Vơ vào thế sự còn ngờ chim bao.

( Trong Bóng ngày qua - Quách Tấn sưu tầm và biên soan) - 20/2/1990)


Đối với Yến Lan cũng chẳng phải đợi lâu; Nhà nghiên cứu văn học hin đại–Khng Đức đã giải mã được thơ Yến Lan chỉ cần thông qua bài thơ “Bến My Lăng”:Nắm được nguồn phát tích của bài Bến My Lăng là như có trong tay một chìa khóa để đi vào vườn thơ, đời thơ của Yến Lan. Thật vậy, dòng thơ Yến Lan từ nguồn suối vô thức My Lăng mà tỏa ra mọi nẻo: sông nước, bến bãi, đất quê hương, tỉnh nhỏ, quê mẹ, quê ngoại, tình vợ con, tình bạn bè…

Tất cả đều mang tính chất lung linh, lấp lánh, hư mà thật, thật mà hư… nhưng rất thắm thiết nồng nàn. Hay nói như anh Chế Lan Viên: “Thơ phải nhìn rõ trong bóng tối”, thì nhà thơ Yến Lan là người đã có con mắt kỳ ảo thấy được bóng tối đó, nó là vô thức vậy.”

Th ật vậy, it ai ngờ, có bao nhiêu suối tình và xuân trong thơ Yến Lan đã âm thầm chảy không ngừng nghĩ, bền bỉ, dạt dào cho tình yêu quê hương và mùa xuân của nhân loại trong thơ ông. Sức sáng tạo của Yến lan, trải rộng ở nhiều thể loại: Thơ, Kịch thơ, truyện ngắn, truyện thơ…và trải dài từ trước 1945 đến khi nhà thơ qua đời 1998. Điều đó được nhà thơ Nguyễn Hữu Thỉnh-Chủ tịch Hội Nhà Văn Việt Nam khẳng định mấy dòng sau đây:

Tài năng của Yến Lan sớm nảy nở và sớm được khẳng định. Truyện ngắn đầu tay của Yến Lan bút danh là Xuân Khai được thưởng giải cao của báo Thanh Nghệ Tỉnh khi Yến Lan chưa đầy hai mươi tuổi. Truyện ngắn của ông liên tục được giới thiệu trên các tờ Tiểu thuyết thứ Bảy, Tiểu thuyết thứ Năm và nhiều tờ báo khác. Yến Lan viết cải lương, viết kịch và thành lập đội kịch mang tên ông. Đoàn kịch Yến Lan với vở “Bóng giai nhân” đã từng lưu diễn ở Huế, Hà Nội. Thanh Hóa…

(Tại buổi lễ tưởng niệm nhà thơ Yến Lan ngày 8-10-1998)


Lại nữa: Báo Phú Yến cũng đăng về Yến Lan:

  “ Ngay trong những ngày tháng 8/1945, Yến Lan là người sớm nhất trong lứa bạn cùng thời làm thơ phục vụ cách mạng tại địa phương. Ông đã viết Bình Định 1945 Bình Định 1947 cùng nhiều ca dao, hò vè cổ động nhân dân đứng lên chống ngoại xâm. Trong khoảng thời gian tham gia kháng chiến, ông cùng với khoảng 16 nhà thơ khác tham gia soạn Cương lĩnh mặt trận Tổ quốc diễn ca để truyền bá trong nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn tác phẩm của Yến Lan.

Cả đời thơ ông say mê sáng tạo, tích góp một giọng thơ riêng để làm giàu thêm đại dương thơ dân tộc. Thơ là lẽ sống của đời ông. Kí ức thơ có trong ông từ khi ông có trí khôn đến khi ông từ giả cõi đời làm nên một sức sáng tạo dồi dào qua bao thăng trầm của lịch sử và cuộc đời.:


Ta viết cho đời thơ tuyệt cú

Bù vào đất chật những trường thiên

Quế hòe phóng ngọn trên đồng cỏ

Đọng sóng tầng cao những nét riêng

(Tự bạch- Tháng 7-1967)


Trong 100 năm qua, cha hơn 60 năm hoạt động nghệ thuật, ông không để lại bất cứ hồi ký nào kể chuyện mình làm thơ, nhưng những vần thơ lưu của ông với những chi tiết đơn giản trong cuộc sống thực, hiện lên từ góc nhìn vừa cụ thể vừa chân thật khiến người đọc rung đng cõi lòng:


"Tỉnh nhỏ /Đìu hiu/ Mặt trời ngủ giữa chiều

Trở mình trên mái rạ/...Áo vải tây vàng hai vai đã vá Tỉnh nhỏ / Cô em-nằm xem-kiếm hiệp / Hàng rong-gặp hàng rong / liếc nhìn nhau qua mẹt bánh / Anh khóa nghèo lên tỉnh / Lá đơn cặp với cán ô


Cảm hứng v tình yêu trong thơ Yến Lan là cái chất riêng khó gp ở nhng phong cách thơ khác cùng thời. Tình yêu không dữ dội mà đằm thắm, thiết tha:


‘Vì với tình tôi phải nhẹ nhàng

Phải là ý ngọc, phải tim vàng

Phải là trọn vẹn là trong sáng

Là một bài thơ khắc chữ “nàng”

(Đồng nội hồn tôi)


Tình yêu làm nên chất sống trên đời, nếu đánh mất nó thì là đánh mất ý nghĩa của cuc đời. Vậy mà tình yêu trong thơ ông thường dang dở, bị ngăn tr bởi giàu nghèo, và nhng tr lc về vt chất khiến người ta đau kh bẻ bàng:


Thói thường đăng đối cuộc nhân duyên / Cha mẹ em giàu dễ để yên

Cho một lứa đôi không xứng vế /Dập ngay ngọn lửa mới vừa nhen...

Giận cái ngây thơ tự lúc đầu/ Thấy rằng tường dậu chẳng ngăn nhau

Ai hay rẽ thúy chia uyên ấy /Còn bức thành cao giữa khó, giàu

( Gn nhà xa ngõ 1939)


Trong tình yêu, với tính cách hiền hòa, trầm lắng. Về mặt tâm lý, ông không thể hiện đòi hỏi, ham muốn quá mãnh liệt. Và ngay cả với nỗi buồn của sự chờ đợi:


Nắng chiều nay bặt tiếng xuân tiêu

Thôi hát cùng em điệu hát chiều

Thôi tiễn cùng em người lữ khách

Bạn về đợi bạn chốn đìu hiu

(Chiều)


Viết về tình yêu ông thường mượn hình ảnh ẩn dụ “Thuyền, bến và trăng”. Bến đò, dòng sông đối với ông là hình ảnh thân quen đến nỗi có bến sông đã đi vào ký ức lòng người để rồi trở thành huyền thoại:


Bến My Lăng nằm không, thuyền đợi khách,

Rượu hết rồi, ông lái chẳng buông câu.

Trăng thì đầy rơi vàng trên mặt sách,

Ông lái buồn để gió lén mơn râu...


Hình ảnh đó trở đi trở lại như một môtip trong ca dao, nhưng thơ ông vẫn rất mới; mới ở thể thơ, ở cảm hứng thơ: Không hoảng loạn như Hàn Mặc Tử, không đắm say, cuồng nhiệt như Xuân Diệu, không kỳ bí như Chế Lan Viên. Yến Lan cứ nhẹ nhàng, từ tốn, giản dị như cuộc sống. Mà cuộc sống vẫn luôn vận động, là niềm tự hào được sống, được là tinh hoa và được liên đới với bao kiếp người:


Tôi đang sống vì có người đã chết,

Hồn kết tinh bằng bao nhớ thương xưa.

Đời lớn mau và mạnh như bẹ dừa,

Tôi là cả tinh hoa muôn thế kỷ-

Sống phút sống của hàng ngàn thi sĩ,

Mơ giờ mơ của bao cửa không gian.

Mơ hồn xuân, như đã mở thiên đàng

Tôi sống khỏe và hoa Hồn độ nở.

“Những giọt bông hường”


Và qua thơ, Yến Lan đã thổi hồn cho cảnh vật của quê hương Bình Định:


Ôi Bình Định mây chia trời cách biệt

Nhúng bâng khuâng trong giá lạnh sương hoa

Nhà ngơ ngẩn, những tường vôi keo kiết

Nam quách sầu, Đông phố quạnh, Tây môn xa


Nhưng nỗi buồn của người nô lệ thì hiện rõ trong thơ Yến Lan đến nhói lòng


Mái tóc hoa râm rũ xuống mày,

Trán buồn như núi ẩn sau mây

Từng ô chữ ngắn trong pho sách

Sao khiến thầy buông tiếng thở dài?

....................................................

Tôi biết thầy lo chuyện nước non.

Lòng phơi như ánh mặt trăng tròn

Mỗi khi nhắc đến người buôn tẩu

Tâm sự trào lên ngọn bút son

Và Xoáy tận tâm can con người:

Nhánh tòng bá có đau vì xứ sở

Chớ quặn mình thêm nức nở hồn tôi

Không được sống xin cho cùng được thở

Vạn lý tình trong gió ngọt xa xôi”

(Bình Định 1935)


Vẫn giọng thơ nhẹ nhàng mà thấm thía, tác giả cảm nhận sâu sắc một tương lai đang chờ đón cuộc trở về của những đứa con đã lỡ bỏ làng ra đi. Những hình ảnh trên quê hương biểu hiện một sức sống mới căng trào. Tất cả đang mở ra đầy sức sống:


Buồng phổi mới ngực phồng thân áo xám.

Trăng mát đường về hội nghị cơ quan

Ôi Bình Định từ những ngày tháng Tám

Bao đứa con xiêu lạc trở về làng.

Chiều đại hội ráng lồng trên biểu ngữ,

Đời căng buồm về xứ sở tự do.

Đường Cách mạng thơm từng trang lịch sử...,

(Bình Định 1947)


Nhà thơ Anh Chi đã đánh giá thơ Yến Lan: “Yến Lan là nhà thơ tả thực rất tinh, sâu và có hiệu quả thơ, khiến độc giả rung động bởi được hiểu đời thật và thắm thía thương đời. Có thể nói viết câu thơ tả thực mà làm cho người đọc rung động như Yến Lan là rất khó và rất hiếm


Nghe trên đàng quạnh hiu /Cổ xe bò nặng nhọc

Người trên xe trằn trọc /Giữa những tiếng rơm kêu


Còn Nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Bao nhìn nhận:

Năm 20 tuổi nhà thơ Yến Lan đã có những câu thơ điêu luyện, tài hoa, những câu thơ có thể xếp vào lọai đặc sắc:

Trống xa mái ngẫn ngơ thơ đá chạm/ Chiều bồ câu cánh ủ khắp viên trang/  Sầu tam giác buồm cô về lặng nghỉ / Nhịp hoãn hòa đến vỗ đảo xa khơi”. Đó là những tìm tòi táo bạo, phát hiện tân kỳ vừa kết hợp nhuần nhị tính dân tộc và phong cách hiện đại, vừa mang vẻ đẹp phương Đông truyền thống kết hợp thủ pháp nghệ thuật phương Tây…”.

Vị trí của Yến Lan lớn, nhỏ đến đâu trong thi đàn nước nhà, điều đó còn chờ sự lắng đọng của nhận thức, phẩm bình và thời gian; nhưng có điều dễ thấy ở Yến Lan: Ông là một thi tài thật sự đặc sắc!


Nhà thơ Trúc Thông, một tác giả cách tân thơ ở Việt Nam hiện nay, nhận xét về thơ tứ tuyệt của Yến Lan đầy cảm phục: Trong số lưa thưa bậc hảo hán của thơ tứ tuyệt Việt Nam hiện đại, Yến Lan thuộc loại “bố già”. Một “bố già” hiền lành. Không cân quắc, ngang tàng, vang động. Nhưng vẫn đầy cốt cách trong cung cách âm thầm…”.


Anh Cao Kế từng dạy triết học Trường Đại học Qui Nhơn:


Một tài hoa thật sự đáng ghi nhận ở đây là vào thập niên năm 1945, 46, 47 cũng có nhiều nhà thơ yêu nước nhưng viết không hay chỉ là những câu văn vần tuyên truyền cho cách mạng, nhưng năm 1947, Yến Lan đã viết bài “Bình Định 1947”. Một bài thơ mà nội dung phục vụ cách mạng kịp thời và về phương diện nghệ thuật tài hoa thì ai cũng phải công nhận là một bài thơ rất hay; các hình tượng thơ như:


“tin hỏa tốc bạc thếp đèn kéo quân”

lửa mài gươm sáng rực xóm Lò Rèn”

Quân lên đường chân đất bước như ru”

Cha mẹ phá đường, bà cháu tản cư’

Trai Bình Định ôm bom vào Tú Thủy ,”

Ngự đèo Nhong hay canh bãi Vân Sơn”.

Gái quạt trấu cũng hóa thành Dũng sĩ,”

Cầu Ba Di đẩy dựng những toa goòng.”


Là những hình tượng thơ giàu sức gợi cảm. Những tên đất, tên làng, tên núi, tên sông như xóm Lò Rèn, Tú Thủy, cầu Bà Di, đèo Nhong, Bãi Vân Sơn sẽ sống mãi với lịch sử chống Pháp của Liên Khu Năm cùng tên tuổi Yến Lan.

Tôn vinh Yến Lan như một bậc thầy trong thơ ca thì nhiều lắm, trong khuôn khổ một bài báo tôi khó nói ra hết.


Dẫu giờ đây ông không còn nhưng qua những bài viết của đồng nghiệp ở nhiều thế hệ khác nhau cũng như công chúng yêu thơ Yến Lan, người đọc dễ nhận ra vì sao độc giả vẫn nhớ đến ông,

Hơn cả một đời thơ của mình, cái mà nhà thơ Yến Lan để lại cho mọi người là đạo đức, cách sống, tình cảm của ông đối với người, quê hương và dân tộc”. Những vần thơ chân thực, trang trọng lại ngọt ngào và giàu chất trữ tình của Yến Lan không để lại một chút mùi giáo điều, lên gân nào, chỉ thấy thơ ông tình yêu con người, quê hương khi ông hoà trộn những tình cảm cao quí đó vào nhau.

Với sự đóng góp của Yến Lan suốt gần trọn một thế kỷ dâng hiến cho đời biết bao khúc nhạc lòng mà quê hương ông dường như cố tình hờ hững. Điều đó cho thấy trong suốt một thời gian dài, tên tuổi và sự nghiệp thơ văn của Yến Lan dường như bị lãng quên… Phải chăng đó là sự bất công hay nói như Chế Lan Viên "Có nhiều lí do. Nhưng thơ là cái đẹp lặng im, đi lầm lũi trong im lặng" [110, tr.10] thế nên thi sĩ ấy như một kiếp tằm, rút ruột nhả cho đời những sợi tơ óng ánh để rồi mình lặng im hóa kiếp chẳng ai hay, chỉ biết rằng mình hoàn thành nhiệm vụ " trả nợ dâu" và thanh thản! Còn cả đời ông không chức sắc gì to lớn, không giải thưởng đỉnh cao tột bậc, không tượng đài, không tên đường ./.

(Nguồn Webdulich)


Nhưng thưa Qui vị, có lẽ bài thơ Xuân muộn mà ông viết cách đây hơn 40 năm đang vận vào phận của đời ông chăng?:

Vụng sắm cành đào không kịp tết

Ra giêng mới hé một vài bông

Xuân người lã tã bay đi hết

Ngoảnh lại xuân ta mới chớm hồng ./.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 02.3.2016.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004