Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
Qúy vị đang nghe
Gaite của Emile Waldteufel







Cây Nêu Ngày Tết- Người Thắng Quỷ





T ruyện cổ tích Việt Nam. Hay nhất quả đất. Ngẫm kỹ, suy sâu. Là lời ông bà Tổ Tiên Việt. Gửi vào cổ tích, bằng nghệ thuật siêu phàm. Giúp con cháu, đời đời đuổi giặc. Trí tuệ Tổ Tiên Việt hóa thành hình tượng Văn học dân gian, tránh kẻ thù đốt sách. Hòa vào dòng chảy Tâm linh Việt trường tồn.

Truyện cổ tích Sự Tích Cây Nêu Ngày Tết (theo sách 100 truyện cổ tích hay nhất Việt Nam- NXB Văn Hóa Thông Tin- 2006) chứng minh điều đó.

Ngày Tết với tục lệ trồng Cây Nêu trước cửa nhà vào ngày 23 Tết. Hạ Cây Nêu ngày mồng 7 Tết, trên khắp thôn cùng xóm vắng, đất Việt từ xưa đến nay. Tục lệ này truyền thông điệp Phật giúp Người thắng Quỷ.

Sự Tích Cây Nêu Ngày Tết

Ngày ấy. Không biết từ bao giờ. Cũng không biết bằng cách gì. Quỷ chiếm đoạt toàn bộ nước Việt. Người Việt chỉ ăn nhờ, ở đậu. Làm thuê trên ruộng đất của Quỷ. Quỷ không biết sợ Người. Càng ngày Quỷ càng lộng quyền, dày đạp người. Quỷ coi Người như cỏ rác. Như giun dế. Như kẻ đánh thuê, chết thay cho đàn Quỷ.

Quỷ bày đặt nhiều chiêu trò cướp của Người. Quỷ bắt người nộp thuế. Tăng dần. Mỗi năm tăng một ít.

Quỷ không thỏa mãn. Ác tham không đáy. Quỷ bắt Người phải nộp thuế theo một thể lệ quái gở, do Quỷ nghĩ ra. “Quỷ ăn ngọn, cho Người gốc”.

Người không chịu. Quỷ dùng quyền bắt người phải theo. Năm ấy. Sau vụ gặt. Quỷ lấy thóc ở ngọn lúa. Người còn trơ gốc rạ. Người chết đói la liệt. Xương bọc da nằm khắp mọi nơi. Quỷ ngạo mạn, đắc thắng.

Phật từ Trời Đao Lợi, nhìn thấy cảnh Quỷ giết Người dã man, tàn bạo. Phật xuất thế. Phật giúp Người chống lại Quỷ bạo tàn.

Vụ mùa sau. Phật bảo Người: “Không trồng lúa. Cào đất thành luống, trồng khoai lang”.

Người theo lời Phật dạy.

Quỷ không ngờ. Người học Phật trở nên Khôn. Quỷ vẫn theo luật cũ “Ăn ngọn, cho gốc”.

Mùa thu hoạch khoai. Người đào gốc khoai lang. Từng gánh củ khoai màu nâu đỏ, to bằng nắm tay, tròn căng, tới tấp đổ về sân nhà Người. Khoai lang bổ mát, ngọt thơm nuôi Người. Còn lại dây và lá khoai lang, ngổn ngang ngoài đồng, Người trả Quỷ. Quỷ nhai không nổi. Nuốt không trôi.

Quỷ uất nghẹn. Không làm gì được. Vì luật Quỷ đặt ra “Ăn ngọn, cho gốc”. Gậy ông đập lưng ông.

Sang mùa sau. Quỷ thay thể lệ mới. “Ăn gốc, cho ngọn”. Phật bảo Người trồng lúa. Người thu ngọn lúa. Quỷ bị ăn gốc rạ. Những gánh thóc vàng theo chân Người về nhà. Người được ăn cơm no. Quỷ tức giận, mặt xám xịt.

Quỷ ra thể chế mới cho mùa sau. “Ăn cả gốc lẫn ngọn’. Quỷ vênh váo nghĩ: “Cho chúng mày muốn trồng gì thì trồng, gốc và ngọn đều trong tay chúng tao”.

Phật bảo Người trồng ngô. Phật trao cho Người hạt giống cây ngô, gieo khắp nơi.

Năm ấy, Người thu bắp ngô ngang trên thân cây. Những bắp ngô to bằng bắp tay, hạt mẩy đều, đổ thành đống trong sân nhà Người. Còn lại thân cây ngô trơ trọi. Gốc và ngọn ngô, Quỷ đều không ăn được. Quỷ căm giận lồng lộn.

Quỷ bắt Người trả lại hết ruộng đất cho Quỷ. Chúng ngạo mạn nghĩ: “Thà để đất ruộng hoang phế, còn hơn để Người được trồng cấy mà ăn. Cho Người nằm co, chết đói, chết rét dần mòn”.

Phật bảo Người điều đình với Quỷ. Cho Người tậu một miếng đất vừa bằng chiếc áo cà sa. Người sẽ trồng một cây tre trên có mắc áo cà sa. Bóng cà sa che bao nhiêu phần mặt đất, là thuộc về đất của Người.

Lúc đầu, Quỷ không nhận bán đất. Sau suy đi, tính lại, Quỷ thấy đất thì ít, mà Người lại trả giá rất hời, bèn nhận lời. Quy ngu ngơ nghĩ: “Đất bằng một chiếc áo cà sa, có đáng là bao. Cứ nhận một đống tiền đút túi, bôi vàng chơi.”

Quỷ làm tờ giao ước bán đất cho Người. “Đất trong bóng áo cà sa che là đất của Người. Đất ngoài bóng áo cà sa là của Quỷ”.

Khi Người trồng xong cây tre. Phật đứng trên ngọn tre. Tung áo cà sa thành một miếng vải tròn. Phật hóa phép làm cho cây tre cao vút tầng Trời.

Bất ngờ. Trời Đất trở nên âm u. Bóng áo cà sa của Phật dần dần che kín mặt đất.

Quỷ không ngờ. Sự phi phàm tối thượng của Phật bao vây Quỷ. Bóng áo cà sa lấn dần vào đất của Quỷ. Quỷ dắt nhau, đàn đàn, lũ lũ, lùi mãi, lùi mãi. Cuối cùng, Quỷ hết đất, không còn chỗ chen chân. Quỷ chạy tụt ra Biển Đông. Vì thế Người gọi là Quỷ Đông.

Quỷ tụ tập bám vật vờ ngoài Biển Đông. Quỷ mất Đất đã chiếm được của Người. Căm hận ngụt ngạt. Quỷ dồn tiền, vàng, binh lính, lập mưu ma, chước Quỷ, tìm cách vào Đất liền, cướp lại Đất từ tay Người.

Lần này. Người phải chiến đấu với Quỷ quyết tử. Quân của Quỷ hầm hập một bầy ác thú. Chó ngao, hắc hổ, bạch xà, hà bá… hùng hổ, hung dữ.

Phật cầm gậy tầm xích. Đánh Quỷ, cứu Người. Quân của Quỷ run lẩy bẩy. Mặt tái dại. Không đánh nổi Người. Quỷ thua tan tác. Quỷ chơi trò hoãn binh. Nói cười mụ mị. Mua chuộc, lừa Người.

Quỷ cho quân dò la xem Phật sợ gì. Phật bảo: “Sợ hoa quả, oản, chuối, cơm nắm, trứng luộc”.

Phật biết Quỷ sợ máu chó, lá dứa, tỏi và vôi bột. Lần giáp chiến tiếp theo. Đàn Quỷ khuân vác các thứ hoa quả, oản, trứng luộc, ném tới tấp vào Phật.

Phật cười hàm tiếu, bảo Người nhặt hoa quả, oản, trứng, ăn no nê, rồi đem máu chó vẩy vung vãi khắp nơi. Đàn Quỷ thấy máu chó khiếp vía, kinh hồn, kéo nhau bỏ chạy.

Lần quyết chiến tiếp tục. Quỷ ngú ngớ, lại đem oản, chuối ném vào Phật. Người ăn thỏa thích. Phật bảo Người ăn ngon lành, rồi lấy vôi bột tung vào mặt Quỷ.

Quỷ hít phải vôi bột ngạt thở. Người lấy lá dứa quất túi bụi vào Quỷ.

Đàn Quỷ rút chạy tán loạn. Mịt mù. Không nhìn thấy Trời Đất. Phật bắt cả lũ Quỷ đày ra biển Đông.

Quỷ già, Quỷ trẻ, Quỷ đực, Quỷ cái, cuốn khăn gói, lếch thếch, hoảng loạn, rập rờn, chới với ra Biển Đông.

Quỷ rập đầu trước Phật. Xin Phật Từ bi cho phép lũ Quỷ một năm được vài ngày Tết Nguyên Đán vào Đất của Người, thăm phần mộ cha ông chúng đã chết.

Tiếng khóc than của Quỷ rền rĩ, đen đúa bọt biển Đông. Phật Từ bi cho phép Quỷ vào Đất liền cúng bái mẹ cha.

Vì thế. Hằng năm, đến ngày 23 Tết Nguyên Đán là ngày Quỷ được vào Đất của Người. Đến ngày mồng 7 Tết là Quỷ phải cuốn chạy, vật vờ Biển Đông.

Người Việt theo Phật dạy. Trồng Cây Nêu trước cửa nhà từ ngày 23 Tết. Hạ Cây Nêu ngày mồng bảy Tết, để trừ Quỷ.

Trên Cây Nêu có khánh đất. Mỗi khi gió rung thì phát ra tiếng động, để đuổi Quỷ tránh ra. Quỷ không được phép vào ngôi nhà thân thương của Người.

Trên Cây Nêu buộc một bó lá dứa hoặc cành đa hình mỏ hái, là vũ khí diệt Quỷ. Dưới chân Cây Nêu, Người dùng vôi bột vẽ hình cung tên, hướng mũi nhọn ra Biển Đông. Và rắc vôi bột xuống vùng Đất trồng Cây Nêu để cấm cửa Quỷ.

Người Việt truyền đời câu Tục ngữ Việt Nam:

Cành đa lá dứa treo kiêu (cao),
Vôi bột rắc ngõ chớ trêu mọi nhà.
Quỷ vào thì Quỷ lại ra,
Cành đa lá dứa thì ta cứa mồm.

Ba Hiệu Danh Linh Diệu

Thế kỷ XXI. Nước Việt và Người Việt vẫn như vậy. Ngày Tết dân Việt trồng Cây Nêu đuổi Quỷ và tụng niệm Ba Hiệu Danh Linh Diệu do Phật Hoàng Trần Nhân Tông linh ứng, giúp Người thắng Quỷ.

Những người Dân Việt yêu Nhà, yêu Nước Hằng ngày tụng niệm Ba Hiệu Danh Linh Diệu.

 I. TỰ HÀO

     Nam mô Mộc Giáng Hương Bồ Tát Ma Ha Tát

II. NGHỆ THUẬT

      Dẫu rằng là sắt là chì
             Đến đây cũng phải quy y Phật Đà
             Nam mô Bát Đại Bồ Tát giáng cát tường Bồ Tát Ma Ha Tát

III. VỊ THA

     Bây giờ Sen mọc Biển Đông
             Quỷ thành Bồ Tát Lạc Hồng bình yên
             Nam mô Bản tôn Việt Nam Thái bình An lạc vô lượng nhân tâm Phật.
                           (Ba Hiệu Danh đều niệm 8 lần)

(*) Ý nghĩa của Chân Ngôn Thần chú     

            Các Thiền sư dạy:        

“ Chân ngôn là một đơn âm hoặc chuỗi âm thanh đầy năng lực, những âm thanh này chứa đựng hàng loạt sóng âm ba và năng lượng. Khi trì tụng, chân ngôn không chỉ giúp tiêu trừ bệnh tật, phiền não, nghiệp chướng mà còn có năng lực kết nối, hợp nhất Tâm chúng ta với những tầng Tâm thức cao hơn. Chân ngôn hay Thần chú như vậy là chìa khóa trực tiếp giúp hiển lộ vũ trụ pháp giới bên ngoài và bên trong, là công cụ nhanh chóng, nhẹ nhàng, hiệu quả để tiếp cận những kênh năng lượng linh thiêng từ các chiều Tâm thức cao hơn”.


Hồ Gươm Tết Bính Thân 2016.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 05.02.2016.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004