Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới






Chú Tiểu Học Sinh Chu Văn An





T ôi trở thành đệ tử của nhà Phật trong giai đoạn khó khăn của gia đình: Đó là năm 1952 sau khi đã tự học để dự thi tốt nghiệp tiểu học và độc thân thi vào Chu Văn An. Một thí sinh tự do, học mỗi nơi một chút, trong mỗi trang báo một bài , chưa có một vị thầy nào đã rèn cập tôi trong lâu năm, tôi cứ nay đây nay đó, học mỗi vị một chút phẩm cách và kiến thức để rồi thi vào trung học đệ nhất cấp Chu Văn An. Vui mừng quá, thế là đã gần 10 năm kể từ ngày xảy ra chiến tranh, mẹ con chúng tôi đã lang thang hết nơi này đến nơi kia, nhưng dù đến đâu, ở lâu hay tạm, bao giờ mẹ tôi cũng tìm cách xin cho anh em chúng tôi được học, bây giờ phải tính đến chuyện thi vào trường công để học cho thành tài, tôi nộp đơn xin vào trường và mua một bộ sách Hiếu Học để tự luyện thi.

Một ngày đầu năm 1952, chuyến tàu điện từ Bưởi xuống đến quãng tránh, tàu Quán Thánh thì dừng lại, trời mưa rào, gió đập tùng vốc hạt mưa rơi lộp bộp trên nóc toa rồi chảy dài xuống. Hôm đó là ngày tổ chức thi vào trường Chu Văn An, nên đường phố Cửa Bắc, Quán Thánh đông học sinh đi lại, mỗi người trong một số học sinh đó cũng đều như tôi được mẹ cha chăm chút mọi thứ để mà bình tâm  tĩnh trí đi thi, Chúng tôi đi dưới trời mưa để đến  trường Chu Văn An vào  buồng thi, trong lúc nước mưa ướt nhòa mắt, những quả bàng chín vàng bị gió rụng rơi đầy đường. Hương bàng thơm ngát bốc lên từ những quả chín thơm đó gợi lên cả một tuổi thơ: Có đứa trẻ nào mà không ham thích nhặt bàng, ăn bàng, tôi quên cả xấu hổ nhặt vội mấy quả bỏ vào túi quần sooc. bây giờ vào lớp rồi mà những giọt nước đang rỉ xuống chân ghế. Cuộc thi khắc nghiệt năm ấy tôi đã đỗ vào đệ thất( lớp cuối hệ Trung học đệ nhất cấp) Thông tin của trường báo về vùng quê xa huyện Thường Tín làm cả họ đều vui.

 Hè năm 1953-1954, những gia đình trong nội thành Hà Nội ngày càng khó khăn về kinh tế, cuộc chiến đang vào những ngày gay go, quân Pháp thay tướng chỉ huy, mở những cuộc hành quân ra vùng tự do. Hang ngày trên các trang báo, thấy nhiều vùng quê đã bị càn quét, người ta đùn về Hà Nội đông hơn, lang thang và thất nghiệp. Mẹ con tôi đã lưu lạc về một ngôi chùa nhỏ ở ven sông Tô Lịch để ở nhờ, Trong những ngày nghỉ đó, tôi đi làm thuê cho một gia đình bán đậu phụ, còn mẹ tôi đi dọc sông Tô Lịch, chặt những cây con, phơi khô đem bán kiếm tiền từng bữa, chúng tôi ở cách biệt với các vị sự trụ trì ở trong chùa cho đến một hôm, nhà sư Cả đi xuống nhà ngang . Đó là một vị sư già, cuộc sống tu hành đạm bạc tạo cho người một đáng phiêu phiêu thoát tục. Bàn tay già có những ngón tay gầy thon thả,  tay phải cầm theo một chuỗi tràng hạt, màu đen bóng chứng tỏ vị sư đã nhiều ngày niệm Phật cùng tràng hạt ấy. Ngày hôm đó, mẹ tôi ốm, cảm nắng vì mấy ngày vất vả. Anh em tôi đang quây quanh, chưa biết làm gì thì sư cụ đã lên tiếng:

_ Thí chủ và các cậu sao vậy?

Nghe tiếng hỏi, mẹ tôi mở mắt nhìn, khi nhìn ra nhà sư trụ trì, bà vội chấp tay:

_ A di đà phật, bạch cụ hôm nay con không may bị cảm nên ở nhà, cụ xuống thăm, chúng con không biết, xin cụ đại xá cho.

_ Ấy chết, sao bà khách khí thế. Nhà chùa nơi đây đón người khó là chuyện thường tình. Cho thầy hỏi: bà và các cháu là người đâu ta?

Mẹ tôi thật thà kể lại cuộc đời và quê quán, câu chuyện của chúng tôi khiến nhà sư có vẻ trầm mặc, cụ ngồi im lặng nghe. Ngoài hiên, nhạt nắng lúc nào cũng không ai biết, chợt cụ quay ra nhìn trời rồi nói: “Câu chuyện của gia đình bà cũng là một nỗi khổ, nhưng trần ai còn nhiều nỗi khổ. Máu đổ đầu rơi làm chết bao sinh linh, biết bao gia đình tan nát. Vậy ta khuyên thật: Đừng nghĩ mình là khổ hơn người khác, hãy gắng lên. Bây giờ đã xế chiều, ta phải lên chùa làm lễ Phật, có gì nhà chùa sẽ nghĩ cách giúp”!!

Sư cụ lên nhà phương trượng, mẹ tôi vẫn bàng hoàng như trải qua một giấc mơ, nhà chùa đã cử vị sư bác mang cho ấm lá thuốc và mấy phẩm oản lộc. Có thuốc để uống, có lộc Phật để ăn đỡ lòng, bữa ấy tự nhiên mẹ tôi khỏe hẳn.

Bẵng đi một thời gian, ngày hè đã sắp hết mà chúng tôi còn ở nơi xa lắc, không biết có kịp về học trường cũ, hay phải bỏ học. Thuở ấy thi đỗ vào trường Chu Văn An đâu phải dễ. Các bạn trong lớp đệ Thất B3 của tôi cũng đều là con các nhà công thương hoặc chính trị gia tại Hà Nội. Các bạn ấy từ cái áo sơ mi, cái quần soóc, cái cặp sách cũng đều sang trọng. Tôi đã vào học cùng lớp ngang sức với họ, mà  nay phải chịu nghỉ học, không đua tranh nữa hay sao? Đang lúc phân vân thì sư cụ lại đến dẫn theo một vị sư nam đã cao tuổi, nét mặt hiền từ, sư cụ nói:

_ Hôm nọ, thầy đi Hạ, nhân kể chuyện gia cảnh của thí chủ và các cháu, thương vì cậu này( thầy chỉ vào tôi) có sức học mà không thể tiến được vì hoàn cảnh nhà nghèo, nên đã xin với chư tăng một việc thiện là nuôi cậu này trong chùa cho ăn học để giúp ích đời sau này. Nay có sư cụ Thanh Hoàn đây nhận cháu là môn đồ, cháu hãy đi theo thầy về chùa, công việc thế nào, thầy Thanh Hoàn sẽ dạy sau

 Đêm hôm đó, tôi được nhà chùa cho ở lại để chào mẹ và các em. Mẹ tôi bảo: Con hãy đi theo nhà chùa, cố gắng mà học. Nếu được Phật Tổ phù hộ thì sau này sẽ nên người. Mẹ chỉ giữ con đến đây thôi.

Hôm sau từ biệt ngôi chùa cổ bên sông Tô Lịch có hai người ở cùng đi, ngược đường vào Hà Nội. Tôi đi theo thầy ôm chặt vào ngực cái cặp da, tặng phẩm của các bác thợ cùng trọ trong chùa. Biết tôi là học sinh, đã từ vùng tự do về, lại tự thi đỗ vào trường nên các bác mến lắm, mấy hôm nay bác Khuồng cặm cụi khâu tặng tôi chiếc cặp da, bác nói:” tôi biết ít chữ lắm, chỉ biết làm bằng tay thôi, em mà được nhà chùa cứu giúp thế này là duyên số đấy. Chúc em đi hầu cụ, học đạo, học sách được tăng tiến”.

Thầy Thanh Hoàn vẫn đang dự lớp Hạ ở chùa Quán Sứ chưa có điều kiện đưa tôi về chùa riêng, nên thầy “giấu” tôi trong buồng. Một tuần sau thầy nói với tôi:

_ Thầy sẽ làm lễ thế pháp cho con,  hiện nay thầy  lo đủ hành lý, áo quần của một chú tiểu, nhưng vì thầy còn bận học Hạ, học xong thầy lại về Sơn Tây để coi chùa, con mà theo thầy thì sẽ không được đi học nữa. Làm như thế thì hóa ra thầy lừa dối các vị sư, lừa dối gia đình con. Vậy từ mai, thầy sẽ gửi con về một ngôi chùa sát trường học. Con tu ở đó, ngoài sự học hàng ngày, hãy làm tròn các việc mà nhà chùa giao cho. Thầy không ép con đi tu suốt đời, thầy chỉ là người đặt một cái cầu nhỏ đỡ bước cho con trong lúc này. Nhưng con phải nhớ học cho giỏi, đừng phụ duyên Phật Tổ từ bi.

Đêm hôm ấy, tôi cạo trọc đầu, thay quần áo học sinh bằng quần áo dài nâu, thầy tôi lo đủ từ chiếc mũ vải đến đôi dép nâu. Lễ thế pháp không có một nén hương không có nghi thức nào, nhưng từ đáy lòng tôi có một cảm xúc trào dâng, tôi đã khóc vì hàm ơn lớn mà tôi được hưởng, mà đời này đã ai làm được hơn thầy. Ngày khai trường tháng 9/1953, sân trường Chu Văn An có một chú tiểu đến học lớp Đệ Lục B3 trước bao cấp mắt của thầy giáo và bạn bè.  Tôi cứ phải tự xưng lên:! “Tôi là Ni đây, học sinh lớp 7 B3 cũ đây”

Và như thế đó, nhà chùa đã cưu mang tôi, cho tôi đi học những ngày khó khăn, đúng như thầy Thanh Hoàn đã nói: “bắc một cái cầu cho con vào đời” đến nay, tôi vẫn chưa biết người ở đâu còn ở cõi trần hay đã về nơi cực lạc. Bài viết này xin để dâng tới Phật môn một nén tâm hương.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 03.02.2016.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004