Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
Qúy vị đang nghe
Piano Sonata N°31 của L.Beethoven


Chùa Cót - Ngọc Quán Tự




Học Vấn Tài Cao Cùng Trời Đất





N gày Chủ nhật 10- 1- 2016. Mặt Trời rực sáng không gian. Chúng tôi cùng TS sinh học Nguyễn Đức Thắng và bà Nguyễn Thị Thanh Hà Sàn giao dịch kết nối cung cầu Nông nghiệp thực phẩm Việt Nam (AFDEX) và về làng Cót thuộc phường Yên Hoà, quận Cầu Giấy, Hà Nội, lễ đền thờ cụ Tổ Hoàng giáp Nguyễn Như Uyên.

Nguyễn Đức Thắng sinh năm 1974, là cán bộ Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn. Nguyễn Đức Thắng không ngừng dành thời gian, Tâm, Đức nghiên cứu ứng dụng Khoa học Sinh học đưa vào thôn làng, giúp nông dân các loại giống, phân vi sinh, kỹ thuật Sinh học, để trồng cấy lúa, rau quả sạch, chất lượng cao.

TS Nguyễn Đức Thắng là con cháu trực hệ đời thứ 20, của dòng họ khoa bảng nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam Nguyễn Như Uyên.

Tháng 11- 2014. Trung tâm Hoạt động Văn hóa khoa học Văn Miếu- Quốc Tử Giám (Hà Nội) Hội thảo khoa học “Tế tửu Quốc Tử Giám Nguyễn Như Uyên và truyền thống khoa bảng họ Nguyễn làng Hạ Yên Quyết, Hà Nội”.

TS Nguyễn Hữu Mùi, Phó Viện trưởng Viện Hán Nôm, đánh giá: “Một dòng họ với 23 người đỗ khoa trường ở mức đại khoa và trung khoa là thành tựu rất đáng ghi nhận. Đây là niềm tự hào không phải dòng họ nào ở nước ta cũng đạt được. Đó chính là tài sản tinh thần rất quý báu của một dòng họ danh gia vọng tộc- một dòng họ khoa bảng nổi tiếng ở nước ta trong lịch sử”.

Với hơn 800 năm lịch sử khoa bảng Việt Nam (1075-1919), dòng họ Nguyễn Như Uyên làng Hạ Yên Quyết có 5 tiến sĩ được khắc tên trong bảng vàng, bia đá Văn Miếu- Quốc Tử Giám.


Nghĩa tình Trung Hiếu để nghìn thu


Làng Cót xưa, nay san sát nhà cao tầng. Những ngõ nhỏ bê- tông vòng vèo, còn sót lại vài ngôi nhà cổ, với những cái cổng cổ xưa. Tiếng gà gáy nhắc nhớ về ngôi làng Thăng Long ngàn tuổi. Nhà thờ họ Nguyễn Như Uyên trầm thiêng, trang nghiêm trong xóm. Bốn chữ Liêm quận công từ tỏa sáng, vượt lên những nhà cao tầng. Tường bao cửa nhà thờ chạm khắc Tùng, Trúc, Cúc, Mai tượng trưng nhân cách người quân tử.

Chúng tôi kính cẩn thắp hương trước mộ Liêm quận công Nguyễn Như Uyên trong sân đền thờ. Pho tượng tạc cụ từ ngày ấy, sắc phục quan lớn cung đình, mũ cánh chuồn, gương mặt thẳng ngay, đầy đặn, đôi mắt sáng tươi. Hằng ngày cụ nhận những bông hoa tươi con cháu dâng hương cúng và ban phước lành.

Hai bên khám thờ tượng cụ Nguyễn Như Uyên ghi câu đối:


         Học vấn tài cao cùng Trời Đất

         Nghĩa tình Trung Hiếu để nghìn thu


Bên phải và bên trái mộ cụ, có bốn ngôi mộ của bốn vị tiến sĩ, con cháu trực hệ Nguyễn Như Uyên.

Đó là cụ Nguyễn Xuân Nham (đời thứ hai) đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sỹ xuất thân (năm 1499) làm quan Hình Bộ cấp sự trung, Thừa Chánh sứ ty.

Cụ Nguyễn Khiêm Quang (đời thứ ba) đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sỹ xuất thân (năm 1523), làm quan Mậu Lâm Lang phụng trí đại phu, Lạng Sơn sứ tán trị, Thừa Chánh sứ ty, Tham chính.

Cụ Nguyễn Nhật Tráng (đời thứ năm) đỗ Đệ nhị giáp tiến sỹ (năm 1589), tức Hoàng giáp, làm quan Đô cấp sự trung, Tá lý công thần. Khi mất được vua phong là Bỉnh Trung Đại vương.

Cụ Nguyễn Vinh Thịnh (đời thứ tám) đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sỹ xuất thân (năm 1659) làm quan Thẩm hình viện, Giám sát ngự sử.

Bức tường trong sân đền thờ, chạm khắc hình ảnh kể chuyện cuộc đời cụ Tổ Nguyễn Như Uyên.

Nguyễn Như Uyên (1436-?) người làng Cót (tên chữ là làng Hạ Yên Quyết), nay thuộc phường Yên Hoà, quận Cầu Giấy, Hà Nội. Thuở nhỏ Nguyễn Như Uyên nổi tiếng thông minh, hay chữ. Dù nhà nghèo nhưng nghe ở đâu có thầy giỏi, sách hay, cũng tìm đến xin học. Sau các buổi học, Nguyễn Như Uyên cuốc đất cày cấy, trồng ngô lúa, để trả ơn thầy. Năm Quang Thuận thứ 10 (đời Lê Thánh Tông, 1469), triều đình mở khoa thi Hội, nghe lời khuyên của thầy dạy, Nguyễn Như Uyên 33 tuổi, quyết lên đường ứng thí.

Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Ngày 26 tháng hai năm Kỷ Sửu, vua ngự cử Kính Thiên, thân hành ra đề văn sách, hỏi về đạo trị nước để lấy hiền sĩ… Số người đỗ ở khoa thi này gồm 22 người. Ngày 12 tháng 5, vua xướng danh Tiến sĩ lần lượt là Phạm Bá, Nguyễn Như Uyên, Thân Nhân Trung… và ân mệnh cho mũ, đai, y phục và ban yến ở Lễ bộ…”

Nguyễn Như Uyên đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ (Hoàng Giáp). Tin Nguyễn Như Uyên đỗ đại khoa bay về làng Cót, nức lòng mọi người. Lễ vinh quy bái tổ, được dân làng tổ chức linh đình, đón bậc khai khoa làm vẻ vang vùng đất cổ, mở ra truyền thống khoa bảng cho làng Cót.

Với kiến thức uyên thâm, Nguyễn Như Uyên được vua phong Tế tửu Quốc Tử Giám (Hiệu trưởng); Nhập thị Kinh Diên (được vào cung giảng sách cho vua). Cuối đời cụ làm quan tới chức Thượng thư Bộ Lại, Chưởng lục Bộ sự (đứng đầu 6 Bộ). Khi về trí sĩ, được phong tước Thái Bảo, Liêm Quận Công.

Đến nay hậu duệ của cụ Nguyễn Như Uyên đã phát triển đến đời thứ 22 ở các phường: Yên Hoà, Nghĩa Đô, Quan Hoa (quận Cầu Giấy) gồm 17 chi họ. Một số nhánh ly hương lên lập nghiệp ở Sơn Tây (Hà Nội), Lâm Thao (Phú Thọ)… Năm 2012, nhà thờ họ Nguyễn Như Uyên cổ kính mấy trăm năm ở làng Cót, được công nhận Di tích lịch sử- văn hóa.


Đại thần giúp Lê Thánh Tông trở thành minh quân


Các nhà nghiên cứu khẳng định, Nguyễn Như Uyên là đại thần trụ cột triều đình, có nhiều công lao giúp vua trị nước. Lê Thánh Tông nổi danh sử sách là đấng minh quân, với 38 năm trị quốc. Bởi xung quanh vua, có nhiều bề tôi giỏi. Hàng nguyên lão đại thần có Nguyễn Xí, những trí thức trẻ có Thân Nhân Trung, Đỗ Nhuận, Lương Thế Vinh, Nguyễn Như Uyên...

Trong những thành tựu vẻ vang mà vua Lê Thánh Tông xây dựng như giữ yên biên thùy, mở mang bờ cõi, xây dựng luật Hồng Đức, vẽ bản đồ Hồng Đức, đào tạo các bậc hiền tài “nguyên khí quốc gia”... Nguyễn Như Uyên đều góp công lớn.

Không chỉ là nhà giáo lo việc giáo dục và nghiên cứu học thuật, Nguyễn Như Uyên được giao đi sứ nước Tàu với tâm thế thông tuệ, đường hoàng, chính trực và trở về an toàn. Văn võ song toàn. Nguyễn Như Uyên được tham gia các cuộc chinh phạt bảo vệ đất nước. Đại Việt sử ký toàn thư chép năm 1479, tù trưởng xứ Bồn Man (một quốc gia tồn tại ở phía Đông nước Lào và một phần các tỉnh miền Bắc Trung Bộ Việt Nam (từ Nghệ An đến Quảng Bình) là Cầm Công làm phản, xui người Lão Qua (Lào) sang đánh nước Việt. Vua Lê Thánh Tông điều động quân chinh phạt. Nguyễn Như Uyên được cử làm Hành quân Chư doanh ký lục. Khoảng 18 vạn quân Đại Việt chia làm 5 đạo quân tiến đánh địch. Cuộc chiến diễn ra ác liệt. Quân Đại Việt toàn thắng.


Danh hương Làng Cót- Kẻ Cót


Là một trong bốn vùng có nhiều nhà khoa bảng nổi tiếng của huyện Từ Liêm “Mỗ, La, Canh, Cót - tứ danh hương”, làng Cót (nay là phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy) nằm sát cửa ngõ phía Tây thủ đô, là một vùng đất cổ. Theo Bạch Liên khảo ký làng Cót có cư dân sinh sống từ đời nhà Đường. Sách ghi “... Đến đời Mục Tông nhà Đường đô hộ, Cao Biền đắp thành Đại La, đào sông Tô Lịch, sắp xếp cư dân, bấy giờ làng ta mới được yên chỗ ở”.

Lúc đầu làng Cót có bốn họ: Nguyễn, Hoàng, Quản, Doãn. Sau có thêm Trần, Phạm, Lê, Ngô. Làng Cót có truyền thống hiếu học. Từ đời Trần (thế kỷ 14) đến đời Nguyễn (thế kỷ 20) làng có 20 người đậu đại khoa, trong đó dòng họ Nguyễn Như Uyên có 5 người.

Vị khai khoa đầu tiên của làng là Hoàng Quán Chi đỗ Thái học sinh, năm Trần Thuận Tông Quang Thái thứ 6 (1393) làm quan Thượng thư bộ Hình và bộ Lễ.

Đời vua Lê Thánh Tông. Nguyễn Như Uyên, đỗ Đệ nhị giáp tiến sỹ (Hoàng giáp) khoa thi Kỷ Sửu, năm Quang Thuận thứ 10 (1469). Khoa thi này không có hàng Tam khôi (Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa). Đỗ đầu là Phạm Bá (người thôn Phác Xuyên, xã Bạch Đằng, huyện Tiên Lãng, Hải Phòng). Thứ hai là Nguyễn Như Uyên. Từ đây, hậu duệ Nguyễn Như Uyên đời nối đời tiếp dòng khoa bảng, đầy nhà một sân quế hòe, vinh danh gia tộc.

Làng Cót hay Kẻ Cóttên Nôm của làng Yên Quyết cổ xưa. Làng Yên Quyết thời gắn với truyện lịch sử nhuốm màu huyền thoại. Đó là cuộc thi đấu pháp thuật, ân oán giữa hai pháp sư (thiền sư và đạo sĩ) Từ Đạo Hạnh (người làng Láng (Yên Lãng), nhưng quê mẹ làng Cót (Yên Quyết)) và Lê Đại Điên (người làng Yên Quyết), trong việc đầu thai làm thái tử nhà Lý.

Đến thế kỷ 13, thời Lý- Trần, cùng với việc du nhập nghề làm giấy, làng Cót tức làng Yên Quyết phát triển thành hai vùng nghề giấy truyền thống. Nửa trên của làng về phía Bắc, gần Cầu Giấy chuyên nghề làm giấy từ vỏ cây dó. Là thứ giấy dó chất lượng không cao, làm từ những miếng đầu mặt của vỏ cây dó, gọi là giấy xề. Nửa làng dưới nằm ở phía Nam, bắt đầu từ cầu Cót trở xuống, chuyên làm vàng mã, từ giấy xề. Dần dần, làng Yên Quyết, tách thành hai làng Thượng Yên Quyết (Cót Thượng sau gọi là làng Giấy) và Hạ Yên Quyết (Cót Hạ vẫn giữ tên gọi là làng Cót). Đến nay, dân làng Cót vẫn giàu bởi nghề làm vàng mã. Nhiều tư nhân có những xưởng lớn làm vàng mã bằng thứ giấy chất lượng không cao, xưa gọi là giấy xề.


Hiền tài là nguyên khí Quốc gia


Bài văn bia cho bia tiến sĩ đầu tiên khoa Nhâm Tuất (1442) do Thân Nhân Trung viết Hiền tài là nguyên khí của Quốc gia âm vang sông núi, truyền nối muôn đời dân Việt.

Thân Nhân Trung (1419 - 1499) là một danh sĩ Việt, Phó đô Nguyên súy Tao đàn Nhị thập bát Tú của Lê Thánh Tông. Ông đỗ Tiến sĩ, làm quan nhà Hậu Lê dưới hai đời vua Lê Thánh Tông và Lê Hiến Tông, giữ các chức Đông các Đại học sĩ kiêm Tế tửu Quốc tử giám, kiêm Thượng thư bộ Lễ, trưởng Hàn lâm viện sự, Thượng thư bộ Lại, nhập nội phụ chính.

Năm Hồng Đức thứ 15 (1484). Thân Nhân Trung cùng các quan bộ lễ, viết các bài văn bia, khắc vào các bia tiến sĩ đầu tiên của Việt Nam. Các bia này hiện đặt tại Văn Miếu- Quốc Tử Giám, ghi lại mục đích lập mỗi khoa thi Nho học. Hoàn cảnh lịch sử các khoa thi được khắc bia. Hoàn cảnh ra đời của văn bia. Nội dung quan trọng nhất là đề danh các tiến sĩ đỗ đại khoa trong khoa thi đó.

Thân Nhân Trung được giao soạn bài văn bia cho bia tiến sĩ đầu tiên khoa Nhâm Tuất (1442). Khi viết về mục đích các khoa thi nho học, trong bài văn bia này, Thân Nhân Trung đã nêu bật được tầm quan trọng của giáo dục nhân tài đối với việc hưng thịnh của đất nước:

Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn. Vì thế các bậc đế vương thánh minh không đời nào không coi việc giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí quốc gia làm công việc cần thiết...

Thời @ không ít người hô khẩu hiệu Hiền tài là nguyên khí của quốc gia. Các danh xưng Tiến, sĩ, giáo sư… nhiều vô kể. Nhưng đã mấy ai được nhân dân kính trọng, tôn vinh là Hiền tài, Kẻ sĩ để hòa vào nguyên khí Quốc Gia. Chỉ có Trời biết, Đất biết, người dân lành yêu nhà, yêu nước biết.


Vua Sáng, tôi Hiền


Lê Thánh Tông (20/7 / 1442- 30/ 1/ 1497 ), là Hoàng đế thứ 5 của triều Hậu Lê, nước Đại Việt. Ông trị vì 38 (1460 - 1497 ). Lê Thánh Tông dùng hai niên hiệu Quang ThuậnHồng Đức. Thời Hồng Đức đạt nhiều thành tựu và được tán thưởng nhất, nên Lê Thánh Tông được gọi là Hồng Đức Đế.

Người dân Việt kính trọng, ngưỡng mộ Lê Thánh Tông. Người đã hy sinh quyền lợi của dòng tộc, minh oan cho Nguyễn Trãi.

Thánh Tông Hồng Đức hoàng đế được cho là có tư chất thông minh, học vấn uyên bắc, giỏi về xử lý chính trị và cả về văn học, nghệ thuật. Dưới thời đại của ông, Đại Việt phát triển rực rỡ về mọi mặt từ kinh tế văn hóa xã hội giáo dục quân sự và trở thành một cường quốc, cũng như đã khiến Quân chủ chuyên chế Việt Nam đạt đến đỉnh cao vàng sơn. Nước Đại Việt từ trước chưa bao giờ cường thịnh và mạnh mẽ, có sức ảnh hưởng toàn khu vực lớn như thời này, thời kỳ này được gọi là Hồng Đức thịnh thế. Điều đó khiến ông trở thành một trong những vị Hoàng đế vĩ đại nhất của lịch sử Việt Nam”. (Wikipedia)

Bởi vì vua Lê Thánh Tông quy tụ rất nhiều người tài như Thân Nhân Trung, Đỗ Nhuận, Lương Thế Vinh, Nguyễn Như Uyên…

Sử sách ghi thời Lê Thánh Tông, nước Đại Việt phát triển về mọi mặt, đặc biệt về giáo dục. Để đào tạo và dùng người tài, các cơ quan khoa học, văn hoá, giáo dục như Hàn Lâm viện, Quốc Sử viện, nhà Thái học, Quốc Tử giám… được phát triển. Vua cho xây kho bí thư để chứa sách dùng làm tài liệu tham khảo, học tập. Lê Thánh Tông khởi xướng lễ xướng danh (lễ đọc tên người thi đậu). Lễ vinh quy bái tổ (lễ đón rước người thi đậu về làng). Lập bia Tiến sĩ để tôn vinh những người tài đức và khuyến học. Hệ thống trường học mở rộng. Chế độ thi cử minh bạch, nên dễ nhận biết người tài để giao việc nước… Ai đỗ cao thì làm quan. Không mua quan, bán chức tù mù.

Dưới triều Lê Thánh Tông, nhiều công trình nghiên cứu, học thuật có giá trị ra đời: Bộ luật Hồng Đức, Bản đồ Hồng Đức, Bộ sử Đại Việt sử ký toàn thư, bộ sách Thiên Nam dư hạ tập (gồm 100 quyển ghi chép các chế độ, luật lệ, văn thư, điều lệ, các giấy tờ văn thư hành chính như chiếu, dụ, cáo, sắc…). Những công trình ý nghĩa ấy có công lao đóng góp không nhỏ của Tham tụng Nguyễn Như Uyên.

Là người mô phạm, mẫu mực, kiến thức uyên thâm, Nguyễn Như Uyên được vua tin tưởng giao chức Tế tửu Quốc Tử giám. Nguyễn Như Uyên đã cố vấn nhà vua làm cho đạo học lan toả, kẻ sĩ thăng hoa, hiền tài tụ họp. Với những cống hiến ấy, những năm sau này ông được sung thêm chức Nhập thị Kinh diên (vào cung giảng sách cho vua).


Liêm quận công- Vị quan Thanh liêm


Liêm quận công Nguyễn Như Uyên, nổi tiếng là người thanh liêm, cương trực. Từ một nhà giáo, ông được vua tin dùng thăng chức Thượng thư Bộ Lại, Chưởng lục Bộ sự (đứng đầu sáu bộ), Tham tụng (tương đương Thủ tướng).

Cũng vì nổi tiếng thanh liêm, khi về hưu ông được phong tước Thái bảo, Liêm quận công. Sách sử kể rằng dù suốt quãng đời dài làm quan lớn trong triều, nhưng lúc về già ông không có gia sản nào đáng kể. Vua cảm mến, ban cho thái ấp để hưởng tuổi già, lập nên cơ nghiệp họ Nguyễn ở làng Hạ Yên Quyết, lưu truyền đến con cháu ngày nay.


Địa linh Nhân kiệt


Thăm đến thờ cụ Tổ Nguyễn Như Uyên. Đi tìm ánh sáng mả kết dòng họ Nguyễn Như Uyên cùng TS Nguyễn Đức Thắng, tôi cảm nhận được dòng chảy Địa linh Nhân kiệt.

Khi chúng ta nói Triết học phương Đông Thiên- Địa- Nhân hợp nhất, Địa linh nhân kiệt, Hiền tài là nguyên khí Quốc gia… là nói đến mối quan hệ giữa Con người với Trời Đất. Con người nối giữa Đất và Trời.

Nói thì dễ. Nhưng hiểu được mối quan hệ Con người với Trời Đất ở mức độ sơ khai, cần phải có một chiến lược giáo dục tương lai. Chiến lược này được cố GS Nguyễn Hoàng Phương nghiên cứu và xuất bản sách Tích hợp đa Văn hóa Đông Tây cho một chiến lược giáo dục tương lai (NXB Giáo dục Hà Nội- 1996).

Giáo sư Nguyễn Hoàng Phương (1927- 2004) sinh tại Huế. Năm 1954. Ông dạy các môn Toán, Vật lý lý thuyết, đặc biệt là Lý thuyết nhóm, Cơ lý thuyết, Lý thuyết tương đối, Cơ lượng tử, Lý thuyết các hạt cơ bản tại Trường Đại Học Tổng Hợp -Nay là Đại học Quốc Gia Việt Nam.
Năm 1970. Ông nghiên cứu những vấn đề thuộc Triết học cổ Đông phương. Trường Sinh học, theo tầm nhìn Triết học. Phương pháp luận và Cơ chế, trong mối quan hệ với các Khoa học Tây phương.
Năm 1985. Nguyễn Hoàng Phương định hướng được con đường Tích hợp Triết học cổ Đông phương (Bao gồm cả Trường sinh học ) với Lý thuyết Tập mờ (do LA. Zadeh- Thuộc Trường Đại Học Beklay -California sáng tạo năm 1965).

Sách Tích hợp đa Văn hóa Đông Tây cho một chiến lược giáo dục tương lai dày gần 2000 trang khổ lớn.

Trong bài viết này chúng tôi trích dẫn nguyên văn, mục GS Nguyễn Hoàng Phương viết về Nguyên lý Thiên- Địa- Nhân hợp nhất.


Nguyên lý Thiên- Địa- Nhân hợp nhất


Do sự tồn tại của Đại ngã trong cấu trúc và bản thể của mình con người hợp với “Trời, Đất “ thành Một. Đó là nội dung của nguyên lý Thiên Địa Nhân. Về mặt sinh học nguyên lý đó biểu hiện như sau:
Năng lượng của Trời đi xuyên qua
luân xa 7 Bách hội, rồi chảy xuống theo con đường tủy sống. Mặt khác năng lượng của Đất đi qua luân xa 1 (Hội âm) rồi chảy lên phía trên, cũng theo con đường tủy sống. Theo Phương Đông, Trời được coi là Dương, Đất là Âm. Như thế trong con người Dương giáng Âm thăng. Chính hai quá trình Dương giáng Âm thăng này của năng lượng Trời Đất trong tủy sống của nhân thế, đã tạo ra được mọi nguồn năng lượng cho sự sống của con người. Do các năng lượng này giao nhau nên người xưa nói rằng Con người là vạch nối giữa Đất và Trời.
Nền văn hóa truyền thống Việt Nam đó đã mang trong lòng nó một Tinh hoa nào đó. Và một số câu hỏi cần đặt ra một cách rất nghiêm túc. Những chiến công hiển hách của dân tộc chúng ta từ trước đến nay phải chăng là do một sức mạnh của một Tinh hoa nào đó của chính dân tộc chúng ta. Nếu vậy, Tinh hoa đó là gì và tìm ở nơi đâu?
Theo lịch sử, một trong những vấn đề có liên quan là vấn đề Địa linh và Địa linh sinh Nhân kiệt.
Trong Văn Miếu Quốc Tử Giám có đoạn “
Hiền tài là nguyên khí của đất nước…
Tất nhiên hiền tài với nhân kiệt là đồng nghĩa. Còn nguyên khí chính là bản thể của Địa linh. Đất nước chúng ta có những Địa linh như Núi Tản Viên, Tam Đảo, Ngũ Hành Sơn , núi Yên Tử, Hồ Tây, Hồ Hoàn Kiếm, Chùa Hương…
Điều quan trọng là đề ra một cách thực nghiêm túc các nguyên tắc, phương pháp bảo vệ các Địa linh đó, và tìm hiểu nghiên cứu về các địa linh này.
Chiến lược giáo dục tương lai cho con em chúng ta sẽ liên quan đến các vấn đề phát hiện, bảo vệ và phát triển Tinh hoa trên như thế nào?”.

Từ Nguyên lý Thiên- Địa- Nhân hợp nhất của cố GS Nguyễn Hoàng Phương, người viết bài này diễn ca:


Địa linh Nhân kiệt


Trời Đất Người là Một/ Hiền tài là Nhân kiệt/ Nguyên khí là Địa linh/ Kho báu Quốc gia mình.

Sông Núi Nước Nam linh/ Nhân kiệt Tình yêu Lớn/ Xây đắp núi sông thiêng/ Người Non Nước hữu Tình.

Địa linh sinh Nhân Kiệt/ Hổ phụ sinh Hổ tử/ Sứ mệnh Trời Đất trao/ Cứu máu đào Rồng Tiên.

Học Tinh hoa Thế giới/ Hành Phật pháp Lý- Trần/ Võ Tây Sơn, Việt cổ/ Văn Đại Cáo Bình Ngô.

Bản lĩnh Thiền Trúc Lâm/ Oai Thần Đức vô lượng/ Sức mạnh Thiên, Thánh Gióng/ Lòng dân hợp thong dong.

Khơi Phong thủy, Nguyên khí/ Ghi tạc tên sông núi/ Đặc sản vật, mỗi miền/ Diệt Cao Biền trấn yểm.

Tìm Ánh Sáng mả kết/ Tâm linh đình, chùa, miếu/

Đời truyền đời Phúc Thọ/ Thần đồng, tiến sĩ sinh.

Ngừng đập phá núi sông/ Bê- tông hóa nương đồng/

Hố đen đang rình rập/ Chớ ngu ngơ, dại khờ!

Đào than bùn Ninh Bình/ Tan thềm lục địa lúa/ Ngăn cát bồi lấn Biển/ Nguyễn Công Trứ không tha.

Mời Nhân loại Tiến bộ/ Cùng dân Việt làm ăn/

Để nâng niu sông núi/Thơm ao nhà hương Sen.

Bản đồ Dư Địa Chí/ Nguyễn Trãi đã làm rồi/ Bộ đội Vì Nhân Dân/ Giữ Địa linh Nhân kiệt.

Từng người dân canh gác/ Giữ tấc đất linh khí/ Không cho lý xã toét/ Hám tiền, bán địa linh.

Vương, tướng Thời @/ Tâm, Trí, Đức xông pha/ Thông kim cổ Đông Tây/ Phép Thánh tối thượng trị.

Nhận rõ Thật, Quỷ, Ma/ Chân Thiện Mỹ nở hoa/

Âm phù và Dương trợ/ Nước Việt Nam trường tồn.


Thăng Long- Hà Nội.

Chào Xuân 2016



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 27.01.2016.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004