Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




Mẹ và Những Cuốn Sách







C uối năm, chuẩn bị đón tết, vợ và các con bận rộn quét, lau mọi ngõ ngách trong nhà ra tận cửa. nước lênh láng từ tầng trên xuống tầng dưới…Ông Cần vì cái chân cụt, không làm được việc gì nên ngồi trên giường sắp xếp lại cái tủ sách, làm cho có việc.

Từ ngày vào Sài gòn, không biết đã là định cư chưa, bởi có nơi ông đã ở tới 40 năm, tưởng sẽ là vĩnh viễn, thế mà rồi phải bán tất cả để vào ở cùng các con. Vào đây, ông mua lại căn nhà, bé hơn nhà ông ở quê, bé hơn nhiều lắm, nên ông cho cái tủ sách nằm ngay trong phòng ngủ, ở cuối giường. Cũng hay, xưa nay ông thích nằm đọc sách hơn là ngồi.

Hôm chuẩn bị chuyển nhà, ông quyết định đồ đạc tủ bàn bỏ lại hết, vào trong này mua lại. Chỉ có sách là ông tiếc, không bỏ hết được, lọc lựa thế nào cũng còn mấy thùng giấy cứng. Vào đây hai năm, mua thêm một ít, bạn bè tặng một ít thành nhiều…

Miên man với những cuốn sách, rối nhớ tới những ngày mẹ còn sống, những năm tháng khốn khó gần 40 năm trước, những cuốn sách của ông đã làm mẹ khốn khổ hơn, ông ứa nước mắt vì thương mẹ…

Ngày ấy, ông chỉ mới hai mươi, mẹ đã còng lưng theo năm tháng cực nhọc từ hồi nào rồi, thủa chưa rời quê vì bom đạn.

Theo đoàn di dân vào lập nghiệp nơi núi rừng Ninh Thuận này, những luống khoai, đám mì càng làm lưng mẹ còng hơn.

Chính thể đổi thay, kéo theo mọi sự thay đổi. Gia đình ông bấy lâu nhờ vào đồng lương của người chị, anh rể là lính. Nay không còn lương tháng nên vất vả hơn.

Mấy tháng sau khi tạm ổn định việc đưa đi học tập cải tạo các đối tượng thuộc chế độ trước. Ủy ban Quân quản có lệnh thu giữ và tiêu hủy văn hóa cũ, không phân ra loại sách nào là đồi trụy hay phản động…mà là tất cả!

Hồi còn đi học, lâu lâu chị cho tiền mua sách, ngoài sách học, thừa tiền ông mua thêm các cuốn sách mà ông thích, lần hồi cũng được chừng mấy chục cuốn.

Nhìn kệ sách, vuốt ve, lật xem từng cuốn…ông quyết định không đem nộp, biết rằng những cái tên tác giả nước ngoài trên bìa sách có thể lả tai họa! Ông lấy một cái bao gạo, loại bao 50 kg, sắp gọn tất cả vào, rồi cho xuống gầm giường, đẩy sâu vào góc tường, dự tính nếu nghe có đi kiểm tra thì mang vào rẫy dấu đâu đó.

Cả thôn rầm rộ đem nộp sách, truyện…Có người một hai cuồn, có người mang cả chồng báo Playboy, có người là thầy giáo dạy học bao năm, cho xe kéo đến mấy thùng, toàn Tự điển, sách Nghiên cứu Giảng dạy, Văn học, Lịch sử Thế giới…Tất cả được cho vào kho trụ sở. Bạn thân ông làm Tuyên Văn Giáo thôn, từng học Đại học Văn, ban Việt-Hán tại Đại học Đà lạt, cả hai đứng nhìn mà lòng tiếc xót!

Chừng hai tháng sau ngày 30/4/1975. Ông cùng bạn được gọi lên trụ sở thôn. Cán bộ trên xã về lảm việc, bạn ông được giao cho làm Tuyên-Văn-Giáo, còn ông, cho đi học hai tuần về làm Kinh Tài thôn.

Bạn ông cũng như ông, thương mấy cuốn sách lắm, nhưng cha của bạn ấy là Công chức chế độ cũ, không cho ông giữ lại, buộc phải đem nộp hết! Hai đứa phụ bưng các thùng sách vào kho mà tâm trí cứ băn khoăn không biết người ta có duyệt, chọn lọc loại nào cần tiêu hủy, loại nào cần trả lại hay không. Chẳng lẽ tất cả đều là đồi trụy và phản động hết sao!?

oOo

Lâu lắm rồi, kể từ ngày đem sách đến nộp, không thấy ai nhắc nhở gì đến chuyện tiêu hủy hay giải quyết thế nào về số phận của những cuốn sách, những chỗ dột làm ướt một số, một số bị các ủy viên lén lấy về làm giấy đi vệ sinh.

Căn phòng được trưng dụng làm kho cũng là phòng đặt máy phóng thanh, trong các ban ngành, Kinh Tài là ban thông báo nhiều hơn hết, từ gạo, mắm, dầu lửa đến vải, nilon…Hằng ngày ông vào thông báo trên loa phóng thanh cho bà con trong thôn, cứ thấy đống sách là ông xót ruột mặc dù chẳng phải của mình.

Một hôm, trong trụ sở thôn không có ai, ông nấn ná ngồi lại sau khi thông báo xong. Lật xem mấy cuốn, toàn sách của những tác giả ông ưa thích: F. Dostoievsky, E. M. Remaque, A. Camus, J. P. Sartre, V. Gheorghiu…Nhiều tác giả, tác phẩm mà Cha Mai Nghị, dạy môn Triết ông hồi còn đi học hay nhắc đến nhưng ông chưa được đọc. Số sách này phần nhiều ký tên Lê Thanh Dân, một thầy giáo dạy Văn ở Quy Nhơn đem nộp. Ngày thầy đem sách đến, ông đứng bên thầy, nhìn thầy húng hắng ho. nhìn nước da tái xanh và đôi mắt đỏ như muốn khóc mà thương…

Biết chắc là không có ai, ông lấy cuốn “Anh em nhà Karamazov” của Dostoievsky, cho vào chiếc túi mang về. Cuốn này, bao nhiêu lần ông đứng ngắm nó trong hiệu sách, nhưng không dám hỏi mua vì biết chắc rất đắt, nhìn độ dày của nó cũng đủ biết! Ông khóa cửa phòng lại, đi ra mà lòng lo sợ đủ thứ chuyện, lỡ có ai đi vào, dọc đường gặp ai đó tò mò hay một cán bộ xã…Ông đi như chạy, vào trong nhà, ngồi trên giường mà tim ông đập như vừa chạy bộ mấy cây số, vội vàng cho xuống gầm giường, dự tính vài ngày sau mới lôi ra đọc.

Được một lần, đọc xong, rồi những lần sau ông lấy hai cuốn, ba cuốn tùy độ dày mỏng của những cuốn sách. Tò mò về Chủ nghĩa Cộng Sản, ông lấy những cuốn liên quan về Chủ nghĩa này, đọc ngấu nghiến hằng đêm. Đọc xong, ông cho thêm vào bao gạo, chẳng bao lâu, phải kiếm một cái bao khác…Cứ thế, lấy về, đọc xong cho vào bao, đã bốn cái bao đầy mà không ai phát giác hay nói chuyện mất sách trong kho, chừng như ai cũng có lấy về đi vệ sinh, nên chẳng ai thèm thắc mắc gì!

Có một hôm, cán bộ phụ trách an ninh, họp toàn dân phổ biến lệnh kêu gọi những ai còn tàng trữ sách báo chưa nộp thì đem nộp tiếp, phát giác ai còn cất giấu thì tố cáo với chính quyền để thu hồi…Ông ngồi nghe mà lo sợ cho những cuốn sách, lo sợ cho bản thân sẽ bị quy là ngoan cố hay phản động! Ông muốn đem đi nộp nhưng lại ngại là sẽ bị hỏi sao lâu nay không nộp!

Mấy ngày sống trong âu lo, cuối cùng, ông quyết định sẽ dần dần mang vào đám rẫy gần nhà. Khi đã chuyển vào hết, mẹ cùng ông đào một cái hồ, lót một lớp nilon ở dưới, phủ một lớp bên trên rồi lấp đất lại. Cả hai mẹ con vừa đào vừa hồi hộp, thỉnh thoảng ông chạy ra đường đi nhìn trước nhìn sau…Kể từ hôm đó, ông không đọc mà cũng không lấy thêm cuốn sách nào!

Chừng hai tháng sau, cả ông và bạn đều bị cho nghỉ việc thôn. Một ông lớn tuổi, từ Quảng Ngãi vào được thay ông làm Kinh Tài, một anh bên chi đoàn Thanh Niên thay bạn ông làm Tuyên Văn Giáo.

Nghỉ việc thôn, bạn ông bị gọi đi Nghĩa vụ Thanh Niên Xung Phong, còn ông, có mẹ già nên được miễn.

Ở cuối đám rẫy cùa mẹ, có một bộng mối rất lớn, một hôm trời trở mưa, mối bay đầy, bay cả vào mặt ông. Lo cho mấy bao sách, ông bàn với mẹ đem về lại nhà, thời gian này thấy cũng êm êm, không còn nhắc chuyện nộp sách nữa. Hai mẹ con lại đào lên rồi lần hồi chuyển về, dấu sau đám mì của lô gia cư. Những lúc mưa, mẹ lôi vào nhà từng bao thật vất vả. Ông lại đọc những cuốn chưa kịp đọc, chuyền cho những bạn thân của ông cùng đọc.

oOo

Anh rể đi cải tạo về, làm rẫy chỉ khoai lang và mì không đủ qua ngày bèn đưa chị và đứa con vào Long Khánh làm ăn. Cũng không khấm khá hơn là bao. Nhà chỉ còn ông và mẹ.

Kinh tế càng lúc càng khó, ông đi buôn tàu lửa cùng những người dân trong vùng. Dân buôn xứ ông đầy sân ga...Đi buôn cũng không đủ gạo cơm mắm muối, phải ăn độn mì, khoai. Một hôm, mẹ ngại ngần nói:

- Con lựa cho mẹ mấy cuốn sách đã đọc rồi.

- Làm gì vậy mẹ?

- Mẹ bán cho mấy người bán hàng, họ gói hàng.

- Sách khổ nhỏ họ có mua không?

- Họ cắt nhỏ gói bột ngọt, ớt bột, tiêu…

Ông ra sau nhà, giữa mấy luống mì ngồi lựa, cuốn nào cầm lên cũng tiếc! Ông đem cho mẹ năm cuốn. Mẹ cho vào bao rồi mang ra chợ!

Vốn không có, đi buôn càng khó, chái bếp nhà ông đã dỡ hết tôn đem bán lần hồi, tội nghiệp mẹ phải ngồi nấu nướng giữa nắng, những lúc mưa phải dời bếp vào trong nhà! Vốn cứ cụt dần vì vừa ăn, vừa bị bắt mất hàng.

Chị cả ông ở Quảng Trị vào thăm, mẹ và chị ôm nhau khóc suốt mấy ngày. Hôm về, chị bảo ông cùng ra quê. Mấy ngày về quê không vui, chỉ gặp được các cháu nhưng chúng còn nhỏ, ông dành một ngày đi thăm mộ cha và bà con, hôm sau ông vào lại. Đứng trước sân nhà, chị sụt sùi:

- Chị muốn đưa mẹ và em về làng, nhưng em không làm ruộng Hợp tác xã nổi đâu. Chị còn mấy chỉ vàng, em cầm hai chỉ làm vốn mà buôn bán.

Ông òa khóc, còn khóc to hơn chị! Nhìn túm gạo chị ông cột sẵn cho ông mang vào, chỉ chừng 10 kg, nhưng ông lo không biết có mang vào được không!

- Em sợ không mang gạo vào được, hay chị để lại, có vốn rồi, em vào đi buôn mua gạo trong đó cũng được, mất uổng lắm!

- Mất thì thôi em ạ.

Chị đưa anh ra cổng làng, ngay trạm kiểm soát này đã không qua được. Chị năn nỉ mãi nhưng cũng đành mang về, may mà gặp thằng cháu trong họ gác trạm, nếu không thì đã bị tịch thu.

oOo

Có hai chỉ vàng, ông bán đi làm vốn, theo một người bạn đi buôn xe đạp từ Sài gòn về bán trong địa phương. Một lần đi, ông mua hai chiếc, thỉnh thoảng có người đặt mua xe cũ, ông mua thêm một chiếc theo ý người đặt. Đi buôn xe đạp thì đi bằng xe đò, ít vất vả nhưng hồi hộp hơn là đi xe lửa, bởi phải qua nhiều trạm kiểm soát, nhờ tài xế và lơ xe năn nỉ cũng qua lọt. Không chi cho trạm thì chi cho tài xế. trạm tốn nhiều, tài xế ít hơn!

Ông đi được chừng sáu chuyến, mẹ mừng vì bớt nổi lo gạo mắm. Chuyến cuối, ông từ Sài gòn về vừa vào nhà, mẹ ghé tai ông thì thào:

- Họ đến tìm con!

- Ai vậy mẹ?

- Du kích và công an!

Ông nhìn mẹ lo lắng, nói:

- Mình có làm gì đâu mà sợ mẹ, chắc chuyện đi buôn thôi!

Mẹ không bớt lo âu nhưng cũng xuống dọn cơm, hai mẹ con vừa ngồi vào bàn thì ba du kích cùng công an xã đi vào:

Với lý do không xin phép đi lại, anh bị bắt. Ở trại tạm giam huyện, anh được biết thầy dạy Lý- Hóa của anh và ba người bạn học khác, bị bắt trước anh nhưng cũng cùng ngày!

Hơn hai năm bốn tháng, ông trở về cùng mẹ, lệnh tha ghi tội danh là: “Nhen nhóm âm mưu lật đổ chính quyền”. Thầy ông phải ở thêm ba năm nữa mới được tha.

Chiều hôm trở về, mẹ mừng quá, hét lên khi ông vào nhà. Đôi tay gầy guộc ôm chặt lấy ông khóc mếu máo!

Sáng hôm sau, ông hỏi mẹ về mấy cuốn sách. Mẹ buồn rầu:

- Mẹ bán dần dần đi thăm nuôi, còn mấy cuốn thôi con ạ!

Anh cười lớn, nói cho mẹ yên lòng, mặc dù còn nhiều cuốn ông chưa kịp đọc:

- Hết thì thôi, con đọc hết rồi mẹ ạ.

Những ngày trong tù, hàng tháng mẹ đi thăm đều đặn. Mẹ kể chuyện làng xóm, người xắt cho ký thuốc rê, người cho đường tán, bánh tráng…Mẹ không tốn gì, chỉ bán vài cuốn sách mua cho anh ít đồ ăn ngay như bánh mì, xôi, gói chè, nải chuối…

Mẹ lôi cái bao gạo dưới gầm giường, anh sắp mấy cuốn sách ra xem: “Anh em nhà Karamazov” của Dostoievsky, “Exodus” của Leon Uris, “Hố thẳm thư tưởng” của Phạm Công Thiện, “Giọt lệ và nụ cười” của Kahlil Gibran và “Sử thi Mahabhahta” của Ấn độ.

Những cuốn sách này dày hoặc do bìa mới, mẹ cho là hay, có lẽ ông quý hơn cả nên chừa lại!

- Mẹ bán luôn đi, con cũng đã đọc những cuốn này rồi.

Bữa cơm trưa có thịt bò nhờ mấy cuốn sách nặng ký, ông thầm nghỉ bữa ăn gồm: Văn học Nga, Ấn độ, Ả rập, Việt nam và Mỹ(*) mà không thịnh soạn sao được! Ông cười, gắp miếng thịt bò bỏ vào chén mẹ:

- Thịt bò ngon quá mẹ ạ, mẹ cùng ăn chứ sao con ăn hết được!

- Lâu lâu mới có người ở Động Mé lên bán xương bò của HTX, mẹ mua được cái xương, lóc thịt ra đó.

Năm cuốn sách dày và hay, mua được cái xương bò. Ông muốn cúi đầu tạ lỗi, tạ lỗi với những ai đã viết, đã dịch, đã bỏ công sức làm nên những cuốn sách!

Sài Gòn, Tháng I, năm 2016.

(*) - “ Anh em nhà Karamazov” của Dostoievsky: Nga.

- “ Exodus- Về miền đất hứa.” của Leon Uris: Mỹ.

- “ Hố thẳm tư tưởng” của Phạm Công Thiện : Việt Nam.

- “Sử thi Mahabhata”: của: Ấn Độ.

- “ Giọt lệ và nụ cười” của Kahlil Gibran : Ả Rập.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 23.01.2016.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004