Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




VỀ QUÊ NGÀY TẾT.




T ôi đã thực hiện một cuộc về quê ngoại ngẫu hứng, không có trong chương trình định trước. Từ một tin nhắn của bạn bè rủ nhau về thăm Phú Cốc (Huyện Thường Tín) trong khi chưa xác điknh ngày đi, thì tôi lẳng lặng xếp máy ảnh, máy ghi âm và quyển sổ tay vào túi đạp xe lên đường.

Bến xe Giáp Bát thưa vắng, đã 14 giờ mà nắng gắt chói chang. Một ánh nắng nóng đến kỳ lạ khiến người ta muốn cởi bỏ lễ phục để đi đường được thoáng mát. Một người khách nói với tôi :” Hôm nay xe chạy dãn chyến, mình nên thông cảm với anh em lái phụ xe đang vật lộn kiếm sống” Thế nào là vật lộn kiếm sống “ Tôi hơi lạ và được nghe giải thích “ Bây giờ luật nhà nước nghiêm, nên thợ lái dù có bằng cấp hẳn hòi mà sơ xẩy cũng bị đuổi việc, mà đã mất việc thi dù anh có bằng lái cũng chẳng có nơi nào dung túng.”

Chuyến xe khởi hành trong nắng, lúc đầu còn thưa khách,nhưng về tới Văn Điển khách lên xe đông hơn, người ta sợ cái nắng chói đầu xuân, tới Văn Giáp đã thấy có tai nạn. Hai xe máy đâm vào nhau, một xác người đắp chiếu nằm đó. Anh CSGT đang loay hoay đo đạc. Người dân phòng nói cho biết “nạn nhân là người huyện Phú Xuyên”

Nhìn thấy bên chiếu có chiếc dép trẻ em cỡ 3 tuổi nằm bên vũng máu, không biết số phận em bé ra sao. Các bà ngồi trên xe khách kêu lên thương xót , họ đoán rằng bố con nhà nọ đi lễ Tết, chếnh choáng hơi men nên đã đâm xe vào nhau. Thôi thì ai lỗi hãy xét sau, chỉ biết tai nạn là nghiêm trọng.

Không chuẩn bị kịp lễ vật, nên khi vào chợ Bằng tôi rẽ vào hàng mua mút, rượu đem về quê. Cô hàng nói “ Hộp mứt này em lấy bác 17.000 đ” Thấy cô ra giá như vậy tôi trả lời “ Cô lấy tôi giá 17.000đ. vậy tôi lấy cô trả giá bao nhiêu ?” Cô nàng ngớ ra vì khó trả lời, trong khi các cô bạn hàng cười vui vì gập ông khách sắc xảo.

Làng quê Phú Cốc tĩnh lặng trong nắng, vắng bóng người đi lại trên đường. Nơi Miếu giữa làng có một lá cờ Hội đang tung bay. Nhà bà chị ở trong ngõ bên đường.Vẫn cái dáng người nhỏ bé, khuôn mặt trái xoan đặc trưng của người họ Nguyễn trong làng. Chị đã hơn 70 tuổi, nhưng còn nhanh nhẹn. Chị em gập nhau, bà hỏi

-Mấy năm nay chú ở đâu, mà chẳng có tin tức gì. Chú Ba mất, tôi cũng không được biết, chú thì không về làng nên chẳng biết hỏi tin ai.

Quê tôi bây giờ người làng lên thành phố đi làm nên vắng lắm. Tuy vậy để đón Tết, chị tôi luộc đôi bánh chưng, nấu chè bà cốt dâng cúng gia tiên. Đất làng đã bị lấy làm khu công nghiệp, người trẻ đi xa, không biết ngày hôm qua mồng Một Tết, cái ngày nguyên đán thiêng liêng ở quê quang cảnh ra sao.

Hàn huyên chị em , hỏi thăm vài người cũ, đã hết thời gian , tôi đưa lễ vật nhờ chị “kêu thuê lậy đỡ” tại nhà thờ bên ngoại rằng có thằng cháu ngoại về quê, nhưng không có thời gian nên chỉ ở làng một lúc rồi đi

Xe chuyển bánh lúc 16 giờ từ Phố Ga Thường Tín. Qua Văn Giáp vẫn thấy đám đông quanh nơi tai nạn. Cái xác được chuyển vào bên đường, đắp chiếu dưới trời oi nắng. Người Cảnh sát Giao thông vẫn đơn độc chờ đồng đội, chờ người nhà nạn nhân đến để giải quyết.

Xe ngược hứơng Bắc. Mặt trời đã xuống phía Tây, ánh nắng chiếu qua cửa xe, nên không ai cảm thấy mát mẻ. Đều nóng bức như nhau.


XÃ HÀ HỒI


Làng Phú Cốc xưa thuộc tổng Hà Hôi, nay vẫn thuộc xã Hà Hôi huyện Thường Tín. Tôi đã có nhiều lần chỉ tạt qua chợ Vồi, gập mặt mấy bà chị trong họ rồi lại tất tả ra đi. Có lần gập chị Chực, chi ứa nước mắt hỏi thăm rồi đổ cả số rau dưa vào túi bắt mang về. Tấm lòng quê mênh mang lắm.

Từ tháng 8 năm 2008, xã Hà Hồi đã thuộc về thành phố Hà Nội, không còn là một vùng nông nghiệp, mà trước đó trong nhịp điệu hối hả của một xã hội đang đổi mới, nhiều vùng quê đã có đổi thay cả về cảnh quan và nếp sống. Đó là điều mà chúng ta nửa mừng nửa lo e rằng sẽ có lúc nào đó, cốt cách xưa của một làng quê sẽ không còn

Hà Hồi còn là một tổng có 4 xã Hà Hồi, Hòa Lương, Phú Côc, Khê Hồi hợp thành. Đời Lê, Nguyễn thuộc huyện Thượng Phúc. Sau năm 1945 đổi gọi là Thường Tín. Các tư liệu văn hóa dân gian ít ỏi mà ta thu lượm được cho biết :

Xã Hà Hồi huyện Thường Tín là một xã bên đường quốc lộ, cách thủ đô 20 km, trong thời gian qua đã có những đổi thay về cảnh quan, nhưng còn đó nét chân quê rất thương, rất thực với mọi người

Hà Hồi là một nơi có giống khoai tây vàng ruột, ngon nổi tiếng, khi mùa đông đến các bà nội trợ thường kén mua để nấu món trong ba ngày Tết. Nông dân từ các làng khác cũng thường đến chợ Vồi để mua khoai giống

Hà Hồi là nơi lưu giữ nhiều nét kiến trúc cổ truyền, đi qua cổng làng Hà Hồi, qua nơi thờ Vị Thánh “Tử Vì Đạo” ta gập ngôi đình làng với 5 của ra vào. Dân Hà Hồi còn lưu truyền câu truyện khi quân Tây Sơn ra Bắc, bất ngờ vây kín đồn Hà Hồi trong đêm 3 tháng Giêng năm Kỷ Dậu (1789) rồi bắc loa truyền gọi, quân Thanh rụng rời sợ hãi xin hàng, ta bắt toàn bộ tù binh, không để một tin nào lọt về đến Ngọc Hồi.

Hạ được đồn Hà Hồi mà không tốn phí một mũi tên, quân Tây Sơn lấy ngôi đình làng làm hành cung, vua Quang Trung ngự ở đây tổ chức luyện quân, chuẩn bị vũ khí, làm phên gỗ chống với đạn nổ của quân Thanh rồi ngày 5 tháng Giêng tiến đánh Ngọc Hồi, đại phá quân Thanh, thừa thắng tiến về giải phóng Thăng Long. Tại làng, còn nhiều di chỉ mang tên cánh đồng Quan, cánh đồng Vua, từ hơn 200 năm trước, Hà Hồi đã có tên trong lịch sử dân tộc, nhưng vẫn khiêm nhường , chân chất nét quê vùng đồng bằng Bắc Bộ - Từ đời Lê đã có các bậc hương lão làng Phú Cốc “cùng nhau liên danh, gột rửa tấm lòng cốt cho trong sạch để bàn việc lập khoán ước cho làng” Bản khoán ước đã viết : - “ Từng nghe nước có trăm điều pháp luật để làm cho chính sự được ngay ngắn, xóm làng có ước lệ để mà giúp cho phong tục thêm thuần hậu.

Gốc của nước chính là dân vậy” Khoán ước làng Phú Cốc có 14 điều, nay còn phù hợp với chương trình xây dựng làng văn hóa.

Về văn tài, những năm đầu thế kỷ XX, các nhà nho thường lưu truyền bài thơ của cụ Từ Diễn Đồng

Ông viết rằng


Đêm sao đêm tối mãi mò mò

Đêm đến bao giờ mới sáng cho
Con trẻ u ơ chừng muốn dạy
Ông già húng hắng lại đâm ho
Ngọn đèn rình trộm khêu còn tỏ
Tiếng cho canh người vẫn cắn to
Hàng xóm láng giềng ai đã dậy

Dậy rồi, lên tiếng gọi nhà nho.


Lúc này Phong trào Cần vương bị đàn áp, nhà nho muốn tìm một con đường cứu nước, cứu nhà, tâm sự ấy thổ lộ qua những câu thơ trên.

Làng Hà Hồi, làng Phú Cốc có nhiều nhà nho học giỏi, đã từng thi đến Tam trường nhưng không đỗ bảng vàng, trở về quê dạy học thành danh. Có một cụ ở Phú Cốc dạy học, được dân tôn là Tổng sư. Tại một di tích có tên là Hương Hiền Từ, đôi câu đối tương truyền là của cụ


Thành tất đạt ư bang khai ngã hậu học
Một như kỷ ư xã viết hương tiên sinh


Đôi câu đối đó, phải chăng đã nói rõ cái cốt cách nhà nho tại nơi này

Những khi xuân về Tết đến, người đi xa về làng, họ tộc gập nhau, trên thuận dưới hòa, anh em thương kính cùng bước đến cảnh thọ vực xuân đài.Dân gian có câu “đất vua, chùa làng” để chỉ về 4 xã, đều có các di tích đình chùa riêng , với những nét đẹp riêng.

Đình Hà Hồi một di tích được xây từ thế kỷ XVII theo đánh giá của nhà nghiên cứu nỹ thuật Nguyễn Phi Hoanh thì “tam quan đình là một kiến trúc độc đáo, ít thấy ở các thời khác” (trích Lược sử Mỹ thuật Việt Nam)

Gọi là Tam quan nhưng tại đình Hà Hồi có đến 5 cửa ra vào. Cửa nào cũng là một khối hình đồ sộ, với các góc mái, đầu đao cao vút. Trên tường đắp các bức phù điêu voi, ngựa, rồng, phượng tạo nên một tổng thể hài hòa và hùng vĩ. Đình Hà Hồi mang kiến trúc Nội tam ngoại quốc còn nhiều hiện vật điêu khắc như đôi rồng đá, đôi chó đá, bia đá lập năm Thịnh Đức đời vua Lê Thần tông (1653) Đình có nhiều bức cốn tại nóc nhà tiền tế với nét chạm trổ tinh xảo của nghệ thuật đời Lê Do trùng tu nhiều lần, ta chưa tìm được dấu xưa nhất, nhưng căn cứ vào đạo sắc phong năm Hoằng Định đời vua Lê Kính Tông thì ít ra đình cũng có từ những năm đầu thế kỷ XVII. Do trải qua thời gian chiến tranh và những hoàn cảnh xã hội, nên đình Phú Cốc và đình Hòa Lương không còn nưa, mãi đến đầu thế kỷ XXI, làng Phú Cốc mới xây đình làng, cổng làng tại dịa điểm mới.

Trong làng Khê Hồi có một cụm đình chùa xây liền nhau, cấc di tích này cũng không kém di tích đình Hà Hồi, ngoài những di tích xưa, ta còn gập ở trong văn chỉ của làng, có một ngọn bút xây trước cổng ra vào, tưởng như gập lại khí phách ngọn bút “Tả thiên thanh” của Nguyễn Văn Siêu bên cầu Thê Húc Nếu đất Hà Hồi thịnh về sản nghiệp thì Khê Hồi lại là nơi thịnh về khoa cử, trong làng có họ Từ là dòng họ sản sinh nhiều vị khoa cử.

Theo sách “Quốc triều Hương khoa lục” đã có những vị sau đây thi đỗ Cử nhân rồi từ đó thành đạt : - Cụ Từ Tế thi khoa Kỷ Mão năm Tự Đức thứ 32 (1879) sau làm quan tới Tri huyện, là người khai khoa trong họ - Từ Đạm là con trai Từ Tế, thi đỗ khoa Giáp Ngọ năm Thành Thái thứ 6 (1894). Đến năm Ất Mùi (1895), thi đỗ Tiến sĩ, được bổ làm Tuần phủ.

- Từ Thiệp là con của Từ Tế, em trai Từ Đạm, Năm sau (1895) thi đỗ Phó bảng, được bổ làm Tổng đốc. - Từ Nguyên Mạc thi khoa Bính Ngọ năm Thành Thái thứ 18 (1906), Ông là con Tiến sĩ Từ Đạm, đậu Cử nhân năm 20 tuổi, được bổ làm Tri huyện -Từ Nhiếp Hữu thi khoa Kỷ Dậu năm Duy Tân thứ 3 (1909), năm đó ông mới 23 tuổi, bổ làm hậu tuyển Tri huyện - Từ Bộ Tư thi khoa Ất Mão năm Duy Tân thứ 9 (1915), năm đó ông 27 tuổi. Ông là con trai Phó bảng Tổng đốc Từ Thiệp, cháu Tiến sĩ Từ Đạm, thi đậu Cử nhân

Một dòng họ có nhiều người thi đỗ làm quan nên ngày trước đi trong làng Khê Hồi thấy có nhiều dinh thự. Có người làng đã nói “không nên quên công các ông này, chính họ đã xây nên cổng làng, xây nên văn chỉ cùng các di tích tại thôn tôi đó” Trước năm 2000 ai về làng Khê Hồi đều gập Cổng Đông, một cổng làng xây to , chắc chắn như một cổng dinh thự, bên cổng làng hồi ấy còn có một giếng đất tròn, xây cả bậc lên xuống để người đi qua rẽ xuống lấy nước sinh hoạt.

Vào đầu năm 2000, vì lý do mở đường nên đã lấp giếng và phá cổng Đông. Phá xong cổng gạch, ai đã dựng tại đây mấy cột sắt để treo một cái bảng đề ba chữ “Làng Khê Hôi” . Việc này đã khiến cho các cụ trong làng cảm thấy như mất đi bóng dáng thân yêu, nên vào năm 2007 tại ngõ Phạm đã xây nên một cổng làng mới, vẫn lấy tên làng Khê Hồi với sự đóng góp công đức của nhân dân.

Hà Hồi là một địa phương có Hội hàng Tổng, hàng năm vào ngày 16 tháng Ba âm lịch, cả tổng lo việc tế, rước, Năm 1964 có một đám rước lớn kết hợp với triển lãm nông nghiệp của huyện Thường Tín, Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng về dự. Dân đang vui thì mấy chục năm chiến tranh chống Mỹ cứu nước, không thể tổ chức hội hàng tổng, mãi 40 năm sau, đến thời kỳ đổi mới, cac làng khôi phục tục xưa chuyện cũ mở lại hội làng. Không chịu sống quẩn quanh bên củ khoại tây vàng ruột, đã có một bộ phân người Hà Hồi bôn ba khắp nơi, vào tận Sài Gòn kiếm sống.

Nhưng dù đi đâu đến đâu, lòng họ vẫn nhớ về quê hương, để được bồi hồi nhìn thấy cổng làng, tam quan đình, tháp chuông nhà thờ và cánh đồng mầu thu hái quanh năm

Hà Hồi hiện nay cũng là nơi quy hoạch xây dựng thành khu công nghiệp, đang đón các cơ sở về tổ chức sản xuất. Chợ Vồi đã trở thành nơi giao lưu hàng hóa, và bến xe Thường Tín thành một điểm gập gỡ bốn phương. Lớp người mới hiện nay có học vị cao, nhiều người tham gia công tác địa phương đóng góp với quê hương bằng cả trí thức và vật chất, cố gắng đưa xã Hà Hồi trở thành một vùng tham quan du lịch, phát triển văn hóa,



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 22.01.2016.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004