Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
Qúy vị đang nghe
Piano Sonata N°31 của L.Beethoven




Ngôi Làng Cổ Của Cha Tôi






C hị em họ Mai chúng tôi có quê Cha, đất Tổ tại một ngôi làng bên bờ sông Chanh, chảy qua xã Yên Phúc, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Nhưng chúng tôi không được sinh ra và lớn lên ở quê cha.

Sông Chanh là một trong những sông dài, uốn lượn, chảy qua: Ân Thi (Hưng Yên), Vụ Bản, Ý Yên (Nam Định), Hoa Lư, thành phố Ninh Bình (Ninh Bình) ở đồng bằng Bắc Bộ.

Sông Chanh ôm vòng ba tỉnh, thông thủy vòng vèo. Dòng chảy của nó không được nối liền, liên tục. Sông Chanh truyền nối dòng chảy, qua ba con sông lớn: sông Hồng, sông Đáy, sông Nam Định.

Sông Chanh ở Nam Định chảy theo hướng chính Bắc - Nam, khởi đầu từ xã Đại An, Vụ Bản, xuyên qua các xã Liên Bảo, Thành Lợi, Liên Minh, Vĩnh Hào, Yên Phúc, kết thúc ở ranh giới hai xã Yên Phúc và Yên Lộc, Ý Yên trên sông Đào Nam Định.

Thế kỷ XX. Đời một người Việt Nam phải gánh chịu dăm cuộc chiến tranh. Cha tôi sinh ra bên dòng sông Chanh, làng Chanh Cầu, xã Yên Phúc, huyện Ý Yên, Nam Định vào năm 1917. Cụ thân sinh của cha, làm Chánh Tổng thời thực dân Pháp cai trị nước ta. Trong một góc sâu đồng quê lúa, cha tôi được lên học trường Thành Trung, tỉnh Nam Định, có “lão bộc” chăm nuôi.

Cuộc đời của cha tôi không cam chịu sau lũy tre làng. Năm 17 tuổi, cha rời gia đình, bôn ba sang nước Pháp. Năm 1945 lại trở về Việt Nam, đi bộ đội tại Chiến khu Đông Triều và lập gia đình ở đó. Chúng tôi sinh ra, dưới chân núi Yên Tử. Rồi mẹ con gồng gánh theo cha lên chiến khu Việt Bắc ở vườn cam Bố Hạ. Cha ở một bệnh viện trong rừng sâu, cứu bộ đội và cả tù binh Pháp. Năm 1954. Hòa Bình. Nhà chúng tôi chuyển về thị xã Uông Bí, Quảng Ninh. Năm 1968. Chiến tranh chống Mỹ. Năm chị em tôi lẫn vào khói lửa, đạn bom. Em trai Mai Hòa Bình của tôi, không thể trở về sau cuộc chiến.

Vậy là chúng tôi không có quê hương. Lưu lạc bốn phương trời. Với tôi, mảnh đất hình chữ S bên bờ Biển Đông, nơi nào tôi đặt chân đến, là quê mình. Say mê khám phá hương đất, hồn người mỗi bước tôi qua. Nhưng tôi chưa từng biết về ngôi làng thân thương của cha tôi.

Những ngày chào đón năm 2016. Chúng tôi cùng bà Tôn Lan Phương, Phó GĐ Nhà máy thủy điện Pa Khoang, con dâu họ Mai, về dâng hương Nhà thờ Tổ họ Mai và cùng dân làng Chanh Cầu, cung tiến tượng Mẫu, tượng Đức Thánh Trần, tượng Phật vào ngôi chùa cổ Anh Linh Tự của làng tại xã Yên Phúc, Ý Yên, Nam Định. Cơ duyên khám phá Ngôi làng cổ của cha, bây giờ mới đến trong ngòi bút của tôi.

Khói nhang thành kính trước ngôi nhà thờ tổ họ Mai mới xây lại. Những ông bác, chú họ Mai cùng tuổi với tôi, kể: “Đi đánh Mỹ về, nhà thờ Tổ mấy trăm năm, rộng hàng chục gian, sơn son thếp vàng, cột gỗ lim chạm trổ tinh tế… đã bị phá. Không có nơi thờ cúng Tổ tiên. Anh em, chú bác, cô dì, bàn nhau gom góp xây ngôi nhà thờ Tổ mới, trên nền ao”.

Trong lễ rước tượng tưng bừng tại Anh Linh Tự. Câu chuyện Ngôi làng cổ của cha tôi hiện về từ Địa lý, đến Lịch sử 1040 năm lập làng (975- 2015).

Làng Chanh Cầu là Cứ Cầu ấp cổ xưa của vua Đinh Tiên Hoàng ban, nay thuộc xã Yên Phúc, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Xã có diện tích 8,02 km². Mật độ dân số khoảng 971 người/km², gồm nhiều làng thôn cổ. Làng Nguyễn là một trong những nôi Văn hóa cổ của xã Yên Phúc. Làng có những di tích cổ: Đồng Dê, Cửa Chùa, Mả Chiền, Mả Mái, Đồng Bộ…

Làng Chanh Cầu cổ, nay chia hai nửa, có cây cầu bắc qua. Một nửa bên kia sông là thôn Chanh, nơi có ngôi nhà hương hỏa hơn 100 năm, in dấu Tinh hoa ngôi nhà rường Bắc bộ của ông nội tôi. Nơi chôn nhau cắt rồn của cha tôi. Nơi bà nội tôi ôm cha tôi vào lòng ru “Công Cha như núi Thái Sơn/ Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra”. Vậy mà, chúng tôi không bao giờ được nghe tiếng nói, được ngắm gương mặt, nụ cười hiền, ấm tình quê của ông bà nội ruột rà. Một sự thiếu hụt không thể bù đắp của kiếp người. Một thế kỷ chiến tranh. Con người ly hương trên chính mảnh đất của mình.

Một nửa bên này là thôn Cầu, nơi có ngôi nhà thờ Tổ họ Mai mới xây cạnh ngôi nhà người cháu Mai Trung Cát.

Tôi đứng trên cánh đồng làng xanh ngô, khoai, rau, những mảnh ruộng trơ gốc rạ, từng in dấu chân cha tôi, ngơ ngác.

Chúng tôi thắp hương lạy tạ Tổ tiên, Mẫu, Thần, Phật trong chùa Anh Linh Tự. Sư bà ân cần dẫn tôi gặp cụ Vũ Trọng Chỉnh tuổi 80, phó ban Hội đình làng, Chủ tịch Hội Người Cao Tuổi. Cụ giảng giải cho tôi về sự tích ngôi làng đã hơn nghìn tuổi của cha tôi.

Ngôi làng đại bản doanh dẹp loạn 12 sứ quân

Thần phả ghi. Làng Cầu Chanh xưa, là Cứ Cầu ấp, Gia Trạng trang, được hình thành từ khi vua Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn 12 sứ quân. Đây là ân dức vua Đinh ban thưởng cho tướng công Trần Doanh Nghị đã lấy nơi đây làm đại bản doanh, chiếm giữ cửa biển Đại Nha, giúp Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân, và lập nước Đại Cồ Việt.

Ngôi đình cổ làng Cầu Chanh hơn 1000 năm thơm hương thờ Thành hoàng làng- Đức thượng đẳng Thần Đại vương Trung Hưng tướng Trần Doanh Nghị. Ngài sinh ngày 10- 3- năm 925 trong gia đình Nho giáo. Quê Ngài tại Ái Châu Thiện, thiên Phủ Lương Giang, huyện Lương Giang. Ngài học rộng, tài cao, tài đức xuất chúng, tướng mạo khôi ngô, tráng kiện. Khi đất nước lâm nguy. Loạn 12 sứ quân, Ngài cùng các tướng Đinh Điền, Nguyễn Khu, dương cờ khởi nghĩa, tụ về cùng Đinh Bộ Lĩnh lập nước Đại Cồ Việt. Ngài được vua Đinh cử về vùng cửa biển Đại Nha, trụ sở đóng tại làng Chanh Cầu.

Ngài lập chiến công. Cứu vua Đinh bị giặc vây. Chiến thắng, Ngài cùng vua mở nước Đại Cồ Việt độc lập, thoát nước Tàu. Trong đình còn những câu đối ghi nơi xuất quân của Ngài bên bờ Biển Đông và nơi Ngài đến dẹp loạn 12 sứ quân:

Phù Đinh vũ liệt lưu thanh sử/ Thánh trạch uông dương vĩnh thủy đông.

Rĩ lương sơn khởi Nghĩa Hưng, phù đức Đại An dân hộ quốc/ Dực đỉnh thành đồ đỉnh cống Nam Định, Gia Trạng hải bình sơn.

Nước Đại Cồ Việt ra đời. Trung Hưng tướng Trần Doanh Nghị ở cung đình Hoa Lư cùng vua Đinh lo việc nước. Đến một ngày, ngọc phả ghi:

“Ngài trông lên Trời có một điềm báo. Trông thấy một ánh sáng trên Trời với một cơn gió to vang lên. Một vùng mây hiện ra như một bóng với một dòng nước chảy thẳng, ví như một con Rồng bay trong một khoảng Trời trong sáng. Nó đã báo hiệu có một điềm gì sẽ tới. Trung Hưng tướng nói: “Việc gì làm được thì đã làm được, giờ đây thôi cũng đành chịu số Trời đã định”.

Ngài tạ thế ngày 10- 10 năm Canh Dần, thọ 56 tuổi, được mai táng tại Kinh đô Hoa Lư. Hơn nghìn năm qua, dân làng Chanh Cầu (Cứ Cầu ấp Gia Trạng trang) cúng giỗ Ngài.

Anh Linh Tự và Sư bà không có tuổi

Anh Linh Tự là ngôi cổ tự ngự tại thôn Cầu. Anh Linh Tự thờ Đức Ông. Một vị anh hùng dân tộc, có công với dân, nước và thờ Mẫu, Tổ Tiên, Thần, Phật. Như tất cả những ngôi chùa cổ của thôn làng Việt, Anh Linh Tự bị hoang phế, nay bừng sức sống Tâm linh Việt. Dân làng cùng sư bà và các con cháu dựng lại mái chùa làng thơm hương, vang tiếng chuông sớm, chuông chiều. Chùa tụ hồn thiêng Tổ Tiên, Thần Phật Mẫu, Thổ Công, Thổ Địa… là nơi những người dân lành ký thác đời sống Tâm linh. Những lễ nghi cầu cúng, tế, những tiếng nhạc, sắc phục màu dân tộc… sống dậy, nguyên vẹn như mấy nghìn năm trước.

Những dấu tích, đồ thờ cúng cổ xưa của Anh Linh Tự không còn. Vườn chùa xanh rau, cây quả, vối, nhãn, bưởi, na, hồng, ao chùa ngát hương hoa súng, hoa sen, hoa ngọc lan… Chùa có ruộng cho sư trồng cấy tự nuôi mình.

Và tình người Việt ngàn năm vẫn vậy. Dù ai đi ngược về xuôi, dù trải qua trăm đắng nghìn cay, vẫn cùng nhau về ngôi chùa làng, khói nhang thơm thảo thờ Mẹ kính Cha, thờ Tổ Tiên, Thần, Phật, Mẫu, thờ Thổ Công, Thổ Địa.

Tôi gặp sư bà trụ trì Anh Linh Tự, như gặp những người dân lành nghìn năm trước trong ngôi làng cổ của cha tôi. Thầy hồn nhiên, trong trẻo, thanh bạch, chân thật, ấm áp, thân thiện từ dáng đi, giọng nói, gương mặt, nét cười. Sư bà hôm nay, như bà, như mẹ, như chị, em của mình nghìn năm trước. Đôi mắt tuổi 60 tròn trong sáng, dáng thấp đậm, áo nâu trầm, giọng nói ríu rít, tiếng tụng niệm giòn, nhanh nhảu… Vì nuông chiều chúng tôi, sư bà mời cơm chay theo lối giả thịt, cá màu mè của Thành phố. Tôi xin thầy muối vừng ăn với cơm thơm và rau sạch vườn chùa.

Tôi muốn nói với sư bà rằng, sau quá nửa kiếp người lưu lạc, từng được dự trăm thứ tiệc tùng, được ăn món Á, Âu, cả những món ăn Tây Ban Nha, món nào cũng đắng, cay chảy nước mắt, ở nước Mỹ, hay những món Tàu nặng thịt, mỡ, dầu ở Trung Quốc… Bây giờ tôi mê dùng cơm gạo lức với muối vừng và rau quả vườn quê thanh sạch.

Bao nhiêu ham hố, bao nhiêu ước mơ đã trượt qua. Bây giờ tôi chỉ mơ gặp và chung sống với những người dân lành chân chất, thuần Việt nghìn năm như sư bà, trong ánh sáng điện, nối internet, và bầu không khí ướp hương sen. Tôi ước mơ Ngôi làng cổ của cha tôi, không bị biến thành bê- tông, cốt sắt với tiếng gầm gào của đồng tiền, để cánh đồng ngát hương lúa gạo tám xoan, rau, củ, quả mấy nghìn năm Việt cổ, nuôi dưỡng con người sống an bình cùng Trời Đất.

Tôi không mơ làng thôn Việt Nam của chúng ta, biến thành những ngôi nhà chọc Trời giống nước Mỹ hay nước Tàu, với những món ăn nhanh khô khốc. Và luôn bị báo động đỏ vì thiếu không khí thở. Cầu cho ngôi làng cổ của cha tôi tươi mãi màu xanh, thơm hương gạo quê, trên đồng đất nâu đậm phù sa, trường tồn bên bờ Biển Đông.

Công Cha như núi Thái Sơn

Những năm tháng tuổi thơ, chúng tôi phải sống xa cha. Một mình mẹ thân cò lặn lội, nuôi chúng tôi trong cảnh cơ hàn. Gánh nặng gia đình đổ hết lên lưng mẹ. Nhưng tình cha, nhân cách bất khuất, của cha và gen di truyền, đã hun đúc sức sống mãnh liệt của chị em tôi. Cha tôi im lặng trước cuộc đời xông pha bốn bể, đối mặt với sự sống và cái chết. Thi thoảng tôi được cha kể một vài mẩu chuyện vỡ vụn. Tôi kính phục cha và xót xa, đau đớn. Nỗi đau truyền kiếp chìm sâu trong đôi mắt buồn thăm thẳm của tôi từ khi lọt lòng mẹ.

Giờ đây, mỗi khi thắp hương tưởng nhớ, khấn nguyện cha, tôi được tiếp thêm sức sống:

“Hương trầm thơm cồn cào tấc dạ/ Khói diết da cuộn những đồi thông/ Con dâng cha xao xác thân tàn/ Cầu hồn cha siêu thăng tịnh độ/ Mà lòng con thác đổ Thái Sơn.

Hình cha ghi khắc chẳng phai mờ/ Anh lính vượt rừng đêm tất tả/ Vác ba- lô lặng lẽ qua làng/ Thăm cha già mấy phút vấn an/ Đầu ngõ gặp người hàng xóm bảo:

“Cậu đi ngay! Đi ngay! Đi ngay
Ông Chánh Tổng bị thu tài sản
Bị cầm tù, đánh đập, gông cùm
Đội cải cách thấy cậu bắt ngay ”


Màu xanh bộ đội lẫn vào đêm/ Cha hành quân suốt đời thanh sạch/ Không chém giết, cứu người bất kể/ Chịu sống nghèo, chí khí thẳng ngay/ Để phúc lớn ba đời con cháu/ Im lặng suốt muôn trùng sóng dội!

Dẫn con về quê, thăm mộ Tổ/ Dân bảo ông nội không có tội/ Người nghèo được ruộng, quý ơn ông/ Vườn ông cây lá thơm hoa trái/ Dân trồng và thắp hương mời ông/

Phút giã biệt, cha vẫn ngợi ca/ Cuộc đổi dời người cày có ruộng.

Qua mấy cuộc chiến tranh điên loạn/ Bôn ba trái đất, giặc bắt tù/ Bởi cất tiếng nói yêu nước Việt/ Madagascar đọa đày, cà chua chín đỏ/ Biển dạt dào xanh biếc hồn cha/ Người Việt đấu tranh cho nước Việt/ Đời chưa kịp đến chùa tu Phật/ Cha đã là vị Phật dẫn Tình Con”.

Di truyền Tình yêu làng quê Việt

Chị em tôi không được sống ở làng quê thơm rơm rạ. Nhưng Tình yêu làng quê Việt thao thiết trong tôi, từng giấc ngủ, món ăn. Tôi biết đó là gen di truyền của Tổ tông, nòi giống.

Một chiều Hồ Gươm Mưa Xuân. Ngày 7- 1- 2010. Những cảm xúc và ký ức truyền kiếp, về làng quê, ám ảnh tôi, bùng vỡ thành nhạc điệu Tiếng Việt:

Làng tôi

“Sinh ra trong rừng già chiến khu/ Tôi lang thang khắp chốn hang cùng/ Chẳng có làng, chẳng có quê/ Mà đa đoan một Tình yêu với làng!

Yêu từ gốc rạ bờ tre/ Rạ rơm vương vãi thơm đường làng tôi/ Yêu mái chùa đình đền cổ kính/ Giếng làng trăng ngủ mây phơi/ Ao làng hoa súng hoa bèo nổi trôi.

Yêu bà bán bánh đúc, bún riêu/ Bát chè xanh nóng, kẹo vừng, gốc đa/ Yêu mẹ sớm tối ngoài đồng/ Cào cào, muỗm, chấu, bắt về con chơi/ Yêu cha cày cuốc ruộng vườn/ Con trâu đi trước, điếu cày say nghiêng.

Yêu cô tát nước gầu sòng/ Đêm trăng múc ánh trăng vàng đổ đi/ Yêu gà cục tác lá chanh/ Cơm thơm, nếp dẻo, lạc vừng bùi ngon/ Yêu chú chó nhỏ lon ton/ Đón Mẹ về chợ cho quà bánh đa/ Mẹ mua mắm muối, cá khô/ Rau quả đã có vườn nhà quanh năm.

Yêu vườn trăm thứ rau thơm/ Hương nhu, bồ kết gội đầu/ Mỗi cây một loại thuốc Thần/ Món ăn bài thuốc, thanh bần cao sang/ Yêu con mèo trèo cây cau/ Hoa cau thơm ngát tỏa lan cuối làng/ Yêu giàn trầu lá leo xanh/ Bốn mùa bà bỏm bẻm miếng trầu quả cau.

Yêu cánh đồng xanh, cánh đồng vàng/ Ruộng già mạ ngấu, lúa thì non tơ/ Yêu bát cơm thơm mùa gặt mới/ Bát canh cua đồng ngọt thấm ruột gan/ Con tép con tôm, con cá dưới đồng/ Cho già bát canh, trẻ manh áo mới.

Hũ tép đỏ au, ủ thơm mùi thính/ Gọi cha tôi bôn ba Trời Tây/ Trở về làng, đánh giặc giữ làng.

Làng tôi! Hai tiếng Làng tôi/ Làng tôi có tự bao giờ/ Làng tôi có ông bà, mẹ cha/ Tôi có làng từ trong cổ tích/ Tiếng sáo diều no gió/ Vu vút gọi người mộng Trời xanh/ Tiếng gà gọi nắng về thôn xóm/ Tiếng chim tu hú gọi đàn/ Họa mi thánh thót ca vàng ban mai.

Làng tôi trong câu ca dao/ Mẹ lặng ru tôi vào giấc ngủ/ Cái có cái cạc cái nông/ Làng tôi mịn màng trong cổ tích/ Ầu ơ… Cha Rồng lấy Mẹ Tiên.

Làng nuôi tôi, hạt gạo tám xoan/ Nâng tôi giấc mơ hồng Hoa Lúa/ Tôi mơ, tôi nhớ về làng/ Li ti huyết quản di truyền Tổ Tiên/ Cho dù ai đi Đông đi Tây/ Tôi thì một bước không rời làng tôi.

Và tôi tin, mãi vững tin/ Tất cả mọi người, con dân Việt/ Máu đỏ da vàng, gốc Rồng Tiên/ Cũng yêu làng như tôi đã yêu/ Mình cùng một bọc sinh ra/ Cùng chung cổ tích ngôi làng Việt Nam/ Lẽ nào mình không yêu nhau/ Mình yêu say đắm là mình/ Yêu quê hương Tổ quốc Mẹ hiền Âu Cơ”.


Hồ Gươm Ngày 1- 1- 2016.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 01.01.2016.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004