Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới






CỬA ĐÁ




PHẦN THỨ HAI



Chương hai

1.


Loạn cá, xác trắng xoá gốc sồi.


***


Màn đêm uể oải buông xuống. Bản trên, trại dưới buồn như có tang. Những ngôi sao leo lét cháy bên trời. Tiếng chim lợn kêu thảng thốt. Trẻ con khóc ời ợi. Người già thở dài sườn sượt. Cánh đàn ông đau đớn ôm háng, kẻ nằm, người ngồi ngổn ngang dưới gốc sồi. Đám đàn bà thao thức, vuốt bụng, trở mình trên giường. Có tiếng đàn ông rên lên vì rét. Bọn lính hối đám đàn bà quây chăn sui, chiếu cọ xung quanh để tránh gió.

Dì Gió tha từ khe núi Rốn về một làn sương trắng, khẽ khàng phủ lên trại Suối. Tất cả trở nên mờ mờ ảo ảo và lành lạnh như khí người chết bốc ra. Trong thung lũng, thỉnh thoảng lại vang lên tiếng gươm khua, tiếng ngựa hý của bọn kỵ mã tuần đêm.

Từ phía trại lính, đèn đuốc sáng rực. Mùi thịt nướng béo ngậy và mùi rượu cà còn tanh hơi máu quện vào nhau, lợm giọng. Những chuỗi cười sằng sặc như nôn vào đêm tối. Khuya, tiếng trống cầm canh lần đầu đột ngột vang lên, khiến đám dân chúng hoảng hốt vùng dậy, ngỡ giặc lại xông ra tàn sát.

Đêm tịch mịch.

Tiếng suối Mẹ vỗ về những đứa con tội nghiệp, vừa trải qua cơn hoạn nạn, ê chề:

Đất trời sóng đôi

Nối đời thương nhau

Lo toan lam làm

Đông đàn cái con.


Sồi già hát như tiếng thở dài:

Sồi ngàn đời

Nối thân nhau

Kiến bò chơi

Đại bàng đậu

Lửa không cháy

Nắng không héo

Sồi ngàn đời…


Nỗi đau bị hoạn trước mặt đám đàn bà như dịu lại, cánh đàn ông thiêm thiếp ngủ. Sự ê chề bị hiếp trước mặt cánh đàn ông như nguôi ngoai, đám đàn bà thiu thiu nằm. Nhưng mỗi khi tiếng trống cầm canh nổi lên, cả làng lại nháo nhào choàng dậy, nỗi đau lại tái tê lòng.


2.

Sau khi xâm chiếm đồi, núi, sông, ngòi, tên tướng đội mũ sắt nhọn được thiên triều cho mặc áo tay thụng, cai quản cả vùng.

Việc đầu tiên, hắn cho đắp thành, dựng luỹ ngay bên bờ suối Mẹ. Cây sồi cao ngất, bị thành cương toả. Do vậy, dân chúng gọi là thành Sồi. Nhưng văn tự lại viết là thành Đại Điền. Bởi vì thành có hình chữ "Điền". Bốn mặt thành trổ bốn cửa đại môn. Cửa khuyết to, voi đi lọt, hướng về phương bắc.

Việc thứ hai, hắn cải tên chữ cho suối Mẹ là Mẫu Tuyền, đồi Đụn được gọi là Thạch Nhũ, hang Rốn thì gọi là Thạch Đỗ, trại Suối bên thành được gọi là làng Mẫu Tuyền, nhưng dân chúng lại gọi nôm na là kẻ Sồi. Riêng Cửa Đá, có lúc, chúng đã định đổi thành Thạch Môn; nhưng rồi, không biết suy tính thế nào, lại thôi, vẫn để y nguyên như tên cũ vốn có vậy.

Việc thứ ba, hắn đặt họ cho dân chúng. Bản Hang có núi đá, nên dân bản mang họ Thạch. Phàm là con trai, từ khi lọt lòng được đặt là Thạch Văn gì đó; con gái từ khi ẵm ngửa, được đặt là Thạch Thị này nọ. Là bản của người họ Thạch, nên gọi là Thạch Gia Trang. Làng Tuyền cạnh suối. Suối thì phải có nước, nên người làng nhất loạt mang họ Thuỷ. Đàn ông từ lúc dái bằng quả ớt đã mang tên là Thuỷ Văn gì đó; đàn bà từ khi hĩm bằng lá tre đã mang tên Thuỷ Thị này nọ.

Việc thứ tư, hắn cắt đặt lệ phục dịch. Cánh đàn ông thì đào hào, đắp thành, mổ lợn, thui trâu, hầu rượu quan, quân. Đám đàn bà thì xay lúa, thổi cơm, khâu vá quần áo cho lính và thay phiên nhau ngủ với tụi lính ngay tại nhà mình.

Việc thứ năm, hắn cho bó chân trẻ con lai, không cho xoè ngón cái giao chỉ, nếu mà sự buộc không thuận theo được thì chặt bỏ.

Việc thứ sáu, hắn cho chở sản vật về cố quốc, nào là voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa đen chín hồng mao, ngựa trắng vó tám cựa, rùa ngũ sắc sáu con ngươi, phượng chín mắt, chim đậu ngược; nào là vàng thỏi, bạc nén; nào là gái đẹp, trai tài; nào là trống sấm, dàn tên; nào là…

Việc thứ bảy, (chỗ này không tìm được sách làm bằng chứng, nhưng nghe đâu những mấy chục việc, khi các quan uống rượu, tiện mồm còn bày đặt thêm nữa).


Những con cá chuối nhảy lên bờ, nằm lăn lóc cho kiến bu, rồi lại lăn tòm xuống suối, cho đàn rồng rồng đớp mồi. Dân trại không bao giờ dám ăn cá thần suối Mẹ Tiên. Nhưng bọn lính thi nhau nhặt, bỏ sọt, kĩu kịt khiêng về doanh trại.


Thành cao, hào sâu nhưng quân lính đâu có được kê gối cao mà ngủ. Dăm bữa nửa tháng, đại bàng lại sà xuống đầm, quắp một con cá sấu, thả vào thành, làm cho quân lính kinh hồn táng đởm. Đêm khuya thanh vắng, dì Gió vừa bay qua thành, vừa kêu ngoao ngoao, nghe rợn tóc gáy…

Trong thành cũng mở trường dạy chữ cho trẻ lai. Trẻ lai chỉ biết mẹ, không biết bố là ai. Bọn trẻ, đứa nào cũng để tóc trái đào, tay cầm bút lông, chấm nghiên mực, viết chữ lên giấy. Chữ "đại" thì như kiểu người người dang tay, dang chân chuẩn bị thiến. Chữ "điền" thì hình vuông như cái thành này. Chữ "khẩu" cũng gần giống chữ "điền", nhưng bỏ gạch hoa thị trong lòng. Hai chữ "khẩu" lồng vào nhau nghĩa là tù tội. Đứa nào xỉ mắng quan, quân là phải tù tội. Đứa nào chân đi khuyềnh khoàng, gọi là kiểu đi chữ "bát". Nghe vậy, liệu thần hồn mà sửa, kẻo bị chặt chân.



3.

Có một thằng bé lai bị đẻ rơi trên ruộng, được gọi ngay là Thuỷ Văn Điền, nhưng phạm huý thành Điền, nên đổi là Thuỷ Văn Thổ. Nghe chuyện vậy, Lừ bảo, thổ lại có nghĩa là đất, lớn lên vất vả mà không nên danh phận. Sau này, khi dựng cờ tụ nghĩa, Lừ chọn Thổ làm tướng tiên phong, luôn để mắt rèn cặp, nâng đỡ, nhưng rồi tên tuổi cũng bị người đời sao lãng.

Nhìn lá cờ khởi sự đề chữ "Tấn" phần phật bay trong gió, tướng quân Thuỷ Văn Thổ ngoảnh sang nói nhỏ với Lừ tiên sinh:

- Gió nồm nam đang được đà thổi tạt gió bấc.

Lừ tiên sinh cả cười:

- Vượng lắm thay, cuối đông, sắp sang xuân rồi!

Quân lính đeo kiếm, khoác cung đứng trong thung lũng Hai Đụn. Từng đống thang có quấn lá dong để che kín chỗ tiện ngang thân. Thổ nhảy lên tảng đá to như ông voi, hô lớn:

- Ta đánh trận này, quyết phá tan thành Sồi. Anh em, bắt được thằng giặc nào, xẻo dái thằng ấy, rửa nhục cho cha anh.

Quân lính reo hò rầm rầm, tiếng trống, mõ, tù và nổi lên, vang động cả rừng núi. Đại bàng bay lượn, cất tiếng kêu đầy vẻ hân hoan và kiêu hãnh.

Bấy lâu nay, tên tướng tay áo thụng đã nghe phong thanh bọn Lừ, Thổ âm mưu tạo phản, sắm sửa khí giới, chiêu quân, lập cứ trong thung lũng Thạch Nhũ. Mấy lần tập kích, nhưng hắn chưng hửng, về tay không. Bữa nay, quân do thám cấp báo, bọn Lừ, Thổ nổi dậy thật rồi, hắn liền đốc quân tiến đánh, tốc chiến tốc thắng, làm cỏ cả vùng cho sạch mầm phản loạn.

Bọn kỵ binh lao như tên bắn ra khỏi thành, nhằm hướng Thạch Nhũ, hòng bịt mọi nẻo đường mòn, lối tắt, không cho con kiến nào bò ra. Bọn bộ binh thần tốc hành quân, chia làm ba mũi giáp công: tả quân, hữu quân như hai gọng kìm bọc lấy hai quả đồi Thạch Nhũ, trung quân chọc thẳng vào thung lũng yên ngựa. Ba đập một, chẳng chột cũng què. Nhưng quan, quân vào tới thung lũng, chỉ còn thấy bãi cỏ giập nát, không lẽ bọn Lừ, Thổ thăng thiên hay độn thổ. Khi biết là trúng kế điệu hổ ly sơn, liền tức tốc hồi quân về thành, thì thấy trên mặt thành đã cắm rợp cờ có đề chữ "Tấn". Bọn chúng tức tối đánh vào. Sẵn có từng đống thang tre dựng quanh thành, chúng liền hò nhau trèo lên, nhưng đến lưng chừng, thang gãy đồng loạt. Bọn lính ngã như sung rụng. Đang lúc thần hồn nát thần tính, chưa hiểu cơ sự ra làm sao, thì bọn Thổ từ trong thành đánh ra, bọn Lừ đốc quân từ ngoài đánh vào, khiến cho quan quân chết như ngả rạ cả một lượt.

Bọn Thổ lệnh cho quân sỹ xẻo dái tù binh, mỗi tên một hòn, rồi cho vào chum làm mắm, mang về nước.



... CÒN TIẾP


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ TuyênQuang ngày 14.12.2015.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004