Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




GIAN NAN LÀM NGƯỜI






Chương 5.


TRỞ VỀ QUÊ NỘI


M ấy mẹ con chúng tôi dời nhà bác Hai đi tắt về ngả Cuối Đồng. Lúa chiêm đã có nơi trổ đòng, nơi chín. Con đường nhỏ đi giữa cánh đồng xa hun hút. Không biết đến lúc nào thì được nghỉ

Cuộc trường chinh ấy chỉ có một đoàn quân nhỏ bé, ấy là hai chú bé con đeo bị quần áo to hơn người lếch thếch bước. Đi sau là một người đàn bà, nón lá che mặt nặng một gánh con. Hai đầu đòn gánh đung đưa theo nhịp chân của mẹ là hai đứa em. Chúng nó ngồi im trong thúng, mỗi bên quang mẹ tôi còn uốn cong cái chiếu cắm xuống, tạo thành mái vòm che nắng mưa sương gió. Con đường đất giữa cánh đồng, bước chân trâu tại nên bậc thang, đi lệch nhịp là vấp ngã. Thỉnh thoảng lại có con nhái nhảy từ vụi cỏ ven đường xuống ruộng lúa. Bác nguwoiwif làng biết đường đi cùng mẹ con nhà chúng tôi. Cứ độ một quãng, bác lại nói :

-Cô Ba để chị gánh đỡ các cháu một lúc nào. Tưởng cô mấy chục nắm nay xa quê quên cả gồng gánh thế mà dẻo nhỉ. ?

-Cái số em nó khổ thế đấy ! Chồng chết. Loạn ly. Gia đình tan nát thế này. Thôi thì em đành đi “cúng phúc cùng trời” vậy.

Hai người đàn bà cứ rì rầm bên nhau, còn chúng tôi thì lúc chạy, lúc đi, mà đường cứ xa mãi, chẳng biết lúc nào thì đến nơi

Ngày đi, đêm nghỉ, tùy theo sức của bọn trẻ. Có một đêm không kịp tới làng, mấy mẹ con đành nghỉ lại giữa đồng. Đêm đen kịt, tiếng sudng nổ ở mạn đường 1 lúc thì rộ lên, lúc thì “tắc bọp” cầm canh. Nghe tiếng tắc bọp, bác dẫn đường bảo “ Đó là bọn Việt gian báo hiệu cho Tây đấy. Đêm tối lớ ngớ đi vào đó nguy lắm”. Ở đây cánh đồng khô, ruộng vừa gặt, những gốc rạ nhô cao hơn mặt đất, cuống rạ sắc cứa vào chân. Ở đây đã cách xa đường số 1, nhìn về chùa Đậu thấy ánh lửa đỏ hồng. Hai bà chép miệng nói “ Tây nó đốt chùa Đậu rồi”

Bóng tối đã làm cả cánh đồng mờ mịt. Chúng tôi nhìn những cây rơm thấy lô nhô, đen sì từa tựa những con quái vật đang ùa đến. Chẳng đứa nào dám đi thêm nữa, chân mỏi quá rồi. Hai đứa em trong quang gánh cũng kêu đói, chúng nó ngồi lâu quá tù cả bàn chân

-Có đi cố được không các con ?

Nghe mẹ hỏi, anh em chúng tôi đều nói “ Chúng con mỏi quá rồi. Mà tối quá, con sợ lắm”

-Tối thì nghỉ. Có gì mà sợ. Phải bạo dạn lên, các con nghe không.

Bà đỗ gánh cho hai đứa em chạy ra đi tè. Bà lấy nắm cơm cắt ra, gọi bốn người lại cùng chấm vừng mà ăn. Trong lúc chúng tôi chụm vào nhau thì bà đã nhanh nhẹn đến cây rơm to, rút rơm dưới chân tạo thành cái ổ, trải chiếu vào rồi hô các con “Chui vào đây mà ngủ, ấm lắm”. Trong cái hang thỏ ấy, thỏ mẹ, thoe con rúc rích cười, chành chọe nhau tranh giành nằm gần mẹ, rồi co cụm ngủ lúc nào không biết


Làng Quán Bóng trải dài theo bờ sông. Lũy tre làng ở phía sát bờ, thỉnh thoảng lại có đường thông xuống bến sông để người đi gánh nước. Đây là một làng công giáo, nhà thờ bé hơn nhà thờ Hà Hồi , cũng có tháp chuông cao vút chiều chiều tiếng chuông kéo đổ hồi

Những người tản cư được cụ Phó Vân cho vào ở nhờ, cụ là người trùm họ đạo trong làng nên được mọi gia đình tôn trọng. Đó là một ông cụ dáng thấp, đậm có sức khỏe giương nỏ, lắp tên bắn trúng đích là quả bưởi treo ở cuối sân Là người sùng đạo, mỗi lần nghe tiền chuông nhà thờ cụ thường làm dấu thánh giá. Đêm đêm cả gia đình ngồi đọc kinh trước bàn thờ Chúa

Đối với người tản cư, cụ tỏ ra thông cảm : - Do bom đạn nên các ông, các bà mới đến nhà tôi. “Ăn hết nhiều chứ ở hêt mấy” làng tôi rất quý người, xin các vị yên lòng.

Mấy gia đình tản cư được cụ nhường cho ở nhà ngang, hành lý để lẫn với nhau. Bọn trẻ chúng tôi nhanh chóng chơi với trẻ làng, cùng nhau chơi giai ranh, đánh đáo, chơi ô ăn quan.

Ở Quán Bóng được gần tháng thì lại có người tản cư mới đến. Đó là các ông bà trên Bưởi , không biết bằng con đường nào đã tập hợp về đây. Người làng có vẻ thân thiện với nhóm mới lắm. Thì ra đa số dân làng thường lên Bưởi làm thuê seo giấy, can giấy giúp bà con trên làng.

Đến Quán Bóng một thời gian, những cô bác người Yên Thái đã chung vốn đóng tàu seo và tổ chức sản xuất giấy. Làng Quán Bóng bỗng trở nên nhộn nhịp, thuyền về lấy hàng ngược xuôi dập dìu đậu ở bến sông.

Với bản tính khéo léo cần cù, nhưng gia đình tản cư đã sản xuất được giấy in báo. Gia đình ông Đinh đã làm con dấu Phi Yến (con nhạn bay) để xác định thương hiệu, quảng cáo trên các trang báo Cứu Quốc hổi 1948-1949. Ở Quán Bóng aanh em tôi cũng đã lớn hơn một chút. Người dân Quán Bóng vui vẻ làm giấy, kiếm tiền, hòa hợp với người tản cư., cho đến một hôm máy bay Pháp đến bắn phá bến đò và chợ làng. Đây là trện bắn phá đầu tiên vào làng Công giáo. Hai chiếc khu trục tới ném bom, bắn đại liên xối xả xuống bến sông, chợ làng Làng công giáo thanh bình bỗng nhiên tan tác đau thương vì người chết, nhà cháy, thuyền đắm.

Cụ trùm đạo sau khi đi thăm các gia đình bị nạn về nhà ngồi có vẻ mệt nhọc, buồn rầu. Các gia đình tản cư đến hỏi thăm tình hình; cụ nói

-Quân Ju đăng nó ác quá, người dân làm ăn hiền lành, kính Chúa, sống an bình thế mà nó bắn giết . Đầu một nơi, thân một nơi nghĩ mà thương lắm.

Ngày hôm sau cả làng hỳ hục đào hầm tránh bom đạn. Việc sản xuất giấy kém hẳn, nhiều gia đình tản cư đến đây nay sợ bom đạn lại ra đi. Người ta bảo nhau : “Đến làng Công giáo mà bọn Pháp còn ném bom giết hại thì nó tha gì minh”

Có người nói với mẹ tôi “ Từ ngày cụ lang về Bưởi hay đau ốm lắm, mà con cháu thì lại tản cư đi xa đâm ra một thân vất vả. Bà Ba nên về Bưởi để chăm sóc cụ” Vì nghĩa vụ con dâu, mẹ tôi đã đồng ý theo các ông bà về Bưởi, thờ phụng cha chồng thay người đã khuất.

Làng Yên Thái sau ngày kháng chiến vẫn còn giữ nguyên cảnh tàn phá. Những người thợ và gia đình làm giấy đều đã dời làng, tản cư lên Thanh Cù, Phú Thọ

Con đường làng mọi khi tấp nập người gánh nước, phơi giấy nay chẳng có bóng ai. Những ngôi nhà ven đường đều do người chủ tự tay đốt trước khi rút đi. Một vài nhà còn khẩu hiệu “thực hiên vườn không nhà trống”, vách tường còn đục lỗ thủng để người đi qua, thông nhà nọ sang nhà kia.

Ông nội tôi ở một mình trong căn buồng của Nhà thờ. Bà nội đã không còn nữa. Chúng tôi đi tản cư , mới xa ông hai năm mà nay gập lại thấy có phần ngỡ ngàng. Có lẽ do đau thương, do mất hết tài sản trong chiến tranh , lại cô đơn mấy năm nay nên tính cụ bỗng nhiên khác xưa. Thấy mọi người gồng gánh bước vào, cụ hỏi :

-Sao lại kéo nhau về thế này ?

-Thưa thầy, con đang ở Quán Bóng, nghe tin ông mệt nên vooiuj cho các cháu về bên ông, để ngày đêm có trẻ, có già để ông đỡ buồn. Ông cho phép chúng con ở nhà ngang để tiện công việc sớm hôm ạ.

-Làng này nhiều người đã bỏ đi. Muốn ở nhà nào tùy chị. Thôi , cho ở dưới nhà ngang cũng đươc.

Về được ít lâu mẹ tôi lần mò tìm chỗ cho anh em tôi đi học. Không nhớ là hôm nào, chỉ biết có một buổi sớm bà dắt hai anh em tôi lên trường Yên Thái xin nhập học. Ngôi truờng ở bên kia chợ Bưởi, vốn là một dãy nhà gạch cũ, Trong các lớp, học sinh lố nhố cao thấp ngồi lẫn nhau. Nhiều cập mắt ngó nhìn hai thằng lạ mặt . Thầy giáo đón chúng tôi đưa vào lớp giới thiệu với học sinh:

-Các con chú ý, Đay là các bạn học sinh mới về, các con phải chú ý giúp đỡ bạn, đừng bắt nạt nhau

Trường tiểu học Yên Thái hồi ấy tập trung học sinh ở các nơi về học. Cùng là cảnh thất học sau chiến tranh nên tuổi tác khác nhau. Học sinh chỉ được phép chơi trong sân trường, ngoài hàng rào là bờ đê cỏ lau, cỏ tranh cao vút, chạy trong đó có những con cào cào áo xanh, áo đỏ trông rất hấp dẫn, nhưng lại như lạc lõng những cây bàng bên đường nhang nhác dẫy bàng ở ga Thường Tín mà sao chúng tôi lại thấy lạ lẫm

Các lớp học ở Trường Yên Thái đàn dần đông học sinh. Nhà trường tổ chức ca hát vui vẻ. Cũng có lúc nghe lại âm điệu bài “Chiều ơi” mà chợt nhớ, đã có lần ở Quán Bóng chúng tôi nghêu ngao hát “ Chiều ơi, Nắng chiều về rọi sáng trên nương, trâu bò về giục mõ xa xôi ới ơ chiều” Còn ở đây các bạn lại hát chệch là “Thầy ơi ! Xế chiều rồi mà trống chưa vang. Cho con về ăn bát cơm rang với cà”

Cũng có hôm cả lớp tập hợp ngoài sân, ánh nắng chiếu lấp ló sau tàn lá, thầy giáo dạy bài hát “Nắng trong bóng cây, Tươi sáng ngời, Cầm tay nhau ta hát, tung tăng yêu đời”

Được đi học, sinh hoạt tập thể như vậy, chúng tôi đều có sự tăng tiếng về sức học. Nhiều bài học thuộc lòng tôi đều thuộc. Có một lần, thầy giaó gọi người bạn ngồi bên tôi đọc bài. Anh ta không thuộc. Thầy gọi tiếp đến tên tôi, tôi đã đọc trơn tru bài thơ “Ải Nam Quan” . Lần ấy, thầy không cho điểm , mà lại cho tôi đánh vào tay bạn, vì tội không thuộc bài

Sau giờ học, người bạn lặng lẽ giơ bàn tay ghẻ mủ, vệt thước đập ngang làm tứa máu cho tôi xem. Tự nhiên hai đứa ôm lấy nhau vì lỗi lầm mà cả hai đứa đều đã mắc phải. Về nhà, anh tôi kể lại câu chuyện . Mẹ tôi đã mắng tôi, bà bảo “Con phải thương bạn, dù lệnh thầy cho đánh bạn cũng phải từ chối, mà xin với thầy để bạn trả bài lần sau. Nghe rõ chưa” Đó là một kỷ niệm mà đến nay mỗi lần gập bạn bè cùng lớp ngày xưa, dù tóc đã có sợi bạc, lòng tôi lại buồn

Ở làng Yen Thái cảnh hoang vắng vẫn còn. Ngôi nhà cũ của gia đình –nơi ngày còn sống bố tôi đã vẽ kiểu thuê thợ làm.- nay cũng cháy tan hoang, chỉ còn bốn bên tường cao lênh khênh. Sàn gỗ tầng hai đã cháy hết, để lại bấy thanh rầm lim cháy dở, vết than đen trên lưng như vẩy của con rắn đen nằm vắt vẻo lưng trời.

Tháng tư năm áy, những người trở về tập trung cúng kỳ an ở Cổng Giếng. Đây là một tục lệ hàng năm của làng. Người ta tin rằng vào đầu mùa Hè mà làm lễ cúng cầu an (Kỳ An) thì sẽ được phúc thần phù hộ, xua đuổi tà ma, giúp cho dân sống yên lành.

Về quê nội, kiếm đồng tiền bát gạo đã khó, chợ Bưởi vắng chưa có người di chợ, âm dương lẫn lộn. Đêm đêm Tây và lính Bảo an đi tuần rầm rập. Các cô bác trong họ đã về, dọn dẹp ở trong xóm mà ở. Ông nội tôi có thể yên tâm nghỉ ngơi nên bảo : “ Bây giờ các bác, các cô cũng đã về rồi.Mẹ con chúng mày nên về quê ngoại mà làm ruộng, hoặc bán hàng vặt thì dễ sống. chứ ở đây trong thừi buổi này chẳng ai cưu mang được đâu”

Được ông nội cho phép cũng là một dịp may. Mấy tháng sống trong tề, chỉ thấy thật hỉa, âm dương lẫn lộn. Tiếng là về quê nội, nhưng bây giờ đã khác ngày bố tôi còn sống. Mỗi khi về lễ Tổ, có chồng có vợ, con cái no đủ khác ngày nay một góa phụ mang theo đàn con nheo nhóc ,không ai dám cưu mang, chào hỏi. Mẹ tôi cũng đã tính chuyện bỏ đi lại e không có người chăm sóc ông nội thì mang tiếng bất hiếu. Nay bác Cả và các cô đã về, sự chăm lo cho ông thế là đầy đủ nên mẹ con chúng tôi lại dời quê ra đi

Bằng tờ giấy phép “Lát xê Pát xê” (Giấy thông hành quân sự) do quân đội Pháp cấp, mấy mẹ con đã đi theo đường Quỳnh Lôi- Mai Động- tắt qua Văn Điển Trên đường thỉnh thoảng lại gập xác người, đó là những người dân bị lính Pháp bắn chết lúc đi tuần tra ban đêm. Máu khô lẫn trong cát, những con ruồi đậu kín vết máu và mồm, mắt họ.

Đi qua làng Bằng, sang Hà Hồi là về tới quê nhà. Bác Hai ân cần đón chúng tôi

-Cô bạo gan quá, nó vẫn đi tuần qua đây. Làng Chương Dương cũng mới bị đốt trụi. Phải cẩn thận

-Vâng, Em về đây vài ngày thôi. Phải ra vùng tự do mới sống được, anh ạ


... CÒN TIẾP ...


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 07.12.2015.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004