Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

tiểu thuyết


ĐẤT BỎNG



        CHƯƠNG 10.



 Cheo nghĩ vợ mình gặp chuyện gì khủng khiếp, kinh hãi quá, hết hồn hết vía, qua mấy ngày sẽ khỏi. Ai ngờ hơn một tuần, cô luôn hoảng hốt sợ sệt. Cô sợ tiếng động, ánh sáng rồi đến mọi người, trừ chồng con mình. Thằng Thao ôm lấy mẹ, thỏ thà thỏ thẻ. Nhằng nhè nhẹ xoa đầu, âu yếm con nhưng hễ có người vào, tất cả đổi khác. Cô co dúm người, nép vào góc nhà, miệng lắp bắp, tay bắt chuồn chuồn, toàn thân run rảy. Cheo chạy thày chạy thuốc khắp ngả. Có ông là đạo sĩ trừ quỷ. Sai người múc ba bát nước lã vào nhà, ông cầm đôi đũa con huơ huơ trước mặt, lầu bầu gọi ma vương quỷ thần ở đâu đâu rồi gõ đều đều chiếc đũa vào từng chiếc bát. Nước rung rinh chao đảo. Ba cái bát xê dịch, xích lại gần nhau. Tôm cá từ trong bát nhảy ra nền nhà, giẫy giụa lách chách. Có bà giỏi bắt ma, xiên cái que sắt láng bóng qua mồm, xoay xoay trông đến khiếp. Có ông chạy trên than hồng như người chạy chơi, mồm thổi ra lửa bùng bùng. Tất cả đều khoe mình giỏi, trừ yêu ma tà nghịch trong vùng không ai bằng. Có điều, thày đi rồi, bệnh đâu vẫn đóng đấy. Cheo không từ nơi nào, tìm ngà voi sừng tê, mài cho uống vẫn không thấy kết quả.

Nhằng sợ bóng sợ gió, la hét ầm ào. Cheo định về quê đưa mẹ ra nhưng nhà thì vậy, sợ chồng chất nợ, sợ mẹ khổ thêm, sợ về nhà không bằng chúng bạn nên còn chần chừ.

Chuyện xảy ra đêm ấy chỉ vài người biết. Nghe Đá kể, người ấy tức lắm. Anh vừa bị cướp vợ ở quê, thân tàn ma dại lê lết đến mỏ, đổi bát mồ hôi lấy bát cơm nhạt còn bị đày đoạ. Mấy cái tát của Toàn cấu vào mặt anh hôm anh lừng chừng không xúc than theo lệnh nó đã hết rát từ lâu nhưng nỗi nhục còn nổi cộm. Nghe chuyện, anh bỏ làm lên núi Trọc. Đêm ấy, anh rình phục khi biết Nhằng ở lại. Nghe chúng hú hí với nhau, anh biết cả hai đều có tình ý nên quyết định giết cả. Không ngờ nghe tiếng động, Toàn cấu ngẩng lên. Cây xà beng xuyên suốt từ lưng ra ngực. Hắn ố ố kêu đến quỷ khiếp thần kinh. May mắn cho Nhằng, nếu không nhát ấy xuyên táo. Đối với Cheo, Nhằng sống trở thành cái hoạ. Có lẽ vì lí do đó, bạn đọc không cần biết tên người thợ hào hiệp, nghĩa khí ấy.


Thằng Vòi đã sang ở nhà mới. Mái cỏ tường đất đắp. Cột gỗ kèo tre. Nó khoái quá, chạy ngang dọc xóm mới. Mấy đứa nhỏ hơn, áo cộc, cúc có cúc không, nút cài nút mở, đứng tựa cửa, tồng ngồng nhìn. Ông Bỉnh dọn dẹp đồ đạc. Cũng chẳng nhiều nhặn gì. Một cái hòm gỗ cũ xin được. Một cái thúng đựng hai bộ quần áo, vài miếng vải cũ cắt ra từ những manh áo cũ. Con dao phay, cái xà beng…Thế cũng thành một gia đình. Ông Bỉnh mong rồi ra, lấy vợ cho đầm ấm nhà cửa. Thằng Vòi rồi cũng phải có mẹ. Mẹ kế sẽ dạy nó đường ăn lẽ ở chứ cứ như ông, câu trước câu sau muốn đánh đòn rồi. Đấm đạp nó cũng chỉ đỡ tức đỡ bực chốc lát nhưng nhìn con ngủ, nước mắt đọng ứ, mắt bố cũng dàn dụa nước. Mới mười tuổi đầu hãy còn dại. Mồ côi mồ cút từ tấm bé, sống cảnh gà trống nuôi con, nó thiệt thòi nhiều. Bố thì đầu tro mặt muội, làm nổ đom đóm mắt, lo được thế đã vã mồ hôi. Năm tới cũng phải đến nói với Công xem có việc gì nhẹ nhàng cho nó làm.

Cậu Nam già hẳn. Người cao to nhưng đi lại có phần chậm chạp và ăn nói đã rời rạc. Hàm răng lộn xộn, nhấp nhô trong mồm dần dà theo nhau từ biệt hàm. Nước bọt vẫn trắng ra ở khoé môi và bắn ra mỗi khi nói to. Cậu ăn uống từ tốn hơn. Mỗi sáng, con Nhài ra đầu phố mua cho cậu bát phở. Húp hết nước, Cậu lại gọi nó mang phở sang xin thêm nước dùng. Chỗ quen biết, chủ quán muốn giữ khách, đổ nhiều nước cho cậu. Đến nửa buổi nếu đẹp trời, cậu lững thững dạo phố, ghé vào nhà nào đấy, góp vài câu. Có người cậu nhớ, có người cậu quên. Người cậu làm ơn, họ nhắc lại. Người cậu làm phật ý, phật lòng, thậm chí dồn ép cho cay đắng nữa nhưng giờ già cả rồi. Chuyện xưa ấy mà, xa xôi lắm, nói kể làm gì. Cậu lang thang khắp phố đến gần trưa. Về. Cơm xong, cậu làm giấc ngủ. Trời xập xệ chiều, cậu dậy, quanh quẩn, chỉ bảo nếu thấy ngứa mắt. Ai nghe thì nghe, không cũng thôi. Tối. Ăn xong, cậu mang ghế ra cửa, đánh hơi thuốc lào chính vùng Tiên Lãng rồi mới phi pheo điếu thuốc lá. Con cái đã chồng chồng vợ vợ, con bìu con díu. Cậu làm cả đời, lao tâm khổ tứ, vất vả trăm bề mới có cơ ngơi thế này. Gìơ đến lúc thảnh thơi. Sắp tới, mợ cũng thôi. Việc lớn nhỏ tầng bãi giao cho Công, mợ về, trông coi lán phu, trông coi việc ăn uống cho chúng giúp mấy cô con dâu hay trông cháu. Chẳng phải lo lắng nghĩ ngợi gì thêm nữa.


Cải cũng đã lấy Bí. Mạ già ruộng ngấu. Mới có vài tháng, bụng Bí đã lùm lùm. Cải vất vả hơn. Ngoài ba mươi, hàm răng đã bắt đầu lung lay, bắt đầu hoá màu đen xỉn. Nước da trắng, khuôn mặt tròn giờ đen xạm, má hõm lóp. Bà mẹ còn khoẻ. Mái tóc trắng muốt, hàm răng đen đều. Bà cuốc đất trồng gieo cho có việc. Đất xấu. Công sức dồn vào nhiều nhưng thu nhận ít. Bà mong sớm có cháu. Cháu đây là con thằng Cải. Bốn anh em chúng nó: Của, Cải, Thừa, Thãi mà ngẫm ra cả đời thiếu thốn. Anh Của lít nhít con. Cái Thừa ba bốn đứa. Con Thãi theo bà ra ở với anh, lấy Bào cũng vừa sinh cháu gái rồi. Vợ chồng Cải làm nhà mới, ở riêng gần ngay đây thôi. Bà chăm coi cháu ngoại đến hết cữ, đủ rồi. Có chồng phải lo lấy, không ai giúp mãi được. Bà còn về dọn dẹp, nuôi con gà, chờ dâu đẻ. Nhà không có tay người quán xuyến, bấn rác phủ lên ngay. Bà vừa làm vừa lẩm bẩm kể lể với chính mình. Bà chỉ mong có dịp, anh em con cháu tụ tập đầy đủ, ríu rít với nhau một vài ngày. Dâu rể đã bốn rồi. Cháu nội cháu ngoại bà còn chưa nhớ hết tên.

Bãi đã theo chồng về làm dâu Cẩm Bình. Từ đây, mọi người gọi chị Hoán. Chồng chị đứng thứ tư trong bảy anh chị em. Bãi để tâm lắm chưa nhớ hết anh em họ hàng nhà chồng. Hoán thương vợ, nói chỉ cần biết một vài cụ ông mợ thím chú bác chính thôi. Nhớ hết phải qua vài cái tết, ăn mòn bát đũa nhà này đã. Vợ chồng Ao làm ăn bình thường. Cái tính liều lĩnh, thích mạo hiểm “ào đi, sợ đếch gì” đã dịu bớt do công việc nặng nhọc, tuổi đã vào độ chín. Vợ chồng Đá gần nhà Ao. Từ ngày Toàn cấu chết, Sỏi, Đồng cũng ít xuống. Đá làm xong là về, vui với con. Sau chuyện Toàn cấu, Đá lặng lẽ hẳn, tính hấp tấp vội vàng cũng giảm bớt.

Bưởi chưa lấy ai. Anh đã bước sang tuổi ba lăm. Một mình một nhà, đi khoá về mở. Sức lực đã rơi rụng. Anh thường đau quặn mỗi khi trở trời. Người ta gán ghép cô này cô nọ nhưng anh làm thinh. Lấy nhau mà làm khổ nhau thì lấy làm gì. Gìa cả rồi. Suýt soát bốn mươi thành ông cụ mới bế con cũng thấy nực cười. Vui thú cùng anh em thuyền thợ là hơn.

- Phải lấy vợ đi anh ạ - Mẹ Cải thường khuyên mỗi khi Bưởi vào chơi thăm em.

- Ai người ta lấy cháu hả bà? Tiền không, của không, sức lực cũng không có nốt.

- Ối người ra. Có lấy bác làm mối cho.

- Thôi bác ạ! Cháu sống thế này quen rồi. Sau này yếu quá nhờ anh em, nhờ bác.

- Anh nghĩ thế nào thì nghĩ. Lúc anh già yếu, bác đã chết từ lâu rồi. Anh em kiến giả nhất phận. Một ngày vàng bạc, dăm ngày thành rác cầu ao. Chẳng nhờ được đâu. Để ý chung quanh xem, có ai nhờ được anh chị em khi tuổi già sức yếu?

- Nhờ được chứ ạ!

- Tạm thời dăm ba bữa thì được. Lâu nữa lấy đâu ra. Như nhà cô…- Mẹ Cải lại dẫn dụ những gương ở làng, ở mỏ.


Cheo khổ quá. Vợ yếu con dại. Nhằng thất thần thất đảm, nhớ nhớ quên quên, không làm được việc gì. Thằng Thao thì nhỏ. Cả ngày trần truồng lấm láp, đi chơi đói thì về. Mẹ nhớ mẹ lấy cơm cho. Mẹ không nhớ tự kiếm lấy. Có khi ăn cơm với kiến. Kiến đốt, khóc chán thì nín, thì ngủ. Cheo ở tầng suốt ngày. Người ta đã mang niêu, mang vấu lên tranh thủ nấu ăn trên tầng. Cheo vẫn theo nếp cũ. Dậy sớm nấu cho cả nhà. Úp cơm phần vợ con rồi ăn nhồi, ăn tống cho no, leo tấng. Tối về, đâm sấp dập ngửa vào bếp nấu. Những hôm con quấy, nhà như sôi lên. Phân gio đất cát bừa bãi. Nhà lá, mái đã mục. Nước mưa chảy như qua sàng. Thiếu thốn nhiều khi anh đã vay của bạn thợ, xin chiếc áo rách quá về sửa cho vợ mặc. Con người ta sinh ra ai cũng phải chịu khổ. Ba cái khổ lớn nhất, anh chịu cả, cùng một lúc. “ Thứ nhất vợ dại trong nhà - thứ nhì nhà dột thứ ba nợ đòi”. Nhìn hoàn cảnh Cheo, ai cũng ái ngại. Một cuộc sống bế tắc, không có lối thoát.

Động đi không thấy tin tức. Dịp tết về nhà, ra giêng đăng lính sang tây. Chả biết Động có ra không. Dân mỏ quen nhau lâu lâu không thấy mặt, có ai dắng đến thì nhớ, không cũng thôi. Nghe nói chiến tranh chấm dứt rồi. Ai chết cũng đã chết. Ai về cũng đã về. Không thấy Động. Họ nghĩ anh đã chết.



- Trên đời chả ai sướng đâu, khổ đau đầy mình đầy mẩy. Than cứ ùn ùn ra. Người cứ ùn ùn vào. Nếu xét kỹ, anh khổ đấy, tôi cũng khổ đấy nhưng chắc không phải người khổ nhất. Chúng ta còn khá hơn Cheo. Cheo đã khổ nhưng sao khổ bằng Bỉnh. Xa nhà, chôn vợ chôn con trong vòng một tuần. Lê ra đến mỏ không một xu dính túi. Bỉnh khổ nhưng so với Đậy thì sao, cuốc bộ vật vã đến chết đau chết đớn. Nhưng Đậy còn khá hơn thằng Cát chết đường chết chợ, không anh em thân thích.

- Mà thằng Cát còn may. Khối đứa tan xác, hồn vía không còn nơi bấu víu ấy chứ.

- Bác nói đúng. Như bác lại hay.

- Hay cái con khỉ. Cuốc bộ như đánh vật.“Thứ nhất cuốc bộ đường xa - thứ nhì gánh vã thứ ba sơn tràng”. Gồng căng từ chân tơ kẽ tóc. Đau nhức tới tận đùi. Cơ thể chỗ nào cũng đòi nghỉ, nếu nghỉ không đứng lên nổi nữa. Năm ông con bác cháu đi, lẽo đẽo hàng tháng trời. Chạy lũ chạy cướp. Ông Đục không cố, không kiên quyết có chết cả lũ. Bây giờ vợ con nhưng còn vất vả, đã đâu vào đâu. Thằng Cát bác nói tôi mới nhớ. Nó chết cũng ngót chục năm rồi. Vừa ra buổi tối, nó còn cười cười. “- Không vất vả lắm đâu, Cháu làm có tiền rồi, đưa mẹ và em cháu ra!”. Nó khoái lắm. Đêm ngủ chung lán. Sáng ra, mọi người tíu tít chuẩn bị leo tầng, chẳng ai chú ý. Tối về, mới biết nó chết từ đêm trước, người tím lịm như miếng bánh tà lòng ệp. Cậu Nam đến, nói bị rắn cắn. Xác nó giờ chắc chẳng còn. Chả ai biết nó quê đâu, theo ai ra.

Đá không nói thêm. Mấy người còn lại lặng lẽ hút thuốc.

Gío vượt núi Bay Màn thổi qua mát lạnh. Những cơn gió đơn độc mồ côi. Nhìn trời ngắm đất, vợ cai Toàn chuẩn bị đi lễ chùa. Từ ngày Toàn chết, bà theo mấy người đi xa đi gần, cầu cho chồng mát mẻ, cho con cho gia đình gặp nhiều may mắn tai qua nạn khỏi. Say sưa mê mẩn đến quên cả việc nhà. Thằng Đỗ, cái Đậu, thằng Cà. Con cái nhà bà đều lao xao nhớn nhao cả. Sở mỏ khai thác ngày càng quy mô. Moong oong đã hình thành. Tầng bè được tu bổ. Thằng Đỗ cũng làm công nhưng nó khoẻ, lanh lợi lại con nhà giàu. Cái Đậu lấy chồng bên Cửa Ông nghe cũng khá. Thằng Cà đã lớn, ra dáng thanh niên, lấy vợ được rồi nhưng không như bố, nó nhát. Quán bà Khảo khách đến đông. Hàng hoá nhiều hơn. Bà đã già, tóc phau phau. Con Xuơ mười sáu, ngồi bán hàng, có dáng rồi. Nhớ hồi Toàn cấu, nó sợ lắm. Chỉ hãi chửa. Làng nó có người chửa hoang, bụng to báng ra. Ba bốn người giữ đè, họ cạo đầu, phết vôi, mang ra sông, thả trên bè chuối. Nó đã thấy tận mắt. Đêm ấy, lúc Toàn cấu sờ nắn nó, nó khiếp lắm. Người cứ run lên vì sợ. Bên nó, bà Khảo ư ử rên. Nó thấy Toàn cấu nằm sấp, thúc trườn lên người bà Khảo. Hôm sau, nó để ý xem bà Khảo có chửa không. Bà vẫn bình thường còn quát nạt nó. Toàn cấu làm thế bà còn không sợ thì nó sợ gì. Nếu bà Khảo chửa, lúc ấy nó mới kể. Nhưng bà vẫn vậy. Mỗi khi nhớ lại, nó thấy thinh thích khoai khoái. Bà vẫn thản nhiên như không có chuyện gì. Còn nó. Nó chỉ thấy ngực ngày một dày lên, cao lên.

Toàn cấu chết, ông Phơ bang phố có sang hỏi bà vợ. Vợ hắn nào biết gì, chỉ khóc lóc. Ông vạch nước cho. Cậu ấy đào than không may bị xà beng xọc vào, tai nạn chết. Vợ hắn gật gật đấu. Nhìn mấy đứa con Toàn cấu dúm vào một nơi, ông Phơ cao giọng, đại diện cho nhà chức trách: - Ai hỏi cứ nói thế. Tôi ghi vào sổ sách.

Làm gì có sổ sách mà ghi. Ông nói thế lấy oai chứ chữ ông cũng không biết. Toàn cấu chết đột ngột. Đám ma của hắn cũng xôm, có phèng la, trống thúc, hương khói. Nhiều phu bị quỵt lương vì chưa đến phát bạc. Hắn chết, Ai biết ai nợ nần bao nhiêu mà trả. Bà Khảo nghe tin Toàn cấu chết cũng thấy tiếc, sang hỏi thăm. Con Xuơ vô tình, coi như không. Nghe bà Khảo kể Toàn bị tai nạn, nó như người vô cảm. Nó bé dại. Toàn cấu còn, không biết chuyên giữa hắn với bà, với nó ra sao. Bây giờ bà đã yếu, tóc phơ phơ nhưng da còn đỏ. Xuơ đã lớn, bán hàng có duyên hơn bà. Quán đông từ sáng tới tối, chỉ vắng tầm trưa. Những người cần mua đã đành. Những kẻ vô công rồi nghề cũng đến tào lao, tếu táo, sàm sỡ với nhau. Nó chả chớt đưa đẩy những lời ra vào với bọn mê gái mà chưa biết nói năng. Hàng bán được đắt, được nhiều lại giữ thân thiện với mọi người. Có kẻ đến tìm cách tán tỉnh nó. Nó biết thừa nhưng lặng thinh. Nói lại chúng làm gì cho mệt. Có nói chỉ đệm lời, thêm thắt dấm ớt vào chuyện của chúng đưa chúng lên mây xanh bằng khói rơm rạ. Bà Khảo ngày ngày mua hàng từ chợ về cho Xuơ bán. Đôi lúc bà cũng răn dạy nó. Kẻ cướp vẫn muốn con cái thành người lương thiện, có cơ hội là rèn đạo đức luân lý cho chúng, Bà Khảo cũng con gái phải thế này thế khác, phải chính chuyên đứng đắn, bỏ ngoài tai những lời đường mật của bọn vô lương. Chúng chỉ muốn ve vãn, ăn tươi nuốt sống đàn bà con gái nhẹ dạ cả tin rồi chạy làng. Xuơ nghe nhiều lần. Lần nào nghe bà, Xuơ cũng thấy hiện hình Toàn cấu. Người mập mạp, huỵch hoặc trên người bà. Nó quay mặt, bĩu môi. Bà không biết vẫn bảo ban, răn dạy nó.

... CÒN TIẾP ...



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 05.12.2015.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004