Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




Bụi Trần Vương Vấn




N gười đi lễ đền Phủ thường kể chuyện: cửa Phủ mới có một thầy viết sớ giỏi lắm. Chữ Nho thầy đọc rõ ràng, giảng giải mạch lạc đã đành mà viết sớ, viết trạng bằng chữ Hán, chữ Nôm cũng thông thạo. Câu chuyện được lan truyền, tạo thêm sự hiếu kỳ, háo hức của con công đệ tử. Ai cũng muốn được đi lễ Phủ một lần. Không những vì đây là nơi linh ứng, là nơi có dấu tích của Ngài, mà còn vì lẽ người ta tin rằng lá sớ được viết bằng Hán tự thì khi tấu lên, khi hóa đi sẽ thấu đến các vị Thánh, bởi vì ngày xưa các vị có được học chữ quốc ngữ đâu mà đọc được những chữ viết hiện đại!

Người ngồi bên bàn, đeo kính trắng, sơ mi là có nếp, đeo ca vát kia là “thầy” đó ư? Bà Tâm không thể tin vào mắt mình, ông thầy viết sớ theo quan niệm của bà phải là những ông mặc áo the, xỏ quần ống sớ đẫm khét mùi hương khói, mắt toét nhòen cứ ghé sát vào trang giấy đọc chẳng nên, thế mà người này lại có vẻ một người tân học, một người lịch sự duyên dáng, mới trông đã có cảm tình._ Thưa thầy, thầy viết cho em một lá sớ kỳ yên ạ. Ông thầy ngước mắt lên, khuôn mặt thanh thoát trở nên lúng túng trước khách. “Ngươi đâu đến ở chốn này”, bà tự nhủ khi nhìn tay thầy viết sớ, nét bút lông đá thảo trên giấy.

Mọi người đã vào lễ trong cung, thầy vẫn ngồi đó, lơ đãng ngắm nhìn. Những vị Thánh ngự nghiêm trang trên tòa đang hiền từ đón nhận lời cầu xin của các tín chủ. Thầy nghĩ về thân phận mình. Lạ thật, một người như mình mà trở thành ông thầy viết sớ nơi cửa Phủ, thời đại kim tiền có khác. Đã lâu nay trong gia đình thường vẫn không yên ả, bởi vì đồng lương giáo viên Hán ngữ của thầy đã không thể so với một phần lương bác sĩ chuyên khoa khám ngoài giờ của vợ. Người ta đổ xô đi học tiếng Anh, tiếng Pháp, mấy ai học chữ Nho. Càng túng, càng phụ thuộc vào nhau, cái quyền làm chồng của ông đã bị thu hẹp, báo hiệu những điều chẳng lành. Nhờ một người quen giới thiệu, thầy nhận viết sớ chữ Nho hộ cụ Từ, cứ tưởng đó là một việc làm bất đắc chí, thế mà mỗi ngày, mỗi tháng lại thêm tiếng tăm. Sẵn vốn ngoại ngữ, thầy tìm đọc các sách nguyên bản, tự mình triết giải, chẳng bao lâu đã thông thạo, viết nói theo Ngọc hạp, giảng số tử vi khiến các bà thán phục. Những đồng tiền thu nhập nơi cửa Thánh đã nhanh chóng thay đổi vị thế trong gia đình, vợ thầy phát hiện thấy chồng mình không còn quê kệch như xưa nữa. Chị bác sỹ không tin vào tướng số, việc anh giáo đi viết sớ, chị không phải lo đến kinh tế, đỡ cãi vã hàng ngày, đỡ phải nhìn thấy anh quẩn quanh trong nhà, thêm vướng mỗi khi có bè bạn đến bàn chuyện làm ăn.

Chuyện tâm tình đã dần nhãng quên. Trong căn nhà nhỏ, vắng tiếng cãi nhau những cũng đầy vẻ lạnh lẽo vì sự hờ hững của hai người. Những tình cảm nồng nàn say đắm đã một thời hai người tôn thờ nay cũng không ai nhắc đến. Anh không còn là người phụ thuộc, anh đã có việc làm, có được nơi để người ta nói năng nể trọng. Những người đi lễ gồm đủ tầng lớp, giới tính và tuổi tác khác nhau đã cùng anh chia sẽ nhiều nỗi uẩn khúc. Hình như những người này cũng đều có một tâm trạng cô đơn ngay tại chính gia đình của họ, và họ tìm nơi, tìm người để giãi bày tâm sự và đồng cảm. Cái vòng tròn do các vị tín nữ lập ra đã ngày càng có sức kềm tỏa, ông thầy bị cuốn dần và khó thoát ra. Đã có lần, thầy cảm thấy mình chưa đúng khi bỏ bễ công việc để hộ giá các bà đi đền Phủ, ông muốn có một cái ngưỡng để tự mình dừng lại, nhưng sự đời đâu phải suôn sẻ, trót vì tay đã nhúng chàm, đã đi viết sớ thì việc đi theo để đỡ đần các bà là việc phải đi, chiều ý các bà là việc phải làm. Chốn u linh những tưởng lánh được sự đời, ngờ đâu lại cũng chính là nơi có nhiều vương vấn với trần gian.

Đi sâu vào những hoàn cảnh của khách nhờ viết sớ, anh đã hiểu được tâm trạng một lớp người mà xưa nay anh vẫn thờ ơ, không để ý. Họ là những mệnh phụ quen xúi giục chồng lo liệu những áp phe lớn, để thu được hoa hồng bạc tỷ vẫn nơm nớp lo sợ bị lộ tẩy, nên ngày đêm đi hết Phủ này sang Đền khác để viết sớ cầu an, dâng sao giải hạn. Họ cũng là người đàn bà khốn kổ vì có chồng bồ bịch, con cái hư đốn, tìm đến nơi linh thiêng để cầu xin Thánh thần rút bớt những tai ương. Ai cũng có một lời cầu nguyện, còn mình thì xin điều gì? Thầy chợt nghĩ đến những điều khó khăn, vợ chồng cãi vã, ghét bỏ nhau, thầy cũng cần giải thoát, nhưng biết nhờ ai đây!

Viết xong lá sớ của bà Tâm, thầy gấp tờ giấy vuốt ve cho thẳng, cẩn thận để trong bao đỏ. Mấy lần viết sớ đã thành quen, thầy biết tính bà, hay nhờ viết sớm hơn người khác và cũng nhận muộn hơn người khác.

_ Thầy ơi, em xấu số thiệt phận lắm. Trời chẳng cho ai được vẹn toàn đã đành, nhưng sao em phải gánh chịu quá nhiều. Em nhờ thầy viết cho lá sớ giải oan để kêu với Mẫu xin đại xá cho.

_Bà bị oan điều gì ạ.

-Thầy ơi, người ta có đôi có lứa, sống với nhau đầu bạc răng long, riêng em còn trẻ thế này đã sớm cô dơn. Vậy không phải là oan hay sao? Người ta khi có vợ có chồng thì sinh con đủ trai đủ gái, còn em chỉ có một cháu gái, vậy là hai nỗi bất hạnh em gánh chịu cả. Thầy kêu cầu cho em bớt gánh nặng đi.

_ Bà ơi, số phận đã an bài, tôi làm thế nào để đổi khác giúp bà được.

_ Thầy bảo sao ạ? Bà Tâm ghé sát người vào bên thầy, như để tự mình đọc được cái số phận mà trời đã an bài. Mùi nước hoa tẩm trong áo lót mình cũng theo thân chủ ập vào khứu giác thầy. Cái cảm xúc buồng the bấy lâu nay tưởng đã quên lãng, nay vô tình được khơi gợi. Thầy có lánh người sang bên, từ tốn mở tráp lấy ra lá số; đoạn giảng giải: “Bà tuổi Đinh Dậu. Mệnh lập tại Thìn khổ lắm. Cung phu thê bị triệt, kiếp sát lâm phu dù ông ấy đang là người có tài có lộc, có văn có chức cũng phải mất sớm. Đấy là cái chuyện của chồng bà, còn chuyện con cái thì đừng lo, dù có một cháu gái, nhưng nó là Tả phù Hữu bật, là nơi an ủi sau này”.

Nghe thầy giảng như vậy, bà Tâm càng thán phục. Người đâu mà tuy không ở trong nhà, lại nói đúng như thế. Bà xót xa thân mình.

_ Thầy ơi, người ta bảo: Trai Đinh Nhâm Quý thì tài, gái Đinh Nhâm Quý thì hai lần đò, vậy em có phải đi lần nữa không?

_ Thưa bà, điều đó thì tôi không thể biết được. Đi nữa hay không đi nữa là do cái tâm và cảnh của từng người. tôi làm thế nào để giúp bà bây giờ,

_ Thầy ơi, em nhờ thầy “nhưng” sao giải hạn, viết sớ kêu cầu cho em, chứ như thế này mãi thì thầy kêu cho em chết đi còn hơn.

_ Ấy chớ. Bà nói thế để tiếng ác cho tôi, cung nô bộc của bà có sao Đào Hoa, cung thiên di có Diêu Y, vậy là bà có thể tự biết, bà không thể chịu khô chịu héo trong lúc bà còn trẻ, còn đẹp như vầy.

Nghe thầy nói, bà Tâm cười tươi hẳn lên. Cái cổ trắng ngần nghiêng nghiêng theo nhịp, làm sợi dây chuyền bắt đèn lấp la lấp lánh. Bà nói tiếp:

_ Thầy đã biết số mệnh em, thầy không giải được thì em bắt đền. Thầy đưa lá sớ để em lên đài nào.

Lá sớ đặt trên cái đĩa sứ, thầy nâng hai tay đưa bà. Chẳng hiểu vì trời tối hay sao, bà nắm nhầm tay thầy. Ai cũng sợ rơi lá sớ thì phải tội, nên họ cứ để nguyên như vậy, bụi trần theo gió từ đâu bay đến, rơi rơi trên vai hai người



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 30.10.2015.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004