Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




HỌP MẶT

CÁC TÁC GIẢ CÔNG GIÁO TẠI QUI NHƠN




V ào tuần lễ đầu của tháng 8-2015 vừa qua, tôi nhận được Thư mời của Linh mục Võ Tá Khánh, tức Trăng Thập Tự, Trưởng Ban Văn hóa và Giáo dục Giáo phận Qui Nhơn, ra Qui Nhơn dự cuộc họp mặt và giao lưu các tác giả Công giáo. Đây là cuộc gặp gỡ những cây bút văn thơ Công giáo lần thứ IV, những lần trước cũng tổ chức tại đây.


Trong Thư mời, chúng tôi đọc thấy Giáo phận Qui Nhơn đang chuẩn bị cho một Năm thánh sẽ diễn ra vào năm 2018, mừng 400 Tin mừng đến với Giáo phận này. Một trong những công việc chuẩn bị có ý nghĩa nhất, sâu sắc và cũng phức tạp nhất, có lẽ là lãnh vực văn thơ Công giáo Việt Nam. Làm thế nào để Công giáo Việt Nam có một nền văn học xứng tầm với những đóng góp về văn hóa từ thuở ban đầu của Giáo hội.Vì vậy, Ban Văn hóa và Giáo dục của Giáo phận Qui Nhơn đã tổ chức từ năm 2010, 2 cuộc thi thơ, 3 cuộc thi truyện ngắn với tên gọi Giải Viết Văn Đường Trường, dành cho các tác giả từ 40 tuổi trở xuống, và quy tụ các tác giả thơ Công giáo trong bộ sưu tập Có Một Vườn Thơ Đạo. Đã có 4 tập mang tên này và sắp ra tập thứ 5.


Linh mục Võ Tá Khánh (Trăng Thập Tự) cho rằng “Cuộc họp mặt tuy âm thầm nhưng mang theo những ước vọng lớn cho tương lai văn học Công giáo Việt Nam. Cho tới nay, văn học Công giáo Việt Nam chưa thực sự khởi sắc, cách riêng trong lãnh vực truyện ngắn và truyện dài, một phần cũng vì chúng ta không có cơ hội giao lưu gặp gỡ, trao đổi thông tin và chia sẻ kinh nghiệm với nhau, tìm nguồn động viên tinh thần. Sau cuộc gặp gỡ nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh Hàn Mạc Tử (21-22/9/2012) và dịp trao giải Viết Văn Đường Trường lần I (21-22/9/2013) và lần II (21-22/9/2014). Đây sẽ là cuộc gặp gỡ những cây bút văn thơ Công giáo lần thứ IV.”


Từ lúc nhận được Thư mời cho tới ngày lên đường ra Qui Nhơn, tôi có nhiều thời giờ để chuẩn bị tinh thần cho chuyến đi đầu tiên này, theo chương trình đính kèm với Thư mời, là đến những nơi, như nhà Hàn Mạc Tử ở trước kia, nhà tưởng niệm ông ở Qui Hòa và phần mộ của thi sĩ ở Ghềnh Ráng; tham quan khu Nước Mặn, nơi in dấu chân đầu tiên của những linh mục thừa sai nước ngoài, nơi phát xuất Chữ Quốc Ngữ. Rồi còn Gò Thị, có Tòa Giám mục Đàng Trong và Dòng Mến Thánh Giá được thiết lập từ lâu. Buổi trưa của ngày hành hương, dừng chân và ăn cơm tại Làng Sông do Dòng Nữ tì Chúa Giêsu Tình thương mời. Nơi đây xưa kia là Tiểu chủng viện và nhà in, đều mang tên Làng Sông.


Để có bạn đồng hành, tôi liên lạc với họa sĩ Nguyễn Văn Quế, anh cũng làm thơ, ký tên Hương Quê. Đồng thời anh cũng là Chủ nhiệm Câu Lạc Bộ Đồng Xanh Thơ Sài-Gòn, có một số nhà thơ Công giáo tham gia. Qui Nhơn cũng có Câu Lạc Bộ Đồng Xanh Thơ, cả hai câu lạc bộ này đều khởi nguồn từ trang “Mạng lưới Dũng Lạc” do Linh mục Trần Cao Tường (1946-2011) sáng lập. Đấy là lý do tôi liên lạc với anh Hương Quê, vì anh và các bạn anh trong Câu lạc bộ đều đã ra Qui Nhơn rồi, nên đường đi, lối cũ anh đã quen.


Những năm trước, việc họp mặt và trao giải Viết Văn Đường Trường, được tổ chức đúng vào sinh nhật Hàn Mạc Tử, 22 tháng 9. Năm nay, theo cha Trăng Thập Tự, có chút khó khăn nên việc họp mặt và trao giải cũng như đi hành hương được tổ chức trước ba ngày, từ 18-19/9/2015. Theo chương trình, các tham dự viên sẽ có mặt tại Chủng viện Qui Nhơn, 116 Trần Hưng Đạo, lúc 13giờ ngày 18-9.


Đoàn Sài-Gòn ra Qui Nhơn chia làm hai, một đi máy bay và một đi xe lửa. Tôi đi xe lửa với mấy hội viên Đồng Xanh Thơ Sài-Gòn, do Hương Quê hướng dẫn. Xe chuyển bánh tại Ga Sài-Gòn, lúc 18g55 phút ngày 17-9, sau một hồi còi quen thuộc. Tiếng còi tàu cất lên trong chiều sân ga vắng, tôi chợt nhớ đến một bài thơ của ai đó (xin lỗi) mà tôi rất nhớ mỗi khi nghe tiếng còi tàu dù lúc đó tôi đang ở một sân ga nào đó những năm về trước, đặc biệt những sân ga mà tôi từng có mặt, như ga Dầu Giây, ga Sông Dinh, ga Mường Mán, ga Suối Kiết, ga Lộc Ninh. Tôi thèm dừng chân ở những ga nhỏ như thế này, cũng như về mặt đời sống tôn giáo, tôi thích được sống tại một giáo xứ nhỏ ở miền quê với ngôi thánh đường trầm mặc, chiều chiều được nghe tiếng chuông tắt lửa lịm dần vào một không gian thanh tịnh, an bình.


Bài thơ có những câu như thế này:


            Những ngày nghỉ học tôi hay tới

            Đón chiếc tàu đi đến những ga

            Tôi đứng bơ vơ xem tiễn biệt

            Lòng buồn đau xót nỗi chia xa.


            Tôi thấy tôi thương những chiếc tàu

            Ngàn đời không đủ sức đi mau

            Có chi vương vấn trong hơi máy

            Mấy chiếc toa đầy nặng chở đau

            …


Đã lâu rồi, tôi không thấy có ai tiễn biệt nhau tại sân ga với chiếc khăn tay đưa lên cao…Nay đã hết những con tàu dĩ vãng ấy ! Hay đúng hơn là đã hết những hình ảnh người ta đưa tiễn nhau tại sân ga. Đẹp làm sao, lãng mạn làm sao, thời nhân văn xa vắng !


Chuyến tàu chúng tôi đi hôm ấy, ra tới ga Qui Nhơn lúc 10g10 phút ngày hôm sau, 18-9, trễ đến 100 phút theo hành trình thường lệ. Chúng tôi bước ra ngoài sân ga, gọi chiếc taxi 7 chỗ ngồi tới Nhà thờ nhọn rồi qua bên Chủng viên, cạnh đó. Tại đây, chúng tôi nhận được những nụ cười, những chào hỏi thân thuộc của những người “trong nhà”. Sau đó, những người “trong nhà” hướng dẫn chúng tôi lên lầu nhận phòng nghỉ, tôi thấy có một số tác giả đã có mặt, họ tới trước chúng tôi. Nhưng, một số hội viên Đồng Xanh Thơ Sài-Gòn đi máy bay thì lại đến trễ. Nhà thơ Mạc Tường đến bên giường trao tặng tôi tập thơ của anh : Lạy Trời Mưa Xuống, in năm 2003. Tôi cũng tặng lại anh tuyển tập thơ của tôi : Người Ôm Mặt Khóc (1963-2013).


Theo chương trình, chúng tôi sẽ được đón tiếp tại Chủng viện Qui Nhơn vào lúc 13g. Nhưng hầu hết đã có mặt vào buổi sáng. Cho nên, cha Trăng Thập Tự đã làm ngay việc giới thiệu từng tác giả tại bàn ăn, thay vì buổi chiều. Bữa cơm trưa này cũng là ngoài chương trình. Tôi vừa trải qua một chuyến tàu kéo dài hơn 15 giờ đồng hồ, lại không chợp mắt được, nên khá mệt mỏi. Cho nên, sau bữa ăn trưa, nhận mũ kỷ niệm có thêu mấy chữ Giải Viết Văn Đường Trường lần III 2015 và dây đeo cổ mang tên mình, tôi trở lên phòng nằm nghỉ. Đang trong trạng thái chưa hẳn là ngủ và cũng không hẳn là thức, thì một người anh em ở Sài-Gòn vừa tới, ghé vào tai, khẽ gọi tên tôi, cùng lúc ấy có nhiều tiếng chào mừng mấy người ở Sài-Gòn đi máy bay tới. Chỉ mấy phút sau đó, tôi nghe có những lời nói chuyện từ chỗ này, chỗ kia ở trong phòng nghỉ. Những gì tai tôi ghi nhận được, tôi đoán có khoảng 3 nhóm, mỗi nhóm có vài người. Đó là những trao đổi đầu tiên giữa những người vừa gặp nhau. Tôi cũng hơi có cảm giác tiếc mình không thể là một trong những người có mặt một trong ba nhóm ấy. Đúng hơn tôi tiếc mình không thể là người thể hiện sự thân thiện ngay ở những giờ khắc đầu tiên của cuộc họp mặt, trong khi đây là lần đầu tiên tôi tham dự.


Sau giờ nghỉ trưa, chúng tôi bắt đầu chương trình của ngày thứ nhất lúc 15g, là lên nhà nguyện chủng viện tham dự thánh lễ. Đến 16g30, tới hội trường chủng viện sinh hoạt giao lưu; 17g15 : thảo luận chia sẻ theo tổ. Số tác giả tham dự cuộc họp mặt và trao giải Viết Văn Đường Trường năm nay, có khoảng 60 người đến từ 12 giáo phận trong cả nước, có nghĩa cả ba Giáo tỉnh là Hà Nội, Huế và Sài-Gòn đều có tác giả. Đặc biệt, có một tác giả rất trẻ, người Bahnar, 16 tuổi, đang học lớp 10. Ở phần thảo luận tổ, chúng tôi chia sẻ với nhau về những sinh hoạt văn thơ Công giáo tại giáo phận mình và giáo phận chung quanh. Điều thứ hai là cần làm gì để vận động các thành phần Dân Chúa ý thức tầm quan trọng của tiếng Việt trong sứ mạng loan báo Lời Chúa và quan tâm hơn tới việc phát huy văn thơ Công giáo. Thứ ba, cần làm gì để gia tăng sự liên kết làm việc chung giữa những người quan tâm tới văn thơ Công giáo, ngay với những người trong phạm vi Giáo phận mình và phạm vi những Giáo phận gần nhau. Thứ tư, cần làm gì để tìm kiếm và đào tạo tài năng văn thơ trẻ. Cuối cùng, trong việc dùng tiếng Việt để loan báo Tin mừng hiện nay, có những biểu hiện nào đáng buồn, những tín hiệu nào đáng vui và phải làm gì để được khả quan hơn ?


Trong năm câu hỏi thảo luận của ban tổ chức cuộc họp mặt lần này, câu thứ nhất là khách quan và vô tư hơn cả, vì có gì thì nói thế. Chẳng hạn như ở giáo phận Xuân Lộc, có tủ sách Đời Dâng Hiến do chính Đức Giám mục chủ nhà thành lập từ năm 2009, nhân dịp ngài cho ra đời tác phẩm Một Đời Dâng Hiến, với mục đích khuyến khích, phát triển văn hóa nghệ thuật Công giáo tại giáo phận Xuân Lộc. Từ ngày thành lập đến nay, tủ sách đã có 10 tác phẩm được phát hành, gồm có truyện của Song Nguyễn, bút danh của giám mục chủ nhà và các truyện đoạt giải Văn hóa Nghệ thuật, ngoài ra còn có một tuyển tập thơ mang tên Vườn Thơ. Năm 2010, Đức cha chủ nhà giáo phận Xuân Lộc còn thành lập giải Văn hóa Nghệ thuật Đất Mới và trao giải lần đầu tiên vào ngày 11/11/2011, nhân ngày ngài được tấn phong Giám mục. Giải Văn hóa nghệ thuật Đất Mới gồm có 4 bộ môn : Truyện, Thơ, Ca khúc, Kịch. Còn tại giáo phận Sài-Gòn, Ban Mê Thuột, Kontum v.v…các vị mục tử cũng đều quan tâm đến việc dùng văn, thơ để tải đạo và sẵn sàng hỗ trợ cho những sinh hoạt thơ văn, kể cả việc in ấn tác phẩm nhằm truyền bá những tác phẩm này được rộng rãi hơn. Đối với một số tác giả vắng mặt, chúng tôi được đọc những ý kiến của họ xung quanh mấy gợi ý của ban tổ chức trên đây. Những ý kiến này được in vào 20 trang giấy, phát cho mỗi tham dự viên.Tôi gặp ở những trang giấy những tác giả không về dự được, một vài tác giả cao niên. Có vị ở Sài-Gòn đến 96 tuổi; nhà thơ nữ ở Hải Phòng 73 tuổi; một nhà thơ nữ tu 87 tuổi ở Sài-Gòn; một vị ở Xuân Lộc 71 tuổi. Còn thì tuổi 50, 68, 59, 47, 46, 40. Đặc biệt có mấy nhà thơ tu sĩ sống đời tận hiến tại các nhà Dòng nữ như Mến Thánh Giá Thủ Đức, nữ Đa Minh Tam Hiệp, nữ tu Dòng Mân Côi (đang du học tại Pháp). Nói chung, những tác giả có câu trả lời gửi về ban tổ chức, đều trăn trở và gắn bó mật thiết với văn chương Công giáo của mình. Một vấn đề hầu như các tác giả có chung một ý tưởng là cần có một tổ chức, từ giáo xứ lên giáo phận, có những sinh hoạt giao lưu định kỳ, những tập san nội bộ, những trang web và những học hỏi, cầu nguyện, nghiên cứu đi sâu vào việc yêu mến giáo hội, kinh thánh và sống chiêm niệm cuộc đời của Chúa Giêsu. Để được công nhận là những cây bút Công giáo thực thụ, cần có ba điều này.


Còn về mặt dùng tiếng Việt để loan báo Tin mừng hiện nay, có tác giả đã nêu ra một vài việc đáng buồn, như: “Người ta quá lạm dụng vào các ứng dụng của công nghệ photoshop, chỉnh sửa lồng ghép thái quá các hình ảnh về Chúa. Cũng xuất hiện đâu đó các trang web không chính thống, đã có các bài viết lệch lạc và thậm chí đi ngược với Lời Chúa và đường hướng của Giáo hội. Chưa kể đến cách dùng từ cẩu thả trên các trang mạng facebook, được mang danh người tín hữu.” (Vũ Toàn Năng, nhà thơ 47 tuổi, Ban Mê Thuột) Trước đó, nhà thơ này cũng đã nói đến một số nơi, có những tín hiệu đáng mừng trong việc dùng tiếng Việt để loan báo Tin mừng. Chẳng hạn “các bài viết chia sẻ có chất lượng, phản ảnh kịp thời các sự kiện của các giáo hội địa phương, những áng văn thơ như kể chuyện về Thiên Chúa đã kịp thời đến tay mọi người thông qua các tập san chia sẻ vá các website.” Cũng liên quan đến hai việc buồn vui này, nhà thơ Nguyễn Thanh Sang, 59 tuổi, Ban Mê Thuột viết: “Nhiều tác giả không coi trọng việc viết sai lỗi chính tả, sai văn phong Việt ngữ nhiều ở các tác phẩm dịch thuật, soạn tác, sáng tác về đức tin Công giáo, kể cả việc bất kính với Danh xưng chỉ về Chúa.


Ví dụ: Viết chữ “Chúa, Cha” hay “Ta” lại không viết hoa mà viết thường, “chúa, cha, ta” ngay trong bản kinh (bản Kinh Thương Xót có phép Imprimatur của ĐGM Phú Cường ngày 26-11-2003).”


Ghi lại đây những điều này là nhằm nói đến việc tổ chức và tâm huyết của các vị trong ban Tổ chức thuộc giáo phận Qui Nhơn, đồng thời chúng tôi thấy được cả tấm lòng của các vị này đối với lãnh vực văn học Công giáo Việt Nam. Không một ai bằng lòng với văn học Công giáo Việt Nam hiện tại, mặc dù gia tài của Đạo hết sức lộng lẫy bao gồm toàn bộ các lãnh vực của đời sống nhân sinh. Cho đến nay, chưa có mấy ai đi vào, và viết lên những tác phẩm văn chương có giá trị, cả văn và thơ, một số người chỉ lởn vởn bên ngoài. Họ chưa chạm vào được vẻ huy hoàng và muôn mầu sắc của gia tài này. Phải chăng họ bị run rẩy vì bị choáng ngợp ngay khi họ chớm nở ý nghĩ thực hiện ?


Có một điều cũng nên ghi lại đây, ấy là các chủ chăn trong Giáo hội Việt Nam hôm nay, đều nhận ra có những khó khăn đối với các tác giả Công giáo. Họ chưa được thanh thản thực sự trong sáng tác thơ văn cho dù là viết về các vấn đề tôn giáo, bởi vì chính bản thân các giáo hội cũng có những khó khăn đối với xã hội.


Sau 45 phút thảo luận, chúng tôi xuống nhà cơm, quây quần bên bữa ăn agape, gặp gỡ những người mình chưa bao giờ gặp. Một không khí rất cởi mở và thân thiện giữa những người cầm bút từ hơn 10 giáo phận trên cả ba giáo tỉnh gặp gỡ, chuyện trò, hỏi han về quê quán và cuộc sống hàng ngày. Tôi cũng có những trao đổi với một tác giả đến từ giáo phận Vinh. Chúng tôi gặp nhau ở nhiều điểm của giáo phận này, chẳng những bây giờ, mà từ trong lịch sử trăm năm. Những phút nghỉ ngơi sau bữa ăn agape không được bao lâu, thì chúng tôi lại lên hội trường chủng viện để nghe đúc kết thảo luận và 19g30 nghe thuyết trình về buổi đầu Chữ Quốc ngữ tại Qui Nhơn. Cuối cùng là xem video Dấu chân Hàn Mạc Tử. Những gì trong video ghi lại, cuộc hành hương ngày hôm sau, 19.9, chúng tôi sẽ đến tại chỗ, thấy tận mắt. Nhưng, lúc này đã tới giờ (21g) chúng tôi phải trả lại không gian yên tĩnh cho chủng viện. Tôi không thể nói được cái cảm giác của tôi lúc này. Một hình ảnh từ trong tiềm thức tôi trỗi dậy, xa xưa đến 65 năm. Đó là TCV Hoàng Nguyên, Hà Nội. Nơi đây là những “gia đình”, người trong “gia đình” này là những chủng sinh cùng lớp. Mỗi “gia đình” mang tên một vị thánh. Như “gia đình” An-Rê, “gia đình” Lê Bảo Tịnh v.v…Tôi thuộc “gia đình” Lê Bảo Tịnh.


Tôi đang ở chủng viện Qui Nhơn mà lại nhớ chủng viện Hoàng Nguyên, Hà Nội, mặc dù bây giờ là hoang phế !


Hành Hương Nước Mặn, Gò Thị, Tiểu Chủng Viện Làng Sông, Qui Hòa và Ghềnh Ráng


Ngày thứ hai tại Qui Nhơn, 19-9-2015, chúng tôi thức dậy lúc 5g, đến 5g45 cầu nguyện đầu ngày tại nhà nguyện chủng viện. Sau điểm tâm vào lúc 6g15, nhà thơ Hương Quê và tôi mở ra một chiếu cà phê, ngay tại giường, có cả ít bánh ngọt mang từ nhà đi, rồi vài người nữa đã đến cùng uống và chia sẻ với nhau những giây phút họp mặt ngắn ngủi, trước khi chúng tôi lên đường hành hương một vài điểm truyền giáo như Nước Mặn, Gò Thị, nhà thương Quy Hòa nơi Hàn Mạc Tử nằm điều trị và mất tại đây. Nơi đây còn có nhà lưu niệm Hàn Mạc Tử (phía trong). Nghe nói, nhạc sĩ Trần Thiện Thanh, tác giả bài hát Hàn Mạc Tử để đời, đã xây một nhà lưu niệm mới Hàn Mạc Tử phía ngoài, song chúng tôi không có đủ giờ tới đó. Vì còn phải tới Ghềnh Ráng, nơi có phần mộ Hàn Mạc Tử. Hiện nay, Ghềnh Ráng là một trung tâm du lịch, nằm trên một ngọn đồi, không cao lắm, bên dưới đèo là một thung lũng, có những ngôi nhà vuông mái đỏ hình tứ giác, khá hấp dẫn.


Lúc chúng tôi đã xuống sân, chuẩn bị lên đường, tôi nghe từ tháp chuông nhà thờ nhọn cạnh đó phát ra một đoạn bài hát Ave Maria, rồi mới đổ 7 tiếng. Còn 15 phút nữa, xe chuyển bánh đưa chúng tôi đi hành hương. Tôi nhìn lên tháp chuông nhà thờ nhọn. Tháp có hai phần. Phần dưới hình tứ giác, mỗi phía có gắn đồng hồ. Phía trên là hình bát giác, nhỏ hơn và cao vút. Mái nhà thờ có hai tầng, lợp ngói đỏ. Vừa lúc đó, cha Trăng Thập Tự bước ra sân, ngài mời chúng tôi đứng vào hàng theo tổ để điểm danh. Sau đó mọi người lên xe. Ngồi bên tôi là nhà thơ Mạc Tường, quê Quảng Vân, Phước Thuận, Tuy Phước, Bình Định, nhưng anh sống và làm việc tại Qui Nhơn; hai nữa anh là nhà thơ, cộng tác tích cực với cha Trăng Thập Tự trong các giải Viết Văn Đường Trường và các lần họp mặt các tác giả thơ văn Công giáo tại Qui Nhơn từ mấy năm nay, mà tôi lại là “lính mới” đối với Qui Nhơn và những nơi hành hương chúng tôi đang đi đến, nên tôi có thể hỏi anh tất cả các địa danh xe đi qua. Tuy nhiên, có nơi tôi chưa kịp hỏi thì anh đã dùng loa cầm tay để nói, mọi người trên xe cũng biết được.

Chúng tôi đang đi dọc theo sông Hà Thanh, rồi trước mặt là một cây cầu, bắc qua biển. Đó là cầu Nhơn Hội, còn gọi là cầu Thị Nại. Anh Mạc Tường nói tài xế dừng xe để ai muốn xuống ghi vài tấm hình kỷ niệm về cái cầu dài nhất Việt Nam này thì xuống. Lúc trở lên xe, tôi hỏi: ngoài này không cấm xe dừng lại trên cầu sao? Cũng không thấy có cảnh sát giao thông? Anh Mạc Tường nói là cũng cấm chứ, nhưng cầu này hình như dành nhiều cho du lịch, nên hạn chế các loại xe tải chở nặng. Qui Nhơn cũng chưa phát triển nhiều về công nghiệp, nên rất ít thấy các ông ấy.


Đoàn hành hương dừng chân khá lâu ở khu vực Nước Mặn, vì nơi đây được coi là cái nôi của Chữ Quốc Ngữ. Thời Đức cha Nguyễn Soạn là Giám mục chính tòa Giáo phận Qui Nhơn, ngày 15-7-2011, ngài đã cho xây dựng một biểu tượng về sự phát triển của Chữ Quốc Ngữ, qua hình ảnh một cái cây nhiều ngành, như văn hóa, tôn giáo, chính trị, kinh tế, khoa học v.v…như chúng ta thấy hiện nay. Dưới thân cây này, khắc một tấm bia, ghi những hàng chữ:


ĐỂ MUÔN ĐỜI GHI NHỚ

Tại nơi đây Nước Mặn


- Ba linh mục Dòng Tên : Francesco Buzomi, người Ý, Francisco de Pina, người Bồ Đào Nha, Cristoforo Borri, người Ý và tu huynh Antonio Dias, người Bồ Đào Nha, đã đến lập cơ sở truyền giáo đầu tiên vào tháng 7 năm 1618, do lời mời của quan Trần Đức Hòa, Khám lý phủ Qui Nhơn.


- Đức Giám mục Phêrô Lambert de la Motte, Đại diện Tông tòa tiên khởi Giáo phận Đàng Trong, tiền thân của Giáo phận Qui Nhơn, đã đến vào tháng 10 năm 1671. Đầu năm 1672, khi trở lại, Ngài bổ nhiệm một linh mục Việt Nam đầu tiên như là quản xứ; đó là cha Giuse Trang, quê Quảng Ngãi, vị linh mục Việt Nam tiên khởi, do Ngài truyền chức vào ngày 31 tháng 3 năm 1668 tại Juthia, Thái Lan. Cũng chính Ngài lập Dòng Mến Thánh Giá ở Đàng Trong, tại An Chỉ, Quảng Ngãi, vào cuối năm 1671.


Qui Nhơn, ngày 15 tháng 7 năm 2011


Phêrô Nguyễn Soạn

Giám mục Giáo phận Qui Nhơn



Ghi chú:Hơn 80 nhà khoa học từ các trường đại học, viện ngôn ngữ học, viện sử học trong và ngoài nước đã tham dự hội thảo khoa học với chủ đề “Chữ quốc ngữ: Sự hình thành, phát triển và những đóng góp vào văn hóa Việt Nam” diễn ra sáng 3-10 tại TP. Tuy Hòa, Phú Yên…Phú Yên được chọn làm nơi tổ chức hội thảo lần này, bởi nơi đây, tại nhà thờ Mằng Lăng, một trong những nhà thờ Công giáo lâu đời nhất tại Việt Nam, còn lưu giữ cuốn sách bằng Chữ quốc ngữ đầu tiên Phép giảng tám ngày của Linh mục Alexandre de Rhodes in năm 1651 tại Roma, Ý.


Một số tham luận của các nhà khoa học và giới nghiên cứu trình bày tại hội thảo cũng đã đề cập đến địa danh Nước Mặn (thuộc huyện Tuy Phước, Bình Định), là nơi phôi thai Chữ quốc ngữ? Bởi tài liệu in đầu tiên có sử dụng một số Chữ quốc ngữ hiện nay đã xuất hiện trong sách Tường trình về khu truyền giáo Đàng Trong xuất bản năm 1631 của Linh mục Christophoro Borri. Ông Borri làm việc một thời gian dài tại Nước Mặn.


Nhà nghiên cứu Nguyễn Thanh Quang phát biểu tại hội thảo: “Việc Linh mục Borri sử dụng một số Chữ quốc ngữ trong các tác phẩm của ông cũng như một số Linh mục khác cùng thời sử dụng Chữ quốc ngữ trong các báo cáo viết tay, điều đó chứng minh rằng ngay từ năm 1618-1620 đã có một khởi đầu hình thành Chữ quốc ngữ ở Nước Mặn.” (Báo Tuổi Trẻ số 269/2015 (8094), ngày 5-10-2015, tr.15)


Rời Nước Mặn, chúng tôi trở lại Gò Thị, nơi đặt Tòa Giám mục Đàng Trong và có Dòng Mến Thánh Giá Qui Nhơn. Từ đây có con đường dẫn chúng tôi vào khu mộ của thánh tử đạo Anrê Nguyễn Kim Thông, và thân tộc của ngài. Thánh Anrê Thông là bổn mạng của những giáo dân phục vụ nhà thờ. Đứng trước phần mộ của ngài,chúng tôi thinh lặng vài phút tưởng niệm thánh nhân, rồi đi bộ ra ngoài, lên xe tới Làng Sông.


Chiếc xe chở chúng tôi còn ở ngoài cổng, thì từ phía trong, các nữ tu Dòng Nữ tì Chúa Giêsu Tình thương, đang đi ra đón chúng tôi. Xe lăn nhẹ bánh vào trong và tất cả chúng tôi dừng lại giữa sân, trước mặt là nhà nguyện Tiểu chủng viện xưa kia. Vừa lúc đó, mẹ bề trên nhà dòng cùng các nữ tu cũng ra tới, hai bên cúi đầu chào nhau, cả ánh mắt và nụ cười như thể rất gần gũi và thân tình đã lâu. Một số chị còn rất trẻ, mang theo những chai nước lạnh và khăn lạnh, đi tới từng người đang đứng, trao tận tay cho từng người chúng tôi. Chị bề trên giới thiệu với chúng tôi về cộng đoàn tu trì của chị, còn cha Trăng Thập Tự thì giới thiệu chúng tôi là các tác giả thơ văn Công giáo, về Qui Nhơn họp mặt nhân ngày trao giải Viết Văn Đường Trường lần thứ III. Chúng tôi đang đứng giữa hai hàng cây sao hơn 100 năm, có cây to cả mấy người ôm. Sau những giây phút chào hỏi và giới thiệu nhau, một số người đi tham quan nhà dòng, còn tôi thì vào nhà nguyện, quỳ xuống ghế. Vừa lúc đó, một nữ tu bước tới chỗ tôi quỳ, mở quạt máy bên cạnh cho tôi; những người khác cũng vậy. Tôi thấy thật cảm động.


Nhà nguyện Tiểu chủng viện Làng Sông nay thuộc thôn Quảng Vân, xã Phước Thuận, huyện Tuy Phước, Bình Định, xây dựng bằng gỗ quý, lòng nhà nguyện có 8 hàng cột tròn, từ trên xuống, mỗi hàng có 4 cột theo hang ngang, mầu gụ, các dẫy ghế cũng vậy, đã trải qua hơn trăm năm, thế mà tưởng như mới. Có lẽ vì có các nữ tì của Chúa Giêsu tình thương, có hơi thở và sự sống, sự sống của văn hóa và các dấu tích của tận hiến, vẫn còn hơi ấm lưu truyền từ đó đến nay. Bởi vì đây là đất của Nhân văn, đất của Con Người. Nó là cái cây văn hóa đã đi vào lịch sử, tháp nhập vào lịch sử ngàn năm văn hiến của dân tộc Việt.


Một vài tài liệu trên Internet tôi đọc, cho biết:


Chủng Viện Làng Sông được xây dựng từ năm 1864 (có sai biệt một vài năm so với các tài liệu khác). Trải qua bao biến cố thời gian và thời tiết khí hậu của vùng quê Bình Định nhiều lũ lụt, nhưng Công trình kiến trúc cổ kính này vẫn nguyên vẹn cây cối, khuôn viên, những dãy nhà rêu phong trầm mặc, những đường nét kiến trúc Gothic duyên dáng, những dãy hành lang dài uy nghiêm với nét chạm khắc trên tường, trên cửa…


Chủng Viện cũng là nơi đặt nhà in Làng Sông (Quy Nhơn) năm xưa, trở thành một trong ba cơ sở in sách Quốc ngữ đầu tiên ở Việt Nam. Ngoài sách tiếng Latinh và tiếng Pháp, nhà in Làng Sông (Quy Nhơn) đã in một số lượng lớn sách Quốc ngữ đa dạng về thể loại như: Giáo lý, kinh thánh, giáo dục ấu học, trung học, truyện, tiểu thuyết, kịch, tạp chí, tuồng, lịch, sách dịch…(Nguồn: Danviet.vn)

Trong một bài viết rất nhiều công phu, ông Nguyễn Thanh Quang cho rằng, nhà in của giáo phận Đông Đàng Trong – nhà in Làng Sông có trước thời điểm năm 1872, bị hỏng năm 1885. Và có thể nhà in Làng Sông được xây dựng cùng thời với nhà in của giáo phận Tây Đàng Trong (Sài Gòn) và nhà in của địa phận Tây Đàng Ngoài (Hà Nội). Như vậy có thể tin rằng, sự phát triển của chữ Quốc ngữ có phần đóng góp của các nhà in này rất lớn. Ông cũng ghi nhận thêm, đáng chú ý, nhà in Làng Sông đã in nhiều loại sách của các cây bút Quốc ngữ nổi tiếng ở Nam Bộ lúc bấy giờ như: Chuyện đời xưa (tái bản lần thứ 2) của Trương Vĩnh Ký; Chuyện giải buồn (2 tập) của Pierre Lục; 30 đầu sách của Lê Văn Đức (một trí thức nổi tiếng, thế hệ sau Trương Vĩnh Ký) gồm nhiều thể loại hiện còn lưu giữ ở Thư viện Quốc gia (Hà Nội): Tây hành lược Ký, Đi bắt ăn cướp (tuồng), Tìm của báu (tiểu thuyết), Chúa Hài Nhi ở thành Nadarét (kịch), Du lịch Xiêm….(Baobinhdinh.com)

Sau những phút cầu nguyện và đi thăm nhà dòng, chúng tôi trở vào phòng ăn. Một lần nữa, chúng tôi lại nhận được sự ân cần và trìu mến của tất cả các nữ tu ở đây, từ chị Bề trên cũng như các chị khác. Trước khi chúng tôi ngồi vào bàn ăn, chị Bề trên dẫn một số các chị khác bước vào phòng, đứng ở cửa ra vào, mời cha Trăng Thập Tự, trưởng đoàn, cha Trần Ngà, tác giả tập Khám phá một nguồn vui, từ cội nguồn Kinh thánh và tất cả chúng tôi dùng bữa cơm thanh đạm. Ngồi xuống bàn ăn, chúng tôi nhận ra đây là “cây nhà lá vườn” do bàn tay các chị làm ra, trừ hạt gạo và món cá.

Treo trên tường tại phòng ăn, tôi thấy có tờ Thời khóa biểu học của các nữ tu. Tò mò xem các chị học cái gì? Tôi khá bất ngờ khi đọc đến tiết viết văn của hai lớp: Khấn sinh 1 và Nhà tập 2, mỗi tuần các chị học hai tiết viết văn. Ngoài ra, còn học các môn như: Nhân văn, Âm nhạc, Đàn, Tu đức, Kinh thánh, Kitô học. Đấy là một chương trình học khá phong phú đối với các nữ tu. Ngoài ra, các chị còn lao động trên các mảnh đất trong phạm vi nhà dòng, tự túc về mặt đời sống.


Sau cơm trưa, đoàn chia làm ba nhóm theo Giáo tỉnh: Hà Nội, Huế, Sài-Gòn. Những tác giả từ Bắc Ninh và Vinh, mong có một cuộc họp mặt các tác giả Công giáo của Giáo tỉnh Hà Nội, còn các tác giả của Giáo tỉnh Huế thì sẽ lập một nhóm điện thư (email group) để trao đổi thông tin và tác phẩm. Chúng tôi thuộc Giáo tỉnh Sài-Gòn, từ Cần Thơ, Đà Lạt, Xuân Lộc thì bàn về chương trình tổ chức kỷ niệm giỗ Hàn Mạc Tử lần thứ 75 vào tháng 11 tới tại Sài-Gòn, dịp này sẽ phát hành quyển 5 của bộ sưu tập “Có một vườn thơ đạo” và hai tác phẩm về Hàn Mạc Tử của Trần Quang Chu biên soạn.


Trước giờ tạm biệt Tu viện Làng Sông, chúng tôi lại tập trung tại sân nhà dòng như lúc đến. Chị bề trên nhà dòng và các nữ tu cũng đi ra để chào tạm biệt chúng tôi. Tôi nghe có một lời chúc thật vui và dí dỏm, phát ra từ trong đoàn, các chị tu được thì sẽ trở thành tông đồ tận hiến nhiệt thành, tu xuất thì thành thi sĩ hay nhà văn Công giáo. Lại xuất hiện trên môi nhiều nữ tu và cả chúng tôi nữa những nụ cười thanh thoát. Tôi chưa thấy có cuộc chia tay nào giữa chủ và khách ở những nơi khác lại thân mật và trìu mến đến như vậy.


Lúc chia tay nhà dòng, đã là 13g30. Chúng tôi lên xe đi bệnh viện da liễu Trung ương Qui Hòa, thăm nhà lưu niệm Hàn Mạc Tử. Ở phòng lưu niệm có cuốn sổ bìa dày để khách ghi lưu bút. Tôi ghi 4 câu thơ, làm từ năm 1976:


Trăng nay tôi nhớ Hàn Mạc Tử

Một kiếp thi nhân những ngậm ngùi

Phận bạc nhưng hồn thơ chẳng bạc

Tin Yêu tha thiết hiến dâng đời.


Rời nhà lưu niệm Hàn Mạc Tử, chúng tôi thăm Tu viện Phan sinh Thừa sai Đức Mẹ cũng trong khu bệnh viện, nhưng nằm phía ngoài. Cha Trăng Thập Tự trao chị bề trên Tu viện món quà của một người hảo tâm ở nước ngoài gửi về giúp bệnh nhân. Sau đó đoàn đi Ghềnh Ráng thăm phần mộ Hàn Mạc Tử, thắp hương và cầu nguyện cho người thi sĩ bạc mệnh. Một nhà thơ sống ở Qui Nhơn đọc bài tưởng niệm Hàn Mạc Tử, gợi nhớ đến cuộc đời thương đau của thi sĩ và gia tài tinh thần ông để lại. Bài tưởng niệm này làm tôi ngạc nhiên về lối hành văn của tác giả. Lời của ông da diết, trực cảm và chân thành, rất mực tôn kính một bậc thi nhân tài ba nhưng khổ hạnh.


Lúc này đã gần 16giờ, chúng tôi trở về, vào Tòa Giám mục chào Đức cha Nguyễn Văn Khôi, chủ nhà và chúc mừng lễ thánh Matthêô Bổn mạng ngài, theo lịch phụng vụ là ngày 21-9. Sau đó, Đức Giám mục cử hành thánh lễ, có hai linh mục đồng tế, cầu nguyện cho các nhà văn, nhà thơ Công giáo còn sống và đã qua đời. Trong bài giảng, Đức cha nói đến sứ mạng người cầm bút Công giáo, ngài cũng không quên những khó khăn của họ.


Trong bữa ăn tối, Đức cha đã tới dùng bữa với đoàn. Ngồi chung bàn với ngài, là mấy tác giả cao niên. Ngài giản dị trong cung cách, nhỏ nhẹ trong ngôn từ. Nghe ngài nói, tôi hiểu tâm tư của ngài về lãnh vực văn học Công giáo Việt Nam, đến nay vẫn rất khiêm tốn. Ngài xác nhận vai trò quan trọng của ngôn ngữ văn chương Công giáo Việt Nam trong thời buổi này, có sứ mạng lớn trong việc loan báo Tin mừng. Làm thế nào để phát triển và khởi sắc. Đó là việc mỗi người cầm bút, viết văn, làm thơ cần ý thức.


Sau bữa cơm này, tôi hiểu công việc cha Võ Tá Khánh, tức Trăng Thập Tự, trong vị trí Trưởng ban Văn hóa và Giáo dục Giáo phận Qui Nhơn tiến hành từ mấy năm nay, có lẽ không chỉ hướng đến kỷ niệm 400 năm Chữ quốc ngữ khai sinh tại Nước Mặn, sẽ được tổ chức vào năm 2018, mà chắc chắn, đây sẽ là công việc lâu dài không chỉ trong phạm vi Giáo phận Qui Nhơn mà là của tất cả các giáo phận (26 đơn vị) trong toàn quốc Việt Nam.


Nói đến đây tôi lại nhớ đến hai lần trong đời cầm bút của tôi, năm 1974 và năm 2000, tôi đã tham dự vào những buổi họp để thành lập một hội nhà văn Công giáo Việt Nam. Nhưng lần đầu, 1974, người khởi xướng việc này là Linh mục Nicolas Huỳnh Văn Nghi, Chính xứ Tận Định, Sài-Gòn, sau là Giám mục Giáo phận Phan Thiết. Vì thời cuộc nên việc phải dừng lại. Còn lần sau, hưởng ứng lời kêu gọi của Đức TGM Francesco Marchisano, Chủ tịch Ủy ban Nghệ thuật của Tòa thánh, từ tháng 10 năm 1999, đã gửi thư ngỏ, mời tất cả các văn nghệ sĩ Công giáo trên toàn thế giới cùng đến Roma trong ngày 18-2-2000, là ngày kính nhớ Chân phúc Họa sĩ Fra Angelico (1400-1455), Giáo hội chọn làm ngày dành cho giới văn nghệ sĩ, thì chính TGM Phạm Minh Mẫn, TGP Sài-Gòn, tổ chức một cuộc họp tại hội trường Nhà thờ Chính tòa Sài-Gòn, ngày 19-2-2000, có mặt một số văn nghệ sĩ Công giáo sống tại Sài-Gòn. Nhưng ít lâu sau, một linh mục cũng có mặt buổi đầu ấy nói rằng “sẽ không có một cuộc họp thứ hai nữa”, vì có phức tạp về nhiều mặt, từ vị chủ chăn, một vài linh mục và giáo dân ngày ấy, cho đến xã hội và bản thân những người cầm bút Công giáo đã trải qua một thời kỳ đầy những xáo trộn và khó khăn của miền Nam. Họ có quá nhiều trăn trở và mâu thuẫn nhau. Cho nên đã không có thêm một cuộc họp mặt nào khác.


Nhắc lại hai việc này, tôi chỉ muốn nói đến sự quan tâm của các vị chủ chăn trong Giáo hội về sứ mạng loan báo Lời Chúa của những người cầm bút hay cây cọ trong Giáo hội Công giáo Việt Nam hôm nay. Tiếng nói của các ngài là khẩn thiết. Bởi vì, đạo đức đã mất ngôi trong xã hội, khởi đi từ trong chính con người. Còn tôn giáo thì chính người có đạo cũng sống với trạng thái hời hợt, chuộng hình thức. Kinh tế lên thì đạo đức xuống, phải chăng là một quy luật!


Từ cung điện của giáo triều, Đức thánh Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II đã viết một thư gửi các nghệ sĩ vào ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 4 tháng 4 năm 1999. Ngài nhận định:


Phải nhìn nhận rằng trong kỷ nguyên hiện đại này, bên cạnh chủ nghĩa nhân bản của Kitô giáo đã không ngừng sản sinh ra những tác phẩm văn hóa và nghệ thuật quan trọng, còn có một thứ chủ nghĩa nhân bản khác đang dần dần khẳng định được vị trí của mình; chủ nghĩa này có đặc điểm là không đề cập đến Thiên Chúa hay nhiều khi chống đối lại Thiên Chúa. Tình hình này đôi khi đưa tới hiện tượng : chia rẽ thế giới văn hóa với thế giới đức tin, ít là ở chỗ nhiều nhà nghệ sĩ hiện nay đã bớt quan tâm tới các đề tài tôn giáo.” (Đoạn 10)

(Lm Phêrô Đ.X.T chuyển dịch)


Ở một đoạn khác trong thư gửi các nghệ sĩ, Đức thánh Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II viết:


Với lá thư này, tôi xin hứa với các anh chị em nghệ sĩ trên toàn thế giới là mình vẫn luôn luôn quý trọng và sẵn sàng giúp đỡ, củng cố sự cộng tác tích cực hơn giữa nghệ thuật và Giáo Hội. Tôi mời gọi anh chị em hãy khám phá lại chiều sâu tâm linh và tôn giáo, vốn là nét điển hình của nghệ thuật từ xưa tới nay dưới những hình thức cao quý nhất. Nghĩ như thế, nên tôi kêu gọi anh chị em nghệ sĩ: nghệ sĩ của chữ viết và lời nói, của sân khấu và âm nhạc của tạo hình và thông tin theo các kỹ thuật tiên tiến nhất. Còn các nghệ sĩ Kitô giáo, tôi cũng xin có lời hiệu triệu đặc biệt đối với các bạn: tôi muốn nhắc anh chị em nhớ rằng, ngoài những suy nghĩ nặng tính chức năng trên đây, ta còn thấy có một sự liên minh chặt chẽ và luôn luôn giữa Tin Mừng và nghệ thuật, nghĩa là các bạn được mời sử dụng trực giác sáng tạo của mình để đi sâu vào mầu nhiệm Thiên Chúa Nhập Thể và đồng thời, đi sâu vào mầu nhiệm con người (Đoạn 14)

(Nguồn: Nhà thờ Chính tòa GP. TP.Hồ Chí Minh)


Lễ Trao Giải Thưởng Viết Văn Đường Trường Lần III-2015


Trở lại ngày họp mặt các tác giả Công giáo và trao giải Viết Văn Đường Trường lần III-2015 tại Qui Nhơn, sau bữa cơm tối ngày thứ hai cũng là ngày cuối, có Đức cha chủ nhà tham dự với tinh thần trao đổi và lắng nghe, chúng tôi vào hội trường của chủng viện dự buổi trao giải này, dưới sự chủ tọa của Đức cha Nguyễn Văn Khôi, Giám mục Chính tòa Qui Nhơn.


Phần dưới đây, chúng tôi mượn lời của Tâm An, gửi cho chúng tôi qua email ngày 22-9-2015, ghi lại cuộc phát giải và bài phát biểu khai mạc của cha Trăng Thập Tự và huấn từ sau cùng của Đức Giám mục chủ nhà.


Trong lời khai mạc, cha Trăng Thập Tự cho biết những cuộc họp mặt hằng năm tại Qui Nhơn tiếp nối hai cuộc họp mặt tại Phan Thiết năm 2008-2009, hy vọng sẽ trở thành ngày họp mặt truyền thống của giới cầm bút Công giáo, không chỉ tại Qui Nhơn mà khắp các giáo phận. Hướng về chân dung một người, qua màn ảnh nhỏ, ngài mời mọi người thinh lặng tưởng niệm cha Anrê Dũng Lạc Trần Cao Tường (1946-2011),

có công lớn trong việc phục vụ văn hóa của Giáo hội Việt Nam, sáng lập “Mạng lưới Dũng Lạc”.


Cuộc thi năm nay có 21 giải thưởng. Tác giả đạt giải nhất là Têrêxa Đinh Thị Thu Hằng (Sài-Gòn), giải nhì thuộc về tác giả Antôn Trần Văn Dũng (Vinh), 5 tác giả đạt giải 3 thuộc các giáo phận Sài-Gòn, Bắc Ninh, Nha Trang, Vinh và Qui Nhơn. Ngoài ra còn có 14 tác phẩm đạt giải triển vọng.


Trong huấn từ đúc kết lễ trao giải và cuộc họp mặt, Đức Giám mục Qui Nhơn hướng đến viễn cảnh năm thánh 2018 mừng kỷ niệm 400 năm Tin Mừng đến với giáo phận Qui Nhơn và nhu cầu đào tạo người cho công cuộc truyền giáo. Hai giải văn thơ cho người lớn và thiếu niên nhi đồng được tổ chức liên tục hằng năm với mục đích ấy và đã có những kết quả ban đầu đáng mừng, cần được tiếp tục. Đức cha cám ơn các tác giả khắp nơi, cách riêng là những vị cao niên giàu kinh nghiệm đã vì mối trăn trở cho mục vụ văn hóa mà vượt đường xa về họp mặt. Qui Nhơn, quê hương tinh thần của Hàn Mạc Tử, luôn mở rộng cánh cửa. Ước mong mỗi năm lại được đón chào các tác giả về họp mặt nhân kỷ niệm sinh nhật của nhà thơ. (Hết dẫn)


Kết


Sau đó, tôi nhận thấy có những cuộc chia tay diễn ra giữa một hai người với nhau, cũng như giữa những người của giáo phận này với những người của giáo phận kia. Một khung cảnh thân tình và huynh đệ giữa những người cầm bút Công giáo hôm nay.Tại phòng ngủ, một số người biết chúng tôi ngày hôm sau sẽ về sớm, nên họ cũng đến bên giường nói chuyện và chào, trong lúc chúng tôi thu xếp “hành trang”.Trước đó, tôi cũng đến chỗ cha Trăng Thập Tự và một nhà thơ ở Qui Nhơn để chào tạm biệt. Vì sáng ngày hôm sau, mấy người chúng tôi ở Sài-Gòn đi xe lửa ra đây, thì cũng đi xe lửa về vào lúc 4giờ sáng. Tàu không dừng lại ga Qui Nhơn vào giờ này, nên chúng tôi phài đi taxi ra ga Diêu Trì, để về .Vì thế, chúng tôi phải hẹn với taxi đến đón chúng tôi lúc 3giờ sáng. Rời chủng viện Qui Nhơn vào giờ này cũng là một việc chẳng đặng đừng, vì cha Trăng Thập Tự sẽ phải thức dậy sớm để mở cổng bên Tòa giám mục cho chúng tôi. Ngài cũng đứng đợi taxi như chúng tôi. Thấy vậy, mấy lần tôi xin ngài về nghỉ, nhưng Ngài bảo vì có những giây phút như thế này nên mới tâm sự với nhau được vài câu, còn trong hai ngày vừa qua thì bận quá.


Về Sài-Gòn được mấy ngày thì hôm 22-9, tôi nhận được email của cha Trăng Thập Tự gửi cho tôi kết quả Giải Viết Văn Đường Trường lần thứ III-2015. Trong đó có bài của Tâm An tôi mượn ghi trên đây và bài thơ của Mạc Tường, có tựa đề Mùa Gieo Hạt.Tôi mạn phép tác giả đưa vào bút ký này, như thêm mắm thêm muối và như một lời kết thứ hai.


MÙA GIEO HẠT


Ngước mắt trông lên, Chúa ơi! Muốn khóc

Tuổi sáu mươi mừng như trẻ được quà

Tứ thơ chưa tròn, mai lại chia xa

Những dòng lệ ngược vào cay sống mũi


Mai em về Cần Thơ, về phố núi

Chắc còn vương câu ví dặm thành Vinh

Hay nặng lòng làn quan họ Bắc Ninh

Một sớm một chiều, chưa mưa đã thấm


Hà Nội mùa này thu về thấm đẫm

Ngơ ngác, Qui Nhơn chẳng thấy thu vàng

Chỉ thấy lòng người chung một mùa sang

Mùa gieo hạt, ngát thơm mùi mực mới


Từ Sài Gòn, anh âu lo thăm hỏi

Nghe nói Qui Nhơn bão sắp đổ về

Chỉ những con người chung một tình quê

Chung một Chúa mới thương nhau đến vậy


Huế, Nha Trang đường chẳng xa là mấy

Đà Nẵng, Ban Mê rong ruổi bụi mù

Tiếng ai cười nghe rung lá mùa thu

Tập sách mới, ký tặng người vừa gặp


Ôi! Lạy Chúa, có phải người vừa thắp

Ngọn lửa yêu thương, ngọn lửa từ nguồn

Trong tâm hồn nhỏ bé mỗi chúng con

Kịp tỏa sáng, chờ ngày mai lúa chín.


Mạc Tường



@.Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 18.10.2015.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004