Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
tranh sơn dầu của Josette Marrel (Pháp)



ÁN TREO





         Chương 6 : ĐẾN VỚI MỎ



Khi Công trường Kiến thiết Điện Việt trì hoàn thành, Kiên được chuyển về làm nhân viên kế toán Công trường Văn phòng Bộ ở Hà Nội để theo dõi ghi chép hạch toán chi phí sửa chữa khu nhà tập thể 1 Đặng Thái Thân, 72 Lý Thường Kiệt, 2 F Quang Trung…Rồi công trường Mở rộng trường Trung Cao Cơ Điện cây số 7 Hà Nội – Hà Đông.


Vì là một Đảng viên trẻ nên được cấu tạo vào Ban chấp hành chi đoàn làm Phó Bí thư…Lúc này Bình đang làm kế toán cho công trường nhà máy Phân Lân Văn Điển.


Mọi người biết tình yêu của Tự Bình đã kết thúc trong bối cảnh không suôn sẻ, đứt gánh giữa đường. Bạn bè cùng trang lứa , những chàng trai chưa vợ

đều có ý bằng cách này cách khác lao vào để tiếp cận Bình. Trong đó có cả một số bạn bè của Kiên. Nhưng đều bị Bình khước từ một cách khéo léo.


Về phần Kiên đã có đôi lần Kiên chủ động ngỏ ý là xin được thay thế Tự để đến với Bình, Bình đã hỏi Kiên : Có nên như thế không nhỉ? Kiên biết trong nội tâm Bình, coi Kiên là một người đàn ông đứng đắn đáng mến. Bình đã thật thà nói với Kiên là hãy tạm gác cái chuyện ấy lại đã vì nó thế nào ấy, Bình đã cười và cho rằng đó là một việc làm tỏ ra hơi bất nhẫn với Kiên.


Những ngày nghỉ hoặc chủ nhật, Kiên vẫn nhẩy tàu điện từ Cầu Mới vào trung tâm thành phố. Hai người rủ nhau đi thăm nhà bảo tàng, phòng triển lãm, đi ăn kem Tràng Tiền, rủ nhau đi Quán Gió Công viên Thống Nhất. Kiên biết người đột phá khẩu đầu tiên đến với Bình là Khiêm một sinh viên trường Trung Cao Cơ Điện, có bà chị là Thoan bạn thân với Bình, nhưng Bình không nhận lời. Người thứ hai đến với Bình là Đãng cùng nghề cùng nghiệp với nhau cùng làm với nhau ở nhà máy Phân Lân. Nghe nói Đãng được Bình mời đến nhà Bình chơi và được cả nhà khen nhanh nhẹn, tháo vát, ăn nói có duyên giao tiếp được .


Gia đình Bình thuộc thành phần viên chức nghèo, bố mẹ Bình đều làm ở cơ quan Văn phòng Tổng cục Đường sắt … Bình có 5 người em trai.Cả 5 anh em đều có chữ đệm là Thiện : Nguyễn Thiện Chuân, Nguyễn Thiên Hạp, Nguyễn Thiện Thuần, Nguyễn Thiên Thăng , Nguyễn Thiện Long, Gia tộc Nguyễn Thiện chính gốc ở Tân Tiến Bình Lục Hà Nam.


Ông bố là Nguyễn Thiện Chữ, nguyên là thư ký Ga Hàng Cỏ, làm trưởng phòng Hành chính Tổng Cục Đường Sắt, là người cùng với Tạ Đình Đề được tham gia công tác tổ chúc Hội nghị Bộ trưởng Đường sắt các nước Xã hội chủ nghĩa tại Hà nội .


Ki ên được biết ông Tạ đình Đề qua lời kể của ông bố vợ tương lai, Tạ đình Đề  còn có tên là  Lâm Giang sinh   tại  Hà Tây  . Quê thôn Đạo Định, xã Tam Hưng, Thanh Oai Hà Nội.

Gia đình nghèo, nên 16 tuổi  Tạ Đình Đề  đã lang bạt sang làm Công nhân Sở Hỏa xa  Vân Nam  tại Ga  Côn Minh,   Trung Quốc. Trong thời gian đó, Ông tham gia Hội Ái hữu Cứu quốc sau đổi thành Việt Nam Giải phóng Cứu quốc do Mặt trận Việt Minh tổ chức. Ông được đào tạo thành Gián điệp và tốt nghiệp tại Trường Quân sự  Hoàng Phố  (Trung Quốc) với Tấm Bằng Xuất sắc .

Ông tham gia các hoạt động vũ trang và được Việt Minh phân công hoạt động tình báo cùng Phái bộ  Mỹ  trong Phe Đồng minh chống phát xít  Nhật . Sau Giải phóng  Thủ đô, rời quân ngũ Ông về công tác tại Tổng Cục Đường sắt Việt Nam cho đến lúc nghỉ hưu . Ông là người trực tiếp lãnh đạo và xây dựng phong trào Thể dục Thể thao và Văn hóa Văn nghệ ngành Đường sắt Việt Nam .

Đội Bóng đá Tổng Cục Đường sắt nổi danh một thời cũng là do công sức đóng góp rất lớn của Ông; Đội Văn công Đường sắt cũng nổi danh một thời với những Văn nghệ sỹ tên tuổi như  Lưu Quang Vũ,   Phan Lạc Hoa,   Trọng Nghĩa,...

Ông đã xây dựng và góp phần đưa Xưởng Dụng cụ Cao su Tổng Cục Đường sắt trở thành một Doanh nghiệp lớn có nhiều sản phẩm xuất khẩu ra nước ngoài ngay từ khi còn chiến tranh và thời kỳ bao cấp.

Tạ Đình Đề bị bắt lần thứ nhất.Bị giam cứu hai năm để điều tra.Tòa án Nhân dân Thành phố HàNội mở phiên tòa xét xử Tạ Đình Đề với tội danh tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa. Qua 6 ngày xét xử, Tòa tuyên "Tha bổng".

Tạ Đình Đề lại bị bắt lần thứ hai. Tòa án Nhân dân Thành phố Hà Nội mở phiên tòa xét xử Tạ Đình Đề với 34 tội danh. Kết quả Tòa không luận được tội trạng và tuyên là Tạ Đình Đề không phạm tội.Ông được trả tự do ngay tại Tòa.

Ông đã tạo dựng cơ nghiệp mới cho Xưởng Dụng cụ Cao su Đường sắt trên bãi trống Láng Hạ. Trên mảnh đất này nhiều công nhân Đường sắt đã được chia đất làm nhà ở.

Tại Xưởng Dụng cụ Cao su Đường sắt ông đã có nhiều quyết định táo bạo: áp dụng hình thức khoán sản phẩm, khoán công việc đến từng người, từng tổ và trả lương theo sản phẩm, thực hiện thưởng lương tháng 13 để công nhân có tiền ăn Tết. Công nhân được đưa đón bằng xe ô tô và ăn giữa ca không mất tiền...

Vợt Bóng bàn duy nhất made in  Vietnam  sản xuất tại Xưởng Dụng cụ Cao su Đường sắt của ông  Tạ Đình Đề  xuất khẩu đi 9 nước XHCN ở Đông Âu.

Xung quanh Tạ Đình Đề có rất nhiều giai thoại, huyền thoại, ai hỏi thì ông bảo: "Ối giời ơi, chúng nó bịa ấy mà", rồi ông cười ngặt nghẽo: "Làm gì có chuyện đó. Chuyện về tớ cũng như chuyện về Bút Tre"  .

Cha là Cụ Tạ Đình Ky, Mẹ là Cụ Lê Thị Duyên (còn gọi là Bà Phó Ỳ); Ông có sáu anh em ruột. Người anh Tạ Đình Thái là Liệt sỹ Chống  Pháp   từ năm  1950, người chị Tạ Thị Ào là  Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Phu nhân của Ông là Bà Đặng Thị Thọ con Cụ Đặng Thị Huyền tức Nhà Tư sản Nghĩa Tường giàu có tiếng ở số 8 Hàng Ngang, Hà Nội.

Ông tư duy và sống dựa trên suy nghĩ của mình và lẽ phải, chứ không dựa vào quy định và cơ chế của Nhà nước. Sai lầm trong quản lý của Tạ Đình Đề  xuất phát từ việc đó, dẫu sao Ông cũng là một người đáng kính trọng. Trong số những người được Ông cưu mang có  Lưu Quang Vũ    Phan Lạc Hoa  khi đó còn là những nghệ sỹ thất cơ lỡ vận. Sau này,  Phan Lạc Hoa  đã sáng tác ca khúc nổi tiếng "Tàu anh qua núi", trở thành "Ngành ca" của Đường sắt Việt Nam. Còn trong vở kịch "Tôi và Chúng ta" nổi tiếng,  Lưu Quang Vũ  đã lấy nguyên mẫu và chất liệu từ  Tạ Đình Đề  và Xưởng Dụng cụ Cao su Đường sắt  . Có mấy thơ  Bút Tre nói về Ông :

"Hoan hô đồng chí  Võ Nguyên,

Giáp   ta thắng trận  Điện Biên  trở về;

Hoan hô anh Tạ Đình Đề

Trước là mật thám nay về với ta.

Kiên đã cùng Bình được vào Hội trường Ba đình xem chương trình Văn nghệ Chào mừng thành công hội nghị Bộ Trưởng Đường Sắt các nước XNCH. Kiên được nghe Nghệ sĩ Trần Hiếu hát bài Con Vỏi Con Voi .


Mẹ là Trần Thị Vân làm lao công ở Văn Phòng Tổng Cục.

Bình là chị cả. Thăng và Long là hai người em vợ để lại cho Kiên nhiều kỷ niệm nhất. Khi Kiên bị nạn, phải vào trại để thẩm vấn điều tra, Lúc đó Thăng đang là Đại Úy Công An, đã bỏ công từ Hà nội xuống thăm hỏi Kiên. Thường xuyên mua báo chí cho Kiên xem.Vợ Thăng làm ở Công ty Chất Đốt , có lẽ cũng là một trong những người phụ nữ Kiên quý mến vì đức tính chân thành cởi mở dễ gần và biết điều. Khi Thăng giữ hàm thượng tá công an thì đến tuổi về hưu. Thăng có hai người con một trai một gái.


Long trước đây đã đi lao động ở Bun ga ri, sau đó về nước vào làm ở Đài Phát Thanh Tiếng nói Việt Nam, bây giờ có một Sa lông ô tô tại Hà Nội. Vợ làm bên ngành giáo dục, có hai cô con gái .


Kiên đã cùng Long đi vào rừng Vàng danh cả một ngày để tìm phong lan rừng và cây cảnh. Khi Kiên về Hà Nội công tác Thăng, Long thường dẫn Kiên đi xem phim, và uống cà phê, bún phở với nhau.


Thuần cũng từng được đi Liên Xô để học lái máy bay chiến đâu, nhưng rồi phải về vì cái răng sâu, về nước đi học tổng hợp sử, ngành lưu trũ, sau đó về .công tác ở Bộ Xây dựng. Vợ làm ngành Dược. có một con trai.


Gia đình Nguyễn Thiện còn có Nguyễn Thiên Lăng đã nhiều năm công tác trên đất nước Lào, với trách nhiệm Trưởng Ban Phân Xã Thông tấn xã Việt Nam tai Viên Chăn. Nguyễn Thiện Chuân là Ký sư Máy Kéo. Là Sinh viên- khóa 8 Khoa Cơ Khí Nông Nghiệp, Vợ Chuân là cán bộ kiểm nghiệm nhà máy thuốc lá Thăng Long . Chuân có 3 người con , hai gái và một trai.


Nguyễn Thiên Hạp là em Chuân, sinh năm bính Tuất, học xong phổ thông anh vào ngành giao thông vận tải. Lúc đầu làm việc ở Cục Cơ Khí, sau về xưởng đóng tàu Hải Phòng. Sau ông được Bộ Giao Thông Vân Tải cho đi học Liên Xô hai năm.. Về nước làm ở công ty quá cảnh số 1, rồi chuyển sang đơn vị quá cảnh 69, làm nhiệm vụ chuyển giao : Lương thực, thực phẩm, đường, sữa, thuốc men y tế… cho nhân dân vùng Bắc Lào .Năm 1984 Hạp đã được nhà nước Lào tặng Huân chương Tự Do hạng nhất vì có công giúp đỡ nhân Lào trong công cuộc giải phóng đất nước. Vợ là cán bộ Kế toán của Bộ Xây dựng, là người hướng dẫn Kiên bói Bài Tây. Sau này khi đến thăm Kiên bao giờ cũng có gói Cà Phê làm quà. Hạp có hai người con trai.


Buổi sáng Bình đi học, chiều về đi bán thuốc lá rạo hoặc ra ngồi trước rạp chiếu bóng Công Nhân để bán thuốc lá , kẹo, lạc rang. Đôi khi Bình cũng nhẩy tàu sang Yên Viên hoặc Gia Lâm để bán xôi, bánh trưng, bánh dày dò…để tăng thu nhập cho gia đình.


Hôm ấy trời se se lạnh, Kiên ra đứng ở hành lang tầng 2 khu nhà tập thể 1 Đặng Thái Thân, ngâm bài thơ Ghen của Nguyễn Bính : “Cô nhân tình bé của tôi ơi- Tôi muốn môi cô chỉ mỉm cười- những lúc có tôi và mắt chỉ- nhìn tôi những lúc tôi xa xôi- Tôi muốn cô đừng nghĩ đến ai … thì Chuân em Bình đến đứng dưới sân nói với lên với Kiên : “ U bảo anh đến U bảo gì ấy!” Kiên biết là nói chuyện gì rồi, nên đi xuống cầu thang, nói với Chuân : “Chuân về bảo U là Anh không có ở nhà!” Nói dối được một hôm.


Hôm sau Kiên phải đến. Bố Bình vào đề trước : Tình hình của cô cậu đến đâu rồi? Kiên cười thưa : Bình chỉ chấp nhận cháu là bạn thân thôi, Bình ngại cho rằng như thế là hơi bất nhẫn với cháu…Bố Bình cười : Đúng là trẻ con, sao lại bất nhẫn, thời buổi này tự do tìm hiểu, hợp nhau thì yêu, quá trình yêu thấy không hợp thì cắt chọn tìm người khác…


Nhưng bác hỏi thật cháu, cháu có yêu Bình không đã? Kiên đã thật thà : Cháu thì cũng muốn thay thế Tự, muốn sửa lỗi cho Tự…Nhưng xem ra Bình còn đang cân nhắc tính toán chưa quyết.


Bố Bình cười : Sỡ dĩ hôm nay Bác bảo cháu đến là tin cho cháu biết, Bộ Công Nghiệp nặng đang kêu gọi thanh niên đi vùng mỏ để khôi phục xây dựng, Bình đã ghi tên đi Mỏ rồi, mặc dù hai Bác có khuyên can nó là con gái, không nên đi ra vùng Mỏ xa xôi quá, nhưng nó không nghe, hình như nó cầm quyết định rồi…Bác có ý định làm bữa cơm thân mật mời bạn bè của Bình đến vui chia tay với nó….Một tin hơi đột ngột với Kiên. Tuy nhiên Kiên vẫn vui vẻ nhận lời và nói : “ Thế mà Bình không nói gì với cháu”… “Bác bảo là bảo Kiên nó đến cho vui, nhưng nó bảo sợ anh ấy không đến!


Sau bữa liên hoan chia tay hôm ấy, một tuần sau Bình đã va ly khăn gói lên đường ra Vùng Mỏ… Ba tháng sau, Kiên đã nhận được thư của Bình . Lá thư của Bình viết cho Kiên như sau : “ Kiên thân ! Thế là Bình đã xa Hà Nội 3 tháng lẻ hai ngày rồi, vì là Công trường mới hình thành nên còn rất ít người và đầy rẫy khó khăn trong sinh hoạt và làm việc… Hầu hết nhà cửa là tranh tre nứa lá… Đến đây mới biết Gió Vàng Danh như thế nào, nó gầm rít và xoáy lốc kinh hoàng…Chắc Kiên vẫn nghe người ta nói : Ruồi vàng, Bọ chó, gió Vàng Danh rồi chứ. Bây giờ Ruồi Vàng, Bọ Chó thì không có nữa, nhưng Gió thì vẫn còn. Ngày ở đây đến rất muộn, 8,9 giờ mặt trời mới ló rạng, vì núi cao nó bao bọc cả thung lũng. Nghe tin Kiên cũng ghi tên xung phong đi xây dựng vùng Mỏ phải không? Bình đang mong Kiên đến đấy. Tiện hôm nay Bình cũng đề cập đến chuyện Kiên lần trước nói với Bình, thế này Kiên ạ, sau những ngày suy nghĩ giằng xé tâm tư Bình đã đi đến quyết định là nhận lời cầu hôn của Kiên…Kiên có còn giữ lời cầu hôn hay không …bây giờ thuộc quyền Kiên quyết định…


Vào những ngày cuối tháng 11 của năm đó, Kiên chia tay với bạn bè ở Công trường Mở rộng Trường Trung Cao Cơ Điện xách va ly đi đến với Mỏ. Kiên đã ra bến xe Long Biên xếp hàng mua vé về Uông Bí…


Thị xã Uông Bí lúc đó mới có 4 phường:  Bắc Sơn,   Quang Trung,   Thanh Sơn,   Trưng Vương; thị trấn Vàng Danh  và 5 xã: Đồng Tiến,  Nam Khê,   Phương Đông,   Phương Nam,   Thượng Yên Công.


Trước lúc lên đường đến với Mỏ, Kiên đã được nghe những huyền thoại lãng mạn về vùng Mỏ thật cuốn hút lòng người, càng muốn đi nhanh đến Mỏ để biết Mỏ như thế nào : Nghe câu hát : “ Mỗi khi lò thủng đón cơn gió nồm nam mát rượi” trong bài ca “ Tôi là người thợ lò của Nhạc sĩ Hoàng Vân càng tăng trí tò mò của Kiên: Lò thủng là sao? Rồi bài : “Khi chúng tôi vào lò của Nhạc sĩ Trần Chung : “Khi chúng tôi vào lò, trăng về khuya chờ đợi/ Khi chúng tôi vào lò, sương dần buông đầu núi/Khi chúng tôi vào lò, những vì sao mờ dần/Khi chúng tôi vào lò,Ánh bình minh rạng rỡ…/ Khi chúng tôi vào lò, thấy ngày mai gần lại/Khi chúng tôi vào lò, thấy càng yêu cuộc sống” Ôi, những ca từ : “ Vững thêm bước, chân đi vào lò”, “ Khơi dòng suối than cho Tổ quốc đẹp giầu…” sao mà tự hào cho người thợ lò đến thế.


Thị xã Uông Bí lúc đó thật buồn tẻ, nhà ca lèo tèo mấy cái, đường xá thì lở loét ổ trâu ổ gà đầy bụi. Kiên hỏi phương tiện đi Vàng Danh. Người dân nói:

Cậu cứ ra đứng ở cổng công trường Nhà máy Điện, đợi ô tô công trường mỏ chở vật liệu, xin đi nhờ.


Đến Công trường, Kiên đã gặp Đãng cũng vừa đến với Bình hôm qua. Kiên đã nghĩ ngay đến việc Bình có thể nhận lời yêu Đãng rồi chăng? Chỉ nghĩ vậy thôi Kiên không đả động gì đến chuyện yêu đương của nhau .


Trong những bữa cơm Công Trường 3 người đều ngồi cùng mâm do Bình bưng bê.. Bữa cuối cùng Bình kéo cả hai người ra cửa hàng ăn Mậu dịch gọi là liên hoan với nhau để Đãng rời đất Mỏ. Trong bữa ăn Bình đã chính thức tuyên bố với hai chàng Sơn Tinh, Thủy Tinh – Bình đã gọi họ như vậy, Kiên là Sơn Tinh, Đãng là Thủy Tinh- Bình nói : Xin chính thức nói với cả hai người là mình đã nhận lời cầu hôn của Kiên, Bình mong Đãng chúc mừng hạnh phúc cho chúng mình …


Đãng im lặng rồi kín đáo thở dài và cười : Mình cũng biết như thế mà. Bao giờ cưới cho mình biết nhé . Rồi Đãng nói, về đây mình muốn đi thăm Vịnh Hạ Long cho biết, nhưng bây giờ thì không thực hiện được, để khi khác vậy.


Nghe thế Kiên cũng thấy buồn và thông cảm . Kiên đã kể về Vịnh Hạ Long cho Đãng Bình cùng nghe : Vịnh Hạ Long có từ xa xưa do kiến tạo địa chất. Trong tâm thức của người Việt với trí tưởng tượng và ý niệm về cội nguồn  con Rồng cháu Tiên .


Truyền thuyết  cho rằng khi  người Việt  mới lập nước đã bị giặc ngoại xâm,  Ngọc Hoàng sai Rồng Mẹ mang theo một đàn  Rồng   Con xuống hạ giới giúp người Việt đánh giặc. Thuyền  giặc   từ ngoài biển ào ạt tiến vào bờ vừa lúc đàn Rồng tới hạ giới. Đàn Rồng lập tức phun ra lửa thiêu cháy thuyền giặc, nhả Châu Ngọc dựng thành bức tường đá sừng sững làm cho thuyền giặc đâm phải mà vỡ tan, chặn đứng bước tiến của ngoại bang.Sau khi giặc tan, thấy cảnh mặt đất thanh bình, cây cối tươi tốt, con người nơi đây lại cần cù, chịu khó, đoàn kết giúp đỡ nhau, Rồng Mẹ và Rồng Con không trở về trời mà ở lại hạ giới, nơi vừa diễn ra trận chiến để muôn đời bảo vệ con dân Đại Việt. Vị trí Rồng Mẹ đáp xuống là Hạ Long; nơi Rồng Con đáp xuống là Bái Tử Long và đuôi đàn rồng quẫy nước trắng xoá là Bạch Long Vĩ (bán đảo Trà Cổ, với bãi cát dài ).


Còn núi Bài Thơ , Núi Bài Thơ là ngọn núi đá vôi đẹp thuộc tỉnh Quảng Ninh. Trên núi này còn lưu lại các bài thơ chữ Hán của Lê Thánh Tông khắc trên đá năm 1468, và của Trịnh Cương năm1729. Các bài thơ này đã đem lại tên gọi cho núi.Đỉnh cao nhất của núi có hình ngọn mác chĩa lên trời, phía dưới có nhiều ngọn, nhiều mỏm chông chênh, vách đá dựng đứng, những lèn đá tai mèo nhọn hoắt làm cho núi có một vẻ cổ kính, huyền bí.Từ nhiều góc độ người ta nhìn thấy núi có lúc dáng như hổ phục, lúc có dáng như sư tử vờn mồi, lúc có dáng như con rồng sắp cất cánh.


Núi Bài Thơ thuở xưa có tên  núi Rọi Đèn, tên chữ là  Truyền Đăng Sơn. Tương truyền rằng, ngày xưa lính thú gác trên núi hễ có giặc giã đến thì đốt lửa báo về kinh thành. Từ đó xuất hiện tên núi Truyền Đăng.


Năm   1468 , vào dịp mùa xuân, năm Quang Thuận thứ 9, đời vua Lê Thánh Tông, cháu nội của  Lê Lợi, đưa quân đi tuần ở vùng biển Đông Bắc, có dừng thuyền ở chân núi Truyền Đăng, phía giáp với Vịnh Hạ Long, để uống rượu ngâm thơ. Xúc động trước cảnh đẹp sơn thủy hữu tình của thiên nhiên, nhà thơ - nhà vua Lê Thánh Tông đã cho khắc một bài thơ lên vách đá tạm dịch ý như sau:


Nước lớn mênh mông, trăm sông chầu vào

Núi non, la liệt rải rác như quân cờ, vách đá liền trời

Có tráng trí, nhưng lúc mới dựng nghiệp vẫn theo người, như quẻ

Hàm hào cửu tam  (đã định)

Nay một tay mặc sức tung hoành, quyền uy như thần gió

Phía bắc, bọn giặc giã như hùm beo đã dẹp yên

Vùng biển phía đông, khói chiến tranh đã tắt

Muôn thuở trời Nam, non sông bền vững

Bây giờ chính là lúc giảm việc võ, tu sửa việc văn.


261 năm sau, vào năm 1729 chúa An Đô Vương Trịnh Cương, một nhà thơ có tiếng thời Lê - Trịnh, cũng đem quân đi tuần qua đây. Ông cho đóng quân đồn trú dưới chân núi Truyền Đăng. Đọc thấy bài thơ của vua Lê Thánh Tông, chúa Trịnh bèn họa lại bằng một bài thất ngôn bát cú, lấy theo vần "yên" của bài trước, dùng lại 4 chữ "thiên" "quyền" "yêu" "niên" trong bài của Lê Thánh Tông. Bản dịch của Hà Minh bài thơ họa của Trịnh Cương:


Biển rộng mênh mang, nước dâng đầy

Núi chìm xuống nước, nước tràn mây

Bàn tay tạo hóa sao khéo dựng

Cảnh đẹp thần tiên một chốn này.

Mùi tanh giặc thác còn đâu đó

Cỏ hoa sương khói vẫn còn đây

Ba quân tướng sĩ đều vui vẻ

Bữa tiệc biển khơi chén rượu đầy.


Thế là Kiên chính thức là người của Vùng Mỏ. Kiên đã đọc tiểu thuyết Vùng Mỏ của Võ Huy Tâm. Sau này Kiên mới biết Nhà Văn Võ Huy Tâm sinh năm 1926. Quê ở Nam Định, nhưng cả cuộc đời mình ông gắn bó với vùng mỏ, với những người thợ mỏ. Từ một người thợ mỏ, một cán bộ công đoàn hoạt động ở vùng địch hậu thời kháng chiến chống Pháp.


Vùng mỏ là tiểu thuyết đầu tay của Võ Huy Tâm đã được tặng giải nhất Giải thưởng văn nghệ của Hội Văn nghệ Việt Nam năm 1952. Ông viết Vùng mỏ từ tháng 8-1949 đến 31-1-1951 thì xong; phần đầu viết ở Cẩm Phả, phần cuối viết ở chiến khu Việt Bắc. Khi viết Võ Huy Tâm chưa giỏi về ngữ pháp, về từ loại. Do vậy, khi viết thấy cần ngắt thì ông đặt dấu phẩy, dứt mạch thì đặt dấu chấm, mỗi khi muốn cho câu mềm đi thì thêm các từ thì, là, mà vào...


Vốn là một cán bộ hoạt động công đoàn, đọc các bài báo viết về vùng mỏ khi ấy, Võ Huy Tâm thấy không thỏa mãn, ông nảy ra ý định viết hẳn một cuốn truyện dài về cuộc đấu tranh của công nhân, dự định đặt tên là Đình công. Trước đó Võ Huy Tâm đã được đọc Tam quốc diễn nghĩa (và ông rất mê!) nên lúc đầu ông định viết theo kiểu chương hồi, nhưng vì không biết làm những câu thơ mở đầu, kết thúc một hồi theo kiểu tiểu thuyết Tàu, nên mới chuyển sang hình thức như ta biết hiện nay. Đình công được nhiều nhà văn, nhà thơ nổi tiếng đọc, góp ý, sửa chữa, rồi được giải thưởng và in đi in lại nhiều lần với tên gọi Vùng mỏ.


Nhà văn Trần Bảo Hưng có tâm sự như thế này : Thuở nhỏ từng được học Vùng mỏ, sau này trong công tác lại có dịp gần gũi Võ Huy Tâm, tôi hỏi về kỷ niệm sâu sắc nhất của ông với Vùng mỏ, ông bảo: "Nhờ nhà trường giảng dạy Vùng mỏ mà nhiều người biết đến tên tôi. Đi tới đâu tôi cũng không lo chỗ nghỉ trọ, nhất là đến các trường cấp 2, cấp 3. Các thày, các cô giáo rất nhiệt tình, chỉ phải một nỗi là đều nghèo, nên mặc dù rất quý khách, đôi khi tôi cũng chỉ được tiếp bằng nước đun sôi để nguội...".


... còn tiếp ...


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ Uông Bí ngày 25.9.2015.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004