Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




ĐI PHÉP





M ùa thu năm 1967 tôi được về thăm gia đình mười ngày trước khi vào học trường chính trị trung cao cấp ở thủ đô Hà Nội. Tính từ ngày vào mở đường Trường Sơn đến nay tròn bảy năm xa gia đình. Cầm quyết định đi học, và giấy nghỉ phép vui trào nước mắt, hạnh phúc đến không ngờ. Thực lòng tôi chỉ mong hết giặc về quê cày cuốc nuôi mẹ, nuôi con; chăm sóc mồ mả tổ tiên bao phen bom đạn cày xới, yên thân người sống và người dưới mộ là mãm nguyện rồi!

Đêm ấy, ở nhà khách binh trạm thi thoảng tôi lại đem giấy phép ra xem, đọc lại nhiều lần giấy gọi nhập trường lòng bồn chồn không sao ngủ được. Bảy năm không một lá thư nhà, tôi luôn khắc khoải nhớ gia đình...

Từ miền Đông Nam Bộ, leo đèo lội suối theo đường giao liên, ngày đi đêm nghỉ, bom đạn dọc đường, hơn một tháng ra đến làng Ho - tỉnh Quảng Bình. Từ đây đi ô tô ra Nghệ An, lên tầu về Thanh Hóa quê tôi. Xuống ga Đò Lèn lúc hai giờ sáng, từ đây về nhà khoảng ba mươi cây số đi đường tắt. Tôi cuốc bộ luôn trong đêm nhập nhòa pháo sáng, băng qua truông rậm men theo đường mòn chân núi mà đi. Với tôi đường rừng, bóng đêm, bom đạn đã quen. Vả lại, cứ mường tượng khi gặp mẹ già, vợ con, làng xóm... như có người nâng bước chân chạy thi với thời gian chẳng quản dặm dài.

Đi được mươi cây số nghe tiếng người rên, tôi dấn bước đến nơi thấy hai người đàn ông đang dìu nhau, đòn cáng buộc vào khung hai chiếc xe đạp dựng bên lề đường. Một phụ nữ trên võng đang trở dạ không ngớt kêu, rên... đau đớn, quằn quại.

- Có chuyện gì thế các bác, tôi soi đèn pin hỏi.

-Hai anh em tôi đưa cháu đến trạm xá, vừa đi được một thôi đường thì chú em trượt chân xuống hố bom, bị bong gân không đi được nữa. Người đàn ông có mái tóc muối tiêu phân trần.

- Trạm xá cách đây xa không bác, tôi hỏi.

- Chừng ba cây số nữa chú ạ. Tôi nghĩ, đây là ka đẻ khó, hoặc sinh con lần đầu, nên sản phụ đau đớn vật vã tội nghiệp lắm. Nhớ lời mẹ nói: “ Không đau đớn nào bằng đau đẻ!” Phải giúp họ một tay!

- Thôi, bác này đau chân lên xe ngồi ôm cọc thồ để tôi đẩy, bác kia biết đường, đi trước. Nào, ta đi kẻo trời sáng, máy bay địch phát hiện thêm khó!

- Liệu có ổn không, chú đang trên đường công vụ, làm trễ việc quân trong thời chiến thì sao, người anh phân vân...Thôi, cảm ơn chú. Để tôi đạp xe quay về nhà gọi người thay cũng được.

- Không sao đâu hai bác. Em về nghỉ phép, có công vụ gì đâu. Bác quay về gọi người thay, sợ sản phụ không chịu nổi, lỡ ra...

- Nhưng, chú đã đẩy xe thồ bao giờ chưa? Lại còn chú em tôi ngồi ôm cọc thồ trên xe chú nữa. Thồ nặng, đêm tối đường khó đi lắm.

- Em là lính xe thồ trên đường mòn Trường Sơn quen đèo dốc, cảnh dìu nhau khi ốm đau, lúc bị thương... hai bác cứ yên tâm!

- Được thế thì quý hóa quá. Cảm ơn chú nhiều lắm! Quên chưa giới thiệu với chú: Bác Vĩnh tóc muối tiêu là anh trai tôi; cháu Hương trong võng là con dâu anh Vĩnh. Tên tôi là Hòa. Chú tên gì, về đâu. Nghe giọng nói quen quen?

- Em tên là Đạo, người làng Cao, huyện Sông Mã, được đơn vị cho về thăm nhà mấy hôm.

- Vậy, anh em mình cùng huyện rồi. Đưa cháu vào bệnh xá, chú Đạo phải quay lại mấy cây số nữa đấy. Phúc cho gia đình tôi, lại thêm vất vả cho chú rồi!

- Không sao đâu bác. .

Ông Vĩnh đẩy cọc thồ lái xe đi trước, ông Hòa đau chân ngồi trên yên xe tôi ôm cọc thồ. Sau hơn một tiếng đồng hồ chúng tôi đưa cô Hương vào phòng hộ sản an toàn. Khi tôi quay ra đến ngõ trạm xá, nghe tiếng trẻ khóc xoe xóe. Có ai nói như reo: “ Thằng cu to lắm.” Lại thêm chú bộ đội tí hon. Cha bố mày mau lớn khôn mà đi đánh Mỹ với cha mày, đuổi chúng cút hết đi!

Trộm nghĩ: “ Phải mười tám năm sau, tức là năm: 1985, cháu bé vừa chào đời mới tiếp bước quân hành. Mỹ làm gì còn đến lúc đó! Thế mới biết dân tộc này bền gan nhất chí dành độc lập tự do đến mức nào!” Khi tác giả viết câu chuyện này cuộc chiến tranh chống Mỹ đã kết thúc vào ngày: 30- 4-1975. Những con số lịch sử nói lên quyết tâm đánh đuổi ngoại xâm của một dân tộc anh hùng thật tự hào.


Từ đây về nhà tôi quãng hơn hai mươi cây số. Nắng nóng, máy bay địch bắn phá dọc đường, mãi quá chiều mới về đến cổng làng. Đặt ba lô ngồi nghỉ dưới gốc đa cổ thụ mấy trăm năm tuổi, cành lá vươn xa mát rượi. Đây là nơi hẹn hò đôi lứa, nơi tiễn đưa người ra trận của bao thế hệ trong hai cuộc chiến tranh chống ngoại xâm. Là điểm nhấn trong ký ức bao người xa quê, đau đáu nhớ cổng làng và cây đa cổ kính này. Ngày 19-8-1945 trên ngọn đa, lá cờ Tổ quốc ngạo nghễ tung bay - nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời - Nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam!

Vừa lúc gặp bà con xã viên đi làm đồng về. Chủ yếu là nữ thanh niên, mười tám, đôi mươi và các chị, các mẹ. Gặp bà con trong làng tay bắt mặt mừng, họ hỏi tin tức thân nhân, tình hình chiến sự... Tôi không kịp trả lời hết các câu hỏi. Có cô bảo: Chị Nghĩa nhà anh đang về sau, anh đi đón chị ấy đi, để ba lô đây chúng em trông cho. Mấy o thanh nữ nói: Anh hôn chị ấy thật lâu vào thay chúng em nhé! Các cô gái cười vang, đấm lưng nhau thùm thụp...Mấy chị cùng lứa với vợ tôi phân trần: Các anh có đồng đội còn khuây khỏa, vợ các anh ở nhà thắc thỏm đợi chờ không biết chia sẻ cùng ai. Mỗi lần có người báo tử, cả làng buồn như nhà mình có tang. Nhất là chị em có chồng, con ngoài mặt trận nhiều đêm ôm chăn, gối khóc thầm cứ nơm nớp liệu chồng, con mình có được bình an?

Có tiếng con gái nhí nhảnh gọi: Anh Đạo ơi, lại hôn vợ một cái sốt dẻo đã này. Sướng nhé! Các cô thôn nữ lại cười vang…Vợ tôi chạy lại ôm chồng khóc nấc lên. Những giọt nước mắt hạnh phúc dồn nén lâu ngày chảy tràn trên vai áo tôi bên cổng làng, nơi chúng tôi từng hò hẹn. Cho đến giờ, tôi vẫn không quên hương tóc em thoảng mùi lá sen lót trong lòng nón thơm dịu, trộn với hương đồng gió núi. Mùi thơm từ mái tóc ấy, sau bảy năm đợi chờ đang phả hương vào hồn tôi ngây ngất dưới gốc đa bên cổng làng...

Về đến đầu ngõ, vợ tôi gọi:- Mẹ ơi, nhà con về rồi! Giọng em lạc hẳn đi vì quá xúc động. Mẹ tôi từ trong bếp khói mù mịt chạy vội ra, bà như không tin vào mắt mình, dừng lại vài giây định thần... Mình đang mơ hay sự thật? Tôi chạy lại nâng đôi bàn tay nhăn nheo của bà.

-Mẹ ơi, con về thăm mẹ đây! Mẹ tôi nói trong nước mắt:

- Ừ, thằng Đạo về thật rồi! Trời ơi, sao con xanh, gầy thế. Có bị thương chỗ nào không?

- Con chỉ bị sốt rét, vài hôm điều trị là ổn thôi, mẹ đừng buồn! Cho con ăn mấy bữa cơm gạo mới, canh cua đồng của mẹ, da săn lại ngay.

- Ừ, mẹ sẽ nấu những món con thích, phải bồi bổ cho chóng lại sức. Mẹ âu yếm nói, cười... mắt người nhòa lệ. Lòng tôi xúc động ngẹn ngào.

Vợ tôi vừa đi, vừa gọi con bé Thúy nấp trong buồng:

-Con ơi, bố Đạo về này. Mau ra chào bố đi! Khi tôi “đi B” cháu Thúy mới bốn tuổi, bây giờ nó đang học lớp năm. Từ nãy đến giờ Thúy núp trong buồng khóc thút thít, không biết vì mừng hay tủi, không ai nhắc đến mình...Tôi bế con gái hôn lên trán nó, âu yếm nói:

- Bố của con đây, bố nhớ thương con nhiều lắm! Con gái có nhớ bố không?

- Con nhớ bố lắm. Ngày nào con cũng thơm bố trong ảnh! Nghe con nói câu này sống mũi tôi cay cay... Tôi nhìn tấm ảnh phóng to để trên bàn học của con. Biết mình già nhanh quá. Vội ôm con vào lòng.

- Bố có quà cho con đây. Tôi đưa con búp bê biết “nháy” mắt cho con. Nó cầm búp bê ngắm nghía, nhoẻn miệng cười.

- Con có thích búp bê này không?

- Con mừng lắm. Nhưng không thích bằng em bé thật! Cả nhà cười rộ lên, vợ chồng tôi ngượng đỏ mặt... với các từ: “ em bé thật”


Trên bàn thờ gia tiên khói hương nghi ngút, mẹ khấn cha: “ Ông ơi! Thằng Đạo được về thăm nhà. Sống khôn chết thiêng ông phù hộ độ trì cho con chân cứng đá mềm thoát mũi tên, đầu đạn. Hết giặc về phụng dưỡng mẹ già, thờ cúng tổ tiên. Cầu trời, phật lần này tôi có cháu đích tôn! Nam mô a di đà Phật.”

Nội ngoại, bà con trong xóm kéo đến thăm mỗi lúc một đông, trò chuyện đến khuya chưa vãn. Ông đội trưởng sản xuất nhìn đồng hồ vui vẻ nói:

- Đã khuya rồi, mời bà con về nghỉ, mai còn việc đồng áng. Chúc vợ chồng chú Đạo hạnh phúc. Đợt phép này đẻ thêm thằng cu cho vui cửa vui nhà! Ông cười khà rồi xin phép các cụ ra về. Bà con, cô bác cũng ý tứ ra theo.

Vợ chồng tôi nằm bên nhau, cảm giác như đêm tân hôn lặp lại. Chúng tôi hàn huyên chuyện nhà, chuyện thầy mẹ hai bên gia đình nội ngoại, dự kiến những việc cần làm trong mười ngày phép, trước khi về thủ đô Hà Nội nhập trường. Trao nhau những nụ hôn khát vọng dâng hiến trong cuộc tình hiếm hoi này. Tôi như người khát trên hoang mạc. Em như giếng nước ngọt trong xanh tươi mát tràn trề...Cứ muốn đêm, ngày dài ra để tận hưởng mối tình đôi lứa. Mỗi ngày trôi đi tiếc vô cùng. Ý nghĩa thời gian chưa khi nào thấm thía như lúc này! Vợ chồng tôi tính từng ngày phép tranh thủ từng giờ hoàn thành công việc: Quy tập mồ mả các cụ nội, ngoại lại nơi cao ráo, sửa lại căn hầm chữ A, bện mũ rơm cho con gái đi học, buộc dây phơi thấp xuống cho vừa tầm tay mẹ mỗi khi phơi, vì lưng mẹ đã còng...


Khu mộ các cụ bên nhà vợ tôi gần trận địa pháo phòng không, bom đạn địch cày xới nham nhở. Gần sáng hôm đó mấy cha con ra chuyển các cụ đi nơi khác. Bố vợ đi trước phát cây, xới cỏ trên mộ. Một tiếng nổ chói óc. Chúng tôi chạy đến thấy ông nằm vật ra, tay vẫn cầm cuốc, máu từ ngực phun như vòi nước. Do vướng bom bi địch ném xuống trận địa pháo phòng không còn sót lại trong bụi cây.

Chúng tôi đưa ông về trạm xá cứu chữa, nhưng vết thương nặng, hai ngày sau ông qua đời.

Anh vợ tôi chiến đấu ở miền Nam. Nhà còn hai cô em vợ đang tuổi học đường. Vợ chồng tôi lo hậu sự cho bố vợ xong, chậm thời gian nhập trường mười ngày. Tôi quyết định trở về đơn vị chiến đấu.

Vợ tôi vừa nhuận sắc lại vài ngày hạnh phúc bên chồng, giờ gầy rạc vì nỗi đau mất cha, thương chồng lỡ bước học hành. Tôi biết, bỏ lỡ cơ hội quý này trong đời lính, khó có lần thứ hai! Chịu tang cha, lo mai táng bậc sinh thành là trách nhiệm không thể khước từ!

Khoác ba lô trở lại đơn vị lòng tôi nặng trĩu, thương mình, thương mẹ và vợ, con vô cùng! Khi tôi mười ba tuổi, cha tôi hi sinh ở Điện Biên Phủ. Ông nội xoa đầu tôi buồn rầu nói: “ Cháu vất vả đấy, cha chết sớm, học hành dở dang... Nhưng bằng mọi cách phải học, vô học bất thành người!” Tôi nghĩ, cuộc chiến tranh đang diễn biến ác liệt, với bao thử thách đòi người lính phải vượt lên chính mình, nhất là người chỉ huy. Mặt trận là trường học thực tiễn để khẳng định mình. Tôi hăm hở trở về đơn vị.

Đơn vị tôi giữ trọng điểm giao thông địch thường đánh phá ác liệt trên đường 20 quyết thắng. Do áp lực công việc không còn thời gian nghĩ đến gia đình, đành trút gánh nặng lên vai vợ và mẹ ở quê nhà.

Cuối năm 1969 tôi nhận được thư vợ, lá thư đầu tiên từ hậu phương đến chiến trường. Không thể nói hết vui mừng. Nét chữ quen thuộc của em trước mắt tôi cũng mềm mại, uyển chuyển như hình dáng em ngoài đời... Tôi bóc bì thư chậm rãi đọc:

Anh Đạo yêu quý! Ở nhà mẹ và em, hai con khỏe. Con Thúy đang học lớp sắu, Thằng Phúc học lớp một, các con ngoan và học giỏi. Tuy đời sống còn thiếu thốn nhiều, nhưng các con chăm ngoan em mừng lắm. Mong anh luôn khỏe, yên tâm công tác, nhớ gửi thư cho mẹ con em. Gửi anh nụ hôn từ quê mẹ! Nguyễn thị Nghĩa.”

Bây giờ tôi mới biết mình có thêm thằng Phúc. Tôi cứ đọc đi đọc lại cụm từ “hai con.” Vừa đọc vừa khóc. Khóc, vì hạnh phúc bất ngờ. Tôi không nghĩ vợ mình có thể sinh con trong một hoàn cảnh đau thương như vậy. Tôi đọc thuộc lòng thư của đứa con trai nét chữ non nớt: “ Bố ơi, hằng ngày chị Thúy bảo con học. Chị, em con đem ảnh bố ra xem cho đỡ nhớ. Mong bố khỏe, hết giặc về với các con! Lê quang Phúc.” Chắc vợ tôi, hoặc cháu Thúy đọc cho cu Phúc chép. Không gì vui sướng hơn khi nhận được thư nhà! Tôi đem thư khoe với bạn, nghĩ mừng về gia đình mình ở hậu phương, thêm vững vàng trong chiến đấu!

Năm 1978-1979 đơn vị tôi sang giúp Campuchia thoát cảnh diệt chủng, đến năm 1990 về nghỉ hưu. Tôi lại xuống ga Lèn, lên xe khách về nhà. Vừa ngồi vào ghế, ông khách ngồi bên vỗ đét vào đùi tôi nói như reo:

- Chú Đạo Phải không? Tôi chưa kịp trả lời, ông khách tiếp: Đúng chú Đạo rồi! Chú không nhận ra tôi sao? Hòa đây! Hòa em anh Vĩnh, đưa con cháu dâu đi trạm xá năm 1967 gặp tai nạn dọc đường, được chú giúp ấy...

- Anh Hòa! Trời ơi, em nhớ ra rồi! Anh già nhanh quá, tóc bạc trắng rồi kìa. Anh Vĩnh và gia đình hai bác khỏe cả chứ? Bác đi đâu mà ăn mặc lịch sự thế này? Com lê, cà vạt chỉn chu?

- Tôi lên Làng Cao dạm vợ cho cháu Hùng. Cái thằng ta đưa mẹ nó vào nhà hộ sinh, nó chui ra đêm hôm ấy... Bố nó hy sinh năm 79 ở Cam Pu Chia. Anh Vĩnh ông nội nó cũng mất rồi. Tôi thay trưởng họ đi đại diện nhà trai. Hai đứa cùng dạy cấp ba trường huyện. Hôm sau tổ chức cưới nhất định nó phải lên nhà mời chú đấy! Chú còn nghỉ phép ở nhà bớt chút thời giờ tới làm thượng khách của gia đình chúng tôi nhé!

-Vâng, em sẽ đến. Nhưng, vợ cháu Hùng là con cái nhà ai ở làng Cao? Tôi hỏi anh Hòa.

- Cháu con ông Trọng “móm” tù Phú Quốc về. Anh Hòa trả lời.

- Có phải nó lấy cháu Quốc không? Tôi hỏi anh Hòa.

- Phải! Sao chú biết?

- Khi giải phong miền Nam, anh Trọng được giải thoát từ trại giam của Mỹ- Ngụy ngoài đảo Phú Quốc. Anh về sinh cháu gái đầu lòng đặt tên là Nguyễn Phú Quốc, để nhớ kỷ niệm đau buồn trong chiến tranh. Ông Trọng là anh vợ tôi. Vào Nam chiến đấu từ năm 1964, từ đó đến năm 1975 không tin tức gì. Mọi người trong gia đình không ai nghĩ anh Trọng còn sống. Năm 1976 ông từ cõi chết trở về kể lại:

Trong chiến dịch Tây Ninh, anh Trọng cùng tổ ba người đột nhập vào đồn địch xem cách bố phòng của chúng (điều nghiên) chuẩn bị cho trận đánh mở màn. Vào đến hàng rào kẽm gai thứ ba, gặp hai tên địch ngồi trên vọng gác hút thuốc lá, tán gẫu... Ba anh em bấm nhau nằm sát mặt đất nghe ngóng... Khói thuốc lá “Ru Bi” phả ra làm chúng tôi thèm. Vì từ chiều đến giờ không được hút thuốc. Vành đai quanh đồn địch phát quang cây cỏ mở rộng tầm nhìn. Hệ thống mìn dưới mặt đất, mìn treo ngang thắt lưng, ống bơ treo dày đặc. Con chồn đi qua vướng vào phát ra tiếng “ lốc... cốc”, địch bật hệ thống đèn chiếu sáng như ban ngày. Từng tốp lính dắt chó béc đi tuần quanh đồn suốt ngày đêm...

Ba anh em tôi mặc quần lót, bôi bùn đất lên người ngụy trang cho hợp với mầu đất, không cho béc dễ dàng đánh hơi. Nằm dán mình trên mặt đất chờ thời cơ luồn sâu vào trung tâm sở chỉ huy địch.

Mẩu thuốc lá từ trên vọng gác vô tình ném xuống lưng anh bạn nằm bên tôi, anh chịu nóng, nhanh tay bóp tắt mẩu thuốc cháy đỏ trên lưng trần. Tên địch vừa ném mẫu thuốc, vạch quần tè xuống chỗ chúng tôi trước khi đổi gác. Anh bạn trườn người tránh dòng nước tiểu đổ xuống lưng, không may vướng mìn hi sinh tại chỗ. Tôi và anh bạn nằm bên bị thương nhẹ. Địch bật hệ thống đèn chiếu sáng thấy chúng tôi.

Cuộc chiến không cân sức giữa hai anh em tôi, với trung đội cảnh vệ địch diễn ra chừng ba mươi phút, anh bạn thứ hai hi sinh. Tôi lăn vào hầm chứa thực phẩm trong khu nhà bếp của địch, bắn đến viên đạn cuối cùng. Biết ta thất thế, tên chỉ huy lệnh: “ Gọi hàng, bắt sống cộng quân khai thác tin tức!” Tôi bị chúng bắt đánh chết đi, sống lại đủ đòn thâm hiểm không moi được gì. Ba tháng sau chúng đưa tôi ra đảo Phú Quốc. Tại đây chúng nhổ năm cái răng hàm dưới, từ đó bạn tù gọi là TRọng “móm.” Chúng rút tiếp năm móng tay cũng không khai thác được gì. Chúng tôi được giải thoát khi ta giải phóng miền Nam. Thật lòng, tôi không nghĩ mình có thể sống đến nay. Bây giờ nhớ lại những ngón đòn địch tra tấn vô cùng tàn bạo, tôi không giải thích nổi tại sao mình có thể vượt qua những thử thách nghiêm trọng hàng chục năm trong nhà tù? Phải chăng, đó là lòng yêu nước, trung với Đảng, hiếu với dân của anh bộ đội Cụ Hồ đã giúp anh em tù chúng tôi đứng vững! Anh Trọng “móm” xúc động kể chuyện bộ đội ta kết hợp với anh em tù giải phóng đảo...


Khi tôi viết những dòng này cuộc chiến đã lùi xa bốn mươi năm.(1975-2015) Kỷ niệm sâu nặng chuyến đi phép duy nhất, với hai mươi lăm tuổi quân của tôi về mẹ và cái chết của bố vợ; đứa con gái bé bỏng thích mẹ sinh em bé đã thành bác sĩ Y Khoa, vợ chồng tôi có thêm cháu Lê quang Phúc - đích tôn của mẹ tôi, vừa bảo vệ thành công luận án tiến sĩ khoa học tại Nhật.

Tôi về hưu. Mẹ tôi đã khuất, suối tóc xanh thơm ngát hương sen của vợ ngã mầu sương. Nhưng, kỷ niệm về chuyến đi phép của tôi và những người thân vẫn xanh mãi với thời gian! Nhiều khi tôi nghĩ: Nếu, năm 1967 mình không được đi phép thì gia đình sẽ ra sao? Tôi mỉm cười, nhìn ra cây đa cổ thụ giữa đồng lúa chín vàng đang mùa gặt, rộn rã tiếng cười...Lại nhớ giây phút vợ chồng gặp nhau ở gốc đa cổng làng lần phép ấy lòng xốn xang.... /.



@.Cập nhật theo bản mới của tác giả chuyển từ Thanh Hóa ngày 22.9.2015.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004