Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




Vùng Bưởi Và Những Cổng Làng Cổ




B ưởi là địa danh chung cho các làng cổ xưa đã sinh sống dọc bờ sông Tô Lịch. Từ Yên Thái đến Thụy Chương là một tập hợp 6 làng thuộc tổng Trung huyện Vĩnh Thuận, vùng ngoại ô phía Tây Bắc thành Thăng Long. Ca dao cổ còn ghi:

Ngoài ô những tổng vân vân

Sáu phường chung tổng: Bái ân, Trích sài

Thụy Chương, Hồ khẩu dọc dài

Võng thị, Yên Thái vừa đẩy tổng Trung.

Bởi vậy, có thời gian, dân gian gọi tổng Trung là tổng Bưởi. Làng Thụy Chương xưa (nay là Thụy Khuê) thuộc phần đất tổng Trung, nên khi xây trường Trung học Chu Văn An, người ta gọi trường Bưởi. Chữ” Bưởi” tuy không phải là tên một địa danh cụ thể, nhưng gợi tên là ai cũng hiểu. Sau này khi thành lập đơn vị hành chính “Phường” thì cái tên phù hợp nhất, hay nhất được chọn là Phường Bưởi. Bởi nói đến tên Bưởi, người nghe có thể mường tượng một vùng làm nghề giấy tập nập. Dọc sông Tô Lịch từ đầu chợ Bưởi đến Hồ Khẩu, nào vạc nấu gió, nào sông đãi bìa thành câu ca dao:

Ai ơi đứng lại mà trông

Kìa vạc nấu gió, kìa sông đĩa bìa.

Nhưng vì sao lại có tên: Bưởi thì cần phải tìm hiểu thân tích và chuyện kể dân gian ở đây, mới có thể biện minh phần nào về xuất xứ của cái tên dân dã đó

Cách nay 875 năm (1127- 2002) vào năm Thiên phủ Khánh Thọ đời vua Lý Nhân Tông đã xảy ra một chuyện lạ: Năm ấy nước sông lên to, cùng lúc mắt vua bị đau nặng. Tin theo lời thầy Quỷ cốc ở Vân mộng, nhà vua đã ra sức đắp đê ngăn sức nước, nhưng sức người thì có hạn, mà sức nước thì vô cùng. Nhà vua than rằng: “Nay sức người không thắng được, mà quốc khô hao tổn, vậy hay nhờ sức quý thần giúp cho”. Bèn sai quan trung sứ ra bờ sông cầu mộng. Quả nhiên có một vị thần , dáng người như phiêu hốt, từ dưới sông hạn lên phán rằng: “Hãy về nói với chú ngươi: Muốn chắn được dòng sông này thì hãy đợi đến một ngày ấy, giờ ấy, tháng ấy đón người nào đi tới bờ sông trước nhất thì bắt người ấy ném xuống sông, mới có thể yểm được”. Quan trung sứ y lời về tâu lại, vua Nhân Tông trầm ngâm nghĩ rồi nói: “Nếu vì mình Trẫm mà để chết oan người ta thì không nỡ, nhưng nay còn có sự an nguy của kinh thành Thăng long. Vậy nếu đón được, cứ nên đem lời thần mộng đã chỉ bảo mà nói với người ấy, chớ nên ép”. Buổi sáng sớm ngày 30 tháng Mười Một năm thiên phủ Khánh Thọ( 1127) trên đường tới bến sông có hai vợ chồng người bán dầu đi tới. Đó là ông Vũ Phục và bà Đỗ Thị, hai vợ chồng đã già, chưa có con, hàng ngày vẫn gánh dầu qua bến vào nội thành Thăng long để bán, nay thấy quân lính giữ lại thì rất ngạc nhiên. Ông hỏi: “Vợ chồng già này thường ngày đi qua đây để vào nội thành, nay bị giữ lại, vậy phúc hay họa đây”. Quan trung sứ liền nói:- người ta ở trên đời ai mà không chết, nhưng có cái chết giúp vua, giúp nước thì để tiếng cho mai sau, có cái chết âm thầm nơi thôn xóm. Nay mệnh vua, vân nước cần tìm người tự nguyện trẫm mình nơi sông này, nếu ông thuận theo thì danh tiếng còn mãi với đời. Ông Vũ Phục nghe xong , đổi nét mặt nói rằng: “cái chết là đáng sợ nhưng danh tiếng cũng khó mau. Tôi đã từng nghe có nhiều tấm gương trung nghĩa, nay vì vận nước, mệnh vua, tôi há lại tiếc cuộc sống, mà khồng làm được việc tốt chăng”.

Bà vợ cũng vì thương chồng nên xin được cùng theo. Hai vợ chồng sau khi giôi giăng lại đã ra bờ sông Thiên phủ, nước sông hung dữ cuồn cuộn chảy qua ngã ba Tô Lịch, ông bèn ngửa mặt lên trời kêu lớn: “Nay vợ chồng già này xin vì việc nước mà chết, trời xanh có thiêng hãy chứng giám”.

Từ khi ông bà nhảy xuống sông, giữa cửa sông Thiên phủ nổi lên một bãi cát lớn dần chắn mất dòng Thiên Phủ không cho sông chảy lưu thông với sông Tô Lịch, nên sông Thiên Phủ cạn dần và mất dòng. Trong quá trình mấy trăm năm sau, những quả bưởi vùng Đoan Hùng trôi theo sông Lô, sông Thao vào cửa Thiên phủ và tấp dạt bãi bồi, lâu dần, mọc cây thành bãi bưởi. Người dân khi giao lưu với nhau thường lấy bến bưởi thành nơi hẹn , lâu dần thành tên chung của vùng. Ông bà Vũ Phục sau khi chết, được vua Lý phong là Phúc thần, lập miếu Chiêu Ứng vương từ thờ ở bờ sông, lại tìm thân thích cho về ở, trông nom lăng mộ, lâu dần lập thành làng xã, gọi là An Thái. Người họ Vũ ở An Thái cũng lấy họ của thần mà phát triển lên.

An Thái là một làng cổ, nhưng sớm có nghề giấy. Đến thế kỷ 15, đã là một phường nghề. Nguyễn trãi viết trong Dư Địa Chí rằng:"Đất Thượng Kinh có phường Yên Thái làm giấy" là chỉ nơi đây.

Có làng xóm, tức là đã thành một tế bào của xã hội. Trong làng và ngoài xã hội thường liên hệ với nhau qua Cổng làng. Cổng làng là nơi gặp gỡ đầu tiên, nơi tiếp xúc đầu tiên của người làng với xã hội. Qua cổng vào làng, người khách gập làng qua phong tục tập quán, hương ước và họ tộc. Cổng làng Yên Thái cũng không qua khỏi thông lệ đó. Là một làng lớn đã từng có 5 vị đỗ tiến sĩ triều Lê, triều Nguyễn và nhiều vị đỗ cử nhân trong thời Nguyễn, nên làng Yên Thái xưa là “nhất xã tam thôn”. Mỗi thôn lại có một cổng riêng biệt.Thôn Đoài ( An Thái- Đoài) có cổng Giếng, thôn Thọ có cổng Hầu cổng Canh, thôn Đông có cổng Đông. Những cổng này đều thông với đường quan nội, đều mang mỗi thôn một nét riêng.

Cổng Giếng là cổng to nhất, bề thế hơn cả. Kết cấu là một gian nhà lớn, hai cánh cổng lim có trụ quay đặt trên lưng hai con sấu đá. Với khẩu độ rộng xây tường hồi bít đốc, lên xuống qua bậc tam cấp. Khi mở cánh cổng, ta nhìn ra đường quan nội thấy tòa phương đình hai tầng tám mái xây cạnh giếng. Tòa phương đình này dân gian quen gọi là cầu Vuông, dùng làm nơi treo tấm hoành phi để 4 chữ “Mỹ tục Khả phong” của triều Nguyễn phong tặng cho làng bởi có nghề làm giấy tinh xảo đã trải qua mấy trăm năm. Cầu Vuông cũng là nơi đón các thông báo của hàng huyện về làng xã. Bên cầu Vuông có một cái giếng đã cổ, thành giếng xây bằng những phiến đá xanh xếp khít cung tròn, miệng giếng có vết dây thừng kéó nước miết vào, lâu ngày đã thành những vết cứa sâu trong đá. Giếng An Thái (Yên Thái) nổi tiếng là một cái giếng nước ngọt và quý. Ca dao còn ghi lại:

Giếng Yên Thái vừa trong lại vừa mát

Đường Yên Thái gạch lát dễ đi

Em về bên ấy làm chi

Nước giếng thì đục, đường đi thì lầy.

Cầu Vuông tồn tại đến năm 1926 thì bị hỏng, giếng Yên Thái đến năm 1985 cũng bị lấp đi. Bởi vậy cổng làng Yên Thái vẫn là nơi gợi nhớ những nét, một thời đã qua của làng giấy. Bước lên cổng giếng mở cánh cửa rộng nhìn vào trong làng. Con đường làng rộng, 2 bên nhà xây chen nhà nhà lá, thế mà từ xa xưa các vị kiên hiền đã dự đoán, viết nên đôi câu đối:

Môn lư cao đại, khả dung tứ mã an xa

Đống vũ phồn đa hứa đắc thiên khai thái vận

( Cổng làng cao, rộng đón ân tứ ban về

Đất đai phồn thịnh.hứa giúp trời mở mang vận thái )

Vừa khoe sự giàu có của làng, vừa chơi chữ, đọc câu đối là có thể biết tên làng( An Thái) Cũng tại cổng giếng này, năm 1946 nhân ngày bầu cử Quốc hội khóa I, chủ tịch Hồ Chí Minh đã về thăm đây là sự kiện trọng đại đối với người dân làng nghề thủ công, nên đã có người viết:

Các cụ già vui tưởng giấc mơ

Gặp Hồ Chủ Tịch thật không ngờ

Lần về thăm làng giấy của chủ tịch đã là sự động viên khích lệ đối với dân làng, nghe theo lời Bác dặn, khi kháng chiến toàn quốc( 19/12/ 1946) đa số người làng đã mang theo đồ nghề tản cư lên Vũ Ẻn, vào Thanh Hóa mở các xưởng giấy, phục vụ đủ nhu cầu chiến đấu và dân sinh trong hơn 30 năm.

Qua thôn Đoài, là đến cổng Hầu thôn Thọ. Cổng Hầu nhỏ hơn cổng giếng, nhưng lại ẩn chứa những nét văn hóa riêng. Xưa kia, tại đây có nhiều nhà quan, nhiều người xuất thân từ văn học nay về trí sĩ. Những vị quan này, tự hào về tài học đã viết đôi câu đối ở cổng Hầu:

Tô thủy tuần hoàn văn phái viễn

Lý thành tả trĩ bút phong cao

( Văn phái theo dòng Tô lịch lan mãi

Bút phong cùng thành nhà Lý đua cao).

Câu đối ấy, đọc nhã nhặn, khiêm tốn thế mà có ý chí lắm từ đó đến nay, cổng Hầu ấy, câu đối ấy vẫn là niềm tự hào, thương nhớ của người xa xứ.

Cũng là thôn An Thọ, nhưng lại có thêm cổng Canh. Gọi là cổng Canh vì nhà nước Phong kiến đã bố trí tại đây một vọng gác hàng ngày làm nhiệm vụ giữ gìn trật tự giao thông.

Câu đối ở cổng ghi rõ:

Môn trấn tuất lâu nghiêm bộ khúc

Lộ thông hoàn hải vãng chu xa

( Cửa này canh gác nghiêm để giữ cho đường xá thông thương, thuyền bè qua lại an toàn).

Một vọng gác nhỏ tại cổng làng, thế mà được đề cao vị trí, bởi nếu ở nơi nhỏ nghiêm thì nơi lớn mới nghiêm. Ý nghĩa đó lớn thay. Sau này, có thể là người Pháp khi đi điều tra điền đã khi nghe tên cổng Canh đã chép vào địa đồ, những chữ C phải thêm "xê xê đin" nên đọc là cổng xanh( Porte de Canh) thực ra, cổng Xanh không phải là chợ xanh ta gặp ngày nay

Đi qua thôn Thọ, ta đến thôn Đông, nơi đây trước thế kỷ 20 có một cái cổng già nua, bên cổng có cây lá cọ, người Pháp đã chụp ảnh trước khi dân thôn Đông phá nó xây cổng mới như hiện nay. Tuy hình ảnh mất đi nhưng trong tiềm thức dân làng vẫn nhớ :

Cổng làng Đông có cây lá cọ

Đầu làng Thọ có cái cổng Canh.

Mỗi làng mỗi khác, tại làng Hồ Khẩu một làng lớn sau Yên Thái cũng có nhiều cổng. Cổng làng, cổng xóm đều có kiến trúc đẹp. Cổng giáp Bắc thôn Hồ Khẩu là cổng chính đi qua các di tích đình Hồ Khẩu, đền Dực Thánh rồi hướng ra Hồ Tây. Ở làng Hồ Khẩu có 6 di tích đình, đền, chùa. Mỗi di tích đều chứa đựng những huyền thoại riêng. Cho nên , từ trước tới nay, mỗi lần hội làng mỗi lần lễ Kỳ An, lại đông người đến dự để được xem những trò vui cảnh lạ. Người ta mê trò chơi thi hoa cây cảnh nặn bằng sáp mà giống như cây thật, thích tích múa chèo đò đền Vệ Quốc, hát ca trù tại đền Dực Thánh.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 22.9.2015.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004