Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
(1843-1903)





CON CỘC




III


Sự căm ghét của viên sĩ quan trưởng đối với con Cộc và lời đe dọa ném con chó của anh em thủy thủ xuống biển bị cả đội thủy thủ tầu âm thầm phản ứng. Mọi người hình như đều ngạc nhiên trước thái độ tàn bạo vô nghĩa này – tước bỏ của anh em thủy thủ con vật yêu quý của họ, trong vòng suốt hai năm trời lênh đênh trên biển nước đã đem lại biết bao nhiêu trò tiêu khiển giữa nhàm chán và tẻ nhạt của cuộc sống trên tầu, và đã là một con chó hiền lành, trìu mến và biết ơn đến thế, đáp lại bằng sự quyến luyến chân thành cho thái độ đối xử nhân từ của mọi người đối với nó, thái độ đối xử mà, cuối cùng nó đã tìm được sau mấy năm cuộc sống lang thang và đầy những gian truân nghịch cảnh trên các phố xá Kronstadt.

Sáng dạ và nhanh chóng thích ứng, nhanh chóng nhận biết các vật dụng khác nhau mà cánh thủy thủ chỉ bảo, con Cộc ngộ nghĩnh và xấu xí đã làm không biết bao nhiêu trò hề, gây cho cánh thủy thủ phải phá lên cười và làm họ ngạc nhiên bởi sự am hiểu lạ kỳ của nó. Nó đã đem lại không biết bao nhiêu niềm thích thú và trò tiêu khiển cho cánh thủy thủ chẳng mấy đòi hỏi, làm cho họ ít ra chốc lát quên đi cuộc sống biển cả vất vả trong những cuộc viễn chinh liên miên, cũng như sự xa cách lâu ngày với quê hương xứ sở. Nó đi bằng đôi chân sau với biểu hiện dáng vẻ thật sự nghiêm trang trên cái mõm thông minh của mình, bê chiếc khay, leo lên thang giây cột buồm rồi đứng trên đó, cho đến khi người ta còn chưa quát: “Rời khỏi bậc cuối cột buồm”, còn nếu như hỏi nó: “Cộc, anh bạn có muốn ăn roi không?” thì nó lại giận dữ nghiến răng gầm gừ, và ngược lại ra vẻ khoái trá, ngoe nguẩy một cách thích thú mẩu đuôi cộc của mình khi bảo với nó: “Anh bạn muốn lên bờ chứ?”. Khi tiếng còi hiệu vang lên và tiếp sau đó là tiếng hô của thủy thủ trưởng: “Lên boong”, con Cộc cùng với các thủy thủ trợ trực gác phóng ngay lên boong trên, bất kể thời tiết như thế nào và chờ ở mũi tầu cho đến khi có hiệu lệnh: “Trợ trực gác xuống khoang dưới”. Còn trong thời gian bão tố nó hầu như bao giờ cũng ở trên boong và làm cho những người thủy thủ trực khuây khỏa trong buổi gác trực. Còn khi còi hiệu lệnh đến bữa rượu, con Cộc có mặt cùng với các thủy thủ trong lúc chia phần và sau đó trong bữa ăn trưa đi bằng hai chân sau vòng quanh khắp đám thủy thủ ngồi thành từng nhóm, chỗ nào cũng nhận được những khoản đãi hào phóng, và nó vui vẻ lên tiếng sủa bầy tỏ niềm cám ơn. Sau bữa ăn trưa khi các thủy thủ trợ gác trực nghỉ ngơi, con Cộc không bao giờ thay đổi, luôn nằm dưới chân Kotsiev, bác thủy thủ đứng tuổi lúc nào mặt cũng khó đăm đăm, một tay nát rượu khốn khổ; đối với bác ta, Cộc tỏ những tình cảm trìu mến khác thường và bộc lộ sự trung thành xúc động. Cộc nhìn bác thủy thủ, như thường nói, đăm đắm vào đôi mắt bác và luôn quấn quýt bên cạnh bác, tỏ ra thích thú vô hạn khi bác Kotsiev vuốt ve nó. Trong thời gian các ca trực đêm con Cộc nhất thiết ở bên bác Kotsiev và khi bác ta ngồi ở mũi tầu cảnh giới buộc phải nhìn về phía trước, Cộc ta không ít lần làm thay người bạn mình nhiệm vụ người cảnh giới. Cộc tự nguyện chịu ướt át dưới mưa, những ngọn gió lạnh xuyên thấu và vểnh đôi tai bị cắn nham nhở tỉnh táo nhìn về phía trước, sâu vào màn tối của trời đêm, giành cho bác thủy thủ chùm áo mưa sưởi ấm bên bộ lông của chó, chập chờn thiếp đi cắm mũi gật gà gật gù. Nhìn thấy ánh đèn lửa của tầu đi ngược chiều hay bóng dáng “khách buôn” không treo đèn báo ở đuôi, Cộc ta sủa to đánh thức người gác thiếp ngủ. Lên bờ bao giờ Cộc cũng đi theo Kotsiev, đi cùng bác ta đến quán rượu gần nhất và bỏ đi chốc lát để thăm thú lũ chó trên bờ, trở về, đôi khi bị cắn xé tơi tả, với người bạn của mình Cộc không rời mắt nữa. Cộc chăm chú và với tình cảm biểu lộ rõ ràng lắng nghe những lời độc thoại say sỉn của bác thủy thủ, đế theo tiếng bật của mẩu đuôi cộc hay tiếng ăng ẳng réo rít dịu dàng, nếu bác Kotsiev chuyện trò với Cộc về điều gì đó hẳn là không phải những chủ đề vui vẻ gì, và canh chừng bác thủy thủ nằm lăn ra phố trong tình trạng say sỉn cho đến khi đồng đội tìm đến và đưa bác ta về tầu. Nói gọn là Cộc đã biểu thị tình quyến luyến gắn bó đặc trưng của loài chó với con người đã đem lại cho nó, một kẻ lang thang bị xua đuổi, mỗi buổi sáng đều có thể gặp nguy cơ rơi vào cái thòng lọng của kẻ săn bắt, có được một chỗ nương náu yên bình trên chiến hạm và cuộc sống no đủ dễ chịu giữa những con người hiền hậu, biểu lộ với kẻ vô gia cư ngay từ ngày đầu tiên khi Cộc xuất hiện trên tầu một thái độ quan tâm dễ thương và tử tế, điều mà Cộc đã từ lâu không được hưởng. Về phần mình, bác thủy thủ cau có ít giao tiếp, cũng gắn bó thân thiết với con vật mình tìm thấy, thể hiện những khả năng sư phạm tuyệt vời, chưa nói đến những phẩm chất đạo lý đẹp đẽ, và dường như chỉ riêng với Cộc bác mới chuyện trò khi say trong những cuộc tâm tình dài lê thê. Bác ta đã kể cho Cộc nghe về chuyện bác ta vì một “kẻ xấu xa” đã bị đưa vào làm thủy thủ, về người vợ của mình nay đang sống dường như một “quý bà kiểu mẫu”, cả về đứa con gái của bác ta không còn muốn biết về bố…

Và Cộc dường như hiểu được rằng người thủy thủ cau có này, nốc hết cốc rượu này đến cốc rượu khác trong một cái quán rượu nước ngoài, kể cho nó nghe những chuyện chẳng vui vẻ gì.

Cuộc gặp gỡ làm quen với Cộc diễn ra hoàn toàn tình cờ. Chuyện đó xẩy ra ở Kronstadt vào một ngày chủ nhật mưa gió và lạnh giá, sau bữa ăn trưa ba ngày trước khi con tầu “Mogutsii” ra khơi đi vào chuyến bơi vòng quanh thế giới. Sau một trận nốc ra trò và bằng đôi bàn chân vẽ nên những hình họa tiết kỳ cục nhất trên mặt đất, Kotsrev từ quán rượu trở về chiến hạm thả neo ở quân cảng, vừa lúc đó ở một ngõ nhỏ đã thấy chú chó nhăn nhó ghé sát bên đường ống nước và run rẩy vì lạnh. Bộ dạng thảm hại của chú chó ướt át gầy trơ bộ xương sườn, hẳn là vô gia cư và thêm vào đó vẻ ngoài lại xấu xí quá thể, thấy rõ là một kẻ lang thang đã động lòng trắc ẩn của bác thủy thủ.

- Này, người anh em, chủ của chú mày là ai? Rõ là con chó vô gia cư, hả? – Bác ta lắp bắp nói, dừng lại bên con chó.

Con chó cảnh giác đưa cặp mắt thông minh nhìn người lính thủy, dường như đang tính toán: liệu nó có lập tức bám theo hay chờ cho người này bỏ đi. Nhưng tiếp sau đó, một giọng dịu dàng, những lời lẽ người này nói thêm hẳn làm cho nó yên tâm, hẳn đã chẳng có gì không hay sẽ đến với nó, thế là nó rầu rĩ cất tiếng kêu rên. Người thủy thủ đến gần thêm và đưa tay vuốt ve nó, con chó đưa lưỡi liếm tay bác, biểu lộ sự xúc động bởi cử chỉ dịu dàng và nó lại kêu rên to hơn.

Khi đó Kotsiev đưa tay sờ xoạng túi áo túi quần, cử chỉ đó làm con chó hau háu chăm chú. Người lính thủy nói:

- Chắc là đằng ấy đói, thật tội nghiệp. Nhưng mà đằng ấy khoan khoan đã… A đây, tìm ra rồi, thật may cho đằng ấy.

Bác ta nói thêm, cuối cùng moi được từ túi quần ra một đồng tiền xu. Bác ta rẽ vào một quán hàng nhỏ và lát sau quay lại ném cho chú chó mấy lát bánh mì đen và khúc xương sườn, được mua bằng hai kô pêch bác ta còn chưa… mua rượu uống hết. Chú chó thèm thuồng vồ lấy thức ăn, chỉ qua mấy giây ngốn bằng hết mọi thứ, và lại dò hỏi đăm đăm nhìn người thủy thủ.

- Thôi, ta cùng đi về tầu… Ở đó ta sẽ cho đằng ấy ăn đầy bụng, một khi đằng ấy đói như vậy… Cánh thủy thủ là những người anh em hiền từ đôn hậu… Đằng ấy không phải sợ. Và đằng ấy ngủ lại đêm trên tầu, chứ thú vị gì nằm ướt dưới mưa… Nào đi, anh bạn.

Bác ta dịu dàng huýt sáo gọi. Chú chó đi theo bác ta, không phải không ít nhiều ngại ngùng đi qua thanh gỗ cầu bắc từ bờ lên tầu, và theo sau bác thủy thủ, con chó e ngại trước đám người tụ họp đằng mũi tầu, nó ngập ngừng dường như xấu hổ vì bộ dạng không hấp dẫn của mình.

- Anh em ạ, tôi tìm thấy con chó hoang này. - Kotsiev vội nói, chỉ chú chó.

Vẻ bất hạnh của chú chó đã động lòng trắc ẩn của đám thủy thủ: họ đưa tay vuốt ve nó và đưa xuống khoang dưới cho ăn. Lát sau chú chó ăn no nê, nằm lăn ra ngủ gần buồng bếp nấu ăn và không tin vào niềm hạnh phúc của mình, luôn lo lắng thức dậy trong giấc ngủ.

Sáng ra, tỉnh dậy trên mặt boong tầu sạch sẽ, chú chó sợ hãi nhìn quanh, nhưng Kotsiev đã thực sự làm cho chú chó yên tâm, đặt xuống trước mõm chú một tô cháo đặc, mà cánh thủy thủ vừa ăn sáng. Lát sau, khi mặt boong tầu đã được lau rửa sạch sẽ, Kotsiev đưa chú chó lên mũi tầu và đề nghị anh em thủy thủ giữ chú ta lại trên tầu.

- Cứ để chó cùng đi với chúng ta.

Đề nghị được chấp nhận với sự thông cảm hoàn toàn. Họ nói với bác thủy thủ trưởng lên xin phép sĩ quan trưởng, và khi đã được phép, trên mũi tầu lại dấy lên vấn đề, đặt tên cho chú chó là gì đây. Mọi người nhìn chú chó khá là xấu xí, để đáp lại những cái nhìn dịu dàng, ngoe nguẩy mẩu đuôi cộc và bày tỏ biết ơn liếm tay những thủy thủ vuốt ve chú.

- Cứ gọi Cộc, không có gì khác được - có ai đó lên tiếng.

Cái tên gọi được mọi người thích thú. Và từ giây phút đó Cộc được tiếp nhận làm thành viên của hạm tầu “Mogutsii”. Việc dậy dỗ ban đầu cho Cộc do Kotsiev đảm đương và bác ta đã thể hiện các khả năng giáo dục tuyệt vời. Sau một tuần Cộc đã hiểu sự bất khả xâm phạm vẻ sạch bóng sáng của mặt boong tầu và sự nghiêm khắc của các thủy thủ đối với sự sạch sẽ đã trở thành chú chó có quy củ. Ngay trong trận động biển đầu tiên ở biển Ban Tích, Cộc đã biểu lộ các phẩm chất đi biển của mình. Chú không hề bị say sóng một chút nào, chú vẫn ăn uống ngon lành như khi thời tiết phẳng lặng, và không tỏ ra chút nhỏ nào thái độ sợ hãi trong cảnh những con sóng khổng lồ chồm lên thành tầu. Chẳng bao lâu Cộc sáng ý và dịu dàng trở thành đối tượng yêu mến chung và chú mua vui cho các thủy thủ bằng đủ mọi trò của mình.

Vậy mà người ta lại dọa ném chú chó đáng yêu quý như vậy xuống biển. Cái tin về chuyện ấy đã làm cho Kotsiev hầu như lo lắng hơn tất cả mọi người. Bác ta cũng đã quyết định làm mọi biện pháp để cái gã “quỷ sứ cao kều” không gặp mặt Cộc. Và ngay ngày hôm đó, khi Cộc với vẻ hớn hở vô tư chạy lên boong trên, khi có hiệu lệnh gọi mọi người đến bữa rượu, Kotsiev dắt Cộc xuống dưới và chỉ cho chú một chỗ ở góc tối nhất sau đống giây rợ, bảo chú:

- Ở đó, Cộc ạ, ngoan ngoãn ở đây chẳng có tai họa đấy! Ta sẽ mang cho anh bạn bữa trưa!


IV


Một tháng trôi qua, trong thời gian này các thủy thủ đã quan sát đầy đủ viên sĩ quan trưởng và không thể yêu mến được ông ta. Quả thực thì ông ta cho đến lúc này không dùng roi vọt xử phạt ai, nói chung không đánh đấm ai, không biểu thị sự độc ác, tuy vậy nam tước vẫn bị căm ghét vì thói xét nét bắt bẻ nhỏ nhen, vì chuyện ông ta cứ bám theo như “nhựa dính”, cứ vo ve rình rập thủy thủ mắc lỗi nào đó và rồi trừng phạt bằng một cách cay đắng: không cho người mắc lỗi lên bờ, bằng cách đó tước đoạt của người thủy thủ điều lý thú duy nhất trong các cuộc lênh đênh viễn xứ. Nếu không lại bắt đứng trên thang dây cột buồm hoặc phải lên ngồi trên thanh ngang giữ buồm và bằng một việc mà các thủy thủ cho là bị xúc phạm hơn nữa, không cho người có lỗi được nhận xuất rượu Vôtka, mà dân biển nước yêu thích hơn tất cả mọi thứ trên đời. Mọi người căm ghét nam tước và cũng sợ ông ta vì những cách trừng phạt như trên, vì thói cố chấp không có tình người của ông ta, không bỏ qua bất cứ ngoại lệ nhỏ nhặt nhất đối với thời gian biểu trong cuộc sống hạm tầu. Mọi người đều cảm thấy áp chế đè nặng lên mình, một áp chế nhẫn tâm của một cỗ máy bướng bỉnh và điều chủ yếu là, họ hiểu ra rằng trong thâm tâm nam tước khinh miệt thủy thủ và xem họ hoàn toàn chỉ là một thứ công cụ lao động. Không bao giờ có một lời nhân từ, không một câu vui đùa. Bao giờ cũng một cái giọng kèn kẹt đều đều và bình thản, trong đó người có tai thính nghe thấy âm điệu trịch thượng khinh bỉ. Bao giờ cũng chỉ là cái nhìn nghiệt ngã của cặp mắt vô cảm.

Ông ta cũng không có được sự kính trọng như một thủy thủ. Tại mũi tầu, cái câu lạc bộ của thủy thủ, nơi những đánh giá chính xác được đưa ra đối với các sĩ quan, mọi người nhận ra là, ông ta còn xa mới xứng đáng là một cánh đại bàng, như Xtepan Xtepanưts, mà là chị gà mái ủ rũ, tỏ rõ bản chất nhút nhát trong trận bão tố vừa ập xuống chiến hạm khi vừa ra khỏi Xanhgapo. Và, theo ý kiến của các thủy thủ lớn tuổi, ông ta hiểu công việc không đến nơi đến chốn, mặc dù chỗ nào cũng thò mũi vào. Và “đầu óc” ông ta không có bao nhiêu chỉ mỗi cái tính ương gàn. Nói tóm lại, mọi người không chịu đựng nổi ông ta và chỉ gọi có một tên không khác là “Con quỷ Giuđa”. Ai ai cũng sợ những điều chỉ bảo của ông ta như sự ôn dịch.

Thoạt đầu viên nam tước toan tính thay đổi mọi trật tự trên tầu và thay vào các buổi luyện tập hàng ngày ngắn ngủi trước đây bắt “kéo” các buổi luyện tập liền tù tì ba giờ đồng hồ làm cho thủy thủ mệt mỏi, và ngoài ra còn sự mệt mỏi trong suốt sáu giờ đồng hồ tuần tiễu. Nhưng, cám ơn ngài thuyền trưởng, ông đã nhanh chóng hạn chế sự mẫn cán của viên sĩ quan trưởng.

Về điều này cậu Egorka, cần vụ nhanh nhẹn của thuyền trưởng đã kể lại ở mũi tầu như sau:

Ngài thuyền trưởng cho gọi, anh em ạ, cái gã “Con quỷ Giuda” ấy lên gặp và ông bảo: “Ông, ông ấy nói, Karl Friantưts, lập ra cái quy củ mới chỉ uổng công thôi và bằng những buổi luyện tập quá mức chỉ làm khổ mọi người. Cứ để, mọi chuyện như cũ”.

- Thế cái gã “Quỷ Giuda” ấy phản ứng thế nào?

- Mặt mày đỏ lự lên như tôm luộc ấy, …Giuda đáng nguyền rủa, mới trả lời: “Xin tuân lệnh, hắn ta nói, nhưng chỉ có điều tôi cho rằng, tất cả chỉ là để có lợi cho phục vụ…”, -“Xin lỗi nam tước, đó là ngài thuyền trưởng cắt ngang ông ta, - tôi, ngài nói, không có ông tôi cũng biết, ngài nói, ích lợi nào cho phục vụ... Và ích lợi, ngài nói… phục vụ đòi hỏi sao không làm các thủy thủ phát chán nản. Người thủy thủ, ngoài việc luyện tập còn có cơ man nào việc khác, còn canh gác, và, ngài nói, thủy thủ của chúng ta làm lụng khá lắm, và họ đều đáng khen ngợi cả... Vậy thì về lợi ích của phục vụ ông đừng tự cho phép quá bận lòng… với lại, tôi không nói gì thêm với ông nữa”. Vậy là, con quỷ cao kều ra về, được một mẻ toát mồ hôi.

Egorka kết thúc với sự hài lòng chung của đội thủy thủ có mặt. Nói chung nam tước Phon der Bering với những quy củ mới và quan niệm về kỷ luật của mình đã không vào đúng sân chơi. Trong phòng sĩ quan, sĩ quan trưởng mới này cũng không được mọi người ưa, đặc biệt đám sĩ quan trẻ, tất cả đã thấm đượm những luồng gió mới của những năm sáu mươi và khao khát đưa những luồng gió ấy đến đích bằng sự đối xử nhân đạo với các thủy thủ. Có cái gì đó cổ lỗ toát ra là những quan điểm của nam tước, một gã theo đuổi chế độ nông nô và bảo thủ. Là người hoàn toàn chính trực và cương nghị, không giấu diếm những nguyên tắc, như ông ta nói, thiêng liêng của mình, bao giờ cũng bóng bẩy và tự phụ, chải chuốt và tề chỉnh đến tởm lợm, nam tước khơi dậy sự đố kỵ trong đám sỹ quan trẻ vui tươi, những người coi ông ta là một tay thông thái rởm hạn chế, đần độn và một con người khô khan, hoang tưởng mình không bao giờ lầm lạc và nhìn mọi người từ trên cao giòng dõi nam tước của mình. Ông ta cũng không được ưa đối với đám trai phục vụ hạm đội: đám hoa tiêu, pháo thủ và thợ máy. Chẳng những như vậy đã là những người dễ phật ý và ảo tưởng, họ cảm thấy rất rõ trong thái độ đối xử tao nhã, lịch thiệp của ông ta có sự khinh miệt hạ cố của ngài nam tước hăng hái, nhận thức được sự vượt trội của mình. Viên sĩ quan trưởng mới cũng không hợp khẩu vị của ngài thuyền trưởng. Thuyền trưởng không lấy làm cám ơn thủy sư đô đốc, ban tặng cho ông “khúc xúc xích Đức” như vậy, mà kể cũng không đoán ra rằng, tất nhiên ngài đô đốc khôn ngoan đã cố tình gán nam tước về làm sĩ quan trưởng cho tầu “Mogutsii” mau chóng “nấu chẩy” nam tước, thế là đô đốc bằng cách ấy “phủi tay” và đưa nam tước ra khỏi hạm đội gửi trả về Nga. Ở phòng sĩ quan gần như chẳng ai chuyện trò với nam tước ngoại trừ phải giao tiếp công việc sự vụ, và ông ta trở nên xa lạ trong gia đình thân ái của sĩ quan hạm tầu “ Mogutsii”. Chỉ có các viên chuẩn úy hải quân đôi khi không tước bỏ niềm thích thú của mình trêu trọc nam tước bằng cách có mặt nam tước lại lên tiếng chỉ trích những kẻ ủng hộ chế độ nông nô và bọn bảo thủ, không hiểu ý nghĩa của những cải cách vĩ đại, và thêm vào đấy còn khen ngợi ông sĩ quan trưởng cũ Xtepan Xtepanovich. “Thật may mắn đã một thời được cùng ông ấy phục vụ mới thú vị làm sao. Đấy mới là một sĩ quan trưởng hiểu biết công việc và thông thạo và là một đồng chí nhân hậu”. Và cả anh em thủy thủ cũng yêu mến ông thật nồng nhiệt, và chính ông mới thật sự hiểu cánh thủy thủ và yêu thương họ. Và họ đã vì ông mà hết lòng hết dạ thi hành nhiệm vụ.

- Đến cả con Cộc cũng yêu mến ông - anh chàng chuẩn úy tóc xoăn bạch kim Kosutits, đặc biệt thích thú làm tình làm tội cái “thằng ngốc quý tộc Đức”. - Mà các ngài nhỉ, lâu nay không thấy bóng dáng Cộc xuất hiện trên boong tầu đâu… Chú chó đáng thương phải đi trốn. Thế nghĩa là làm sao nhỉ? - viên chuẩn úy cố tình nói thêm, biết tỏng về viên sĩ quan trưởng đã hăm dọa con vật.

Nam tước chỉ căng lên, như chú gà tây, rõ ràng là, không tỏ vẻ để ý gì đến những mũi kim châm chọc, và với thói bướng bỉnh đần độn của con người hạn chế, không thay đổi thái độ cư xử của mình và không đếm xỉa sự không ưa của chung của mọi người đối với mình. Trong khoảng thời gian một tháng qua Cộc quả thực không xuất hiện trước mắt viên sĩ quan trưởng, dù bản thân Cộc có nhìn thấy ông ta một lần từ xa, kể ra Kotsiev đã chỉ cho Cộc thấy, bảo nó: “Cộc ạ, anh bạn phải cẩn thận đấy!”, và nói với một giọng đáng sợ đến mức Cộc liền khụy xuống hai chân sau. Cuộc sống phóng khoáng trước đây của con Cộc đã thay đổi. Sáng sáng, trong khoảng thời gian viên sĩ quan trưởng đi kiểm tra quanh tầu, Cộc ta trốn biệt tăm đâu đó trong một góc của hầm tầu hay gian nồi hơi, theo sự chỉ dẫn của Kotsiev, người đã bỏ ra những cố gắng để dậy cho Cộc ngồi không động đậy trong góc tối. Và trong thời gian đội thủy thủ cùng làm việc Cộc không còn chạy lên boong. Nhờ có các bài dạy dỗ của người bảo trợ của mình, thích thú mỗi khi nói nhanh: “Giuđa đang tới”, thế là Cộc cụp mẩu đuôi cụp lại, vụt lao xuống dưới và nấp kín vào một chỗ kín đáo nhất nào đó, từ đó chỉ đi ra khi vang lên tiếng huýt sáo trấn an của một thủy thủ nào đó chõ xuống qua cửa nắp tròn. Các thủy thủ đưa Cộc lên trên boong thượng trong lúc nam tước ăn trưa hay ngủ, và vào những giờ ấy họ lại giải trí như cũ bằng các trò vui nhộn của chú chó thông minh: “Cộc ạ, không phải sợ, - các thủy thủ trấn an Cộc - không có Giuđa đâu”. Và anh em thủy thủ bảo vệ bạn yêu mến của mình, đã đặt người canh chừng khi Cộc lại trình diễn trên mũi tầu. Chỉ đến đêm đêm, đặc biệt những đêm nhiệt đới tối trời không trăng, đã ngủ đẫy sau một ngày, Cộc tự do dạo chơi nơi mũi tầu, và thân ái quanh quẩn bên cạnh các thủy thủ, nhưng không túc trực canh gác cùng Kotsiev, không còn nhìn về phía trước và cũng không sủa như trước, khi thấy có ánh đèn lửa - Kotsiev không đem Cộc đi theo mình, bảo vệ kẻ được yêu chiều nhất của mình tránh sự giận dữ của “Con quỷ Giuđa”, kẻ mà bị bác thủy thủ cau có hơn hết thẩy mọi người căm ghét

Nhưng, mặc dù có mọi chuyện đề phòng này, trong thời gian sắp tới một cơn giông tố vẫn nổ ra trên đầu con Cộc đáng thương.


***

Một ngày oi bức cháy nắng trên biển Hoa Đông qua đi. Trên bầu trời xanh lam không một gợn mây và trên biển gió lặng như lịm chết. Ngay từ sớm tinh mơ đã không có gió, mấy cánh buồm lười nhác treo rủ, và thuyền trưởng ra lệnh xả hơi máy. Lát sau hơi máy lên tiếng réo và “Mogutsii” cuốn buồm lại, chạy hết tốc lực hướng về Nagaxaki. Đặc biệt quan tâm về chuyện làm sao “Mogutsii” đến được Nagaxaki, nơi thủy sư đô đốc ấn định cuộc hội quân hạm đội, trong bộ dạng bảnh bao, ngày hôm sau nam tước đã đi tua đến lần thứ ba, quanh hạm tầu bắt bẻ mọi điều, phiền nhiễu mọi người bằng những lời răn dạy của mình. Có vẻ ông ta đang bứt rứt chuyện gì đó, mặc dù mọi cái trên tầu dường như ngăn nắp đâu vào đấy, mọi cái trên boong sạch bóng và ngời lên dưới ánh nắng mặt trời chói lọi thiêu đốt của vừng mặt trời, dường như một quả cầu lửa treo lửng lơ trên mặt biển lặng gió. Nam tước lại vừa có một cuộc giải trình không lấy gì làm đặc biệt dễ chịu với thuyền trưởng và cho là mình phật lòng. Quả tình mọi đề đạt, mọi xu hướng của ông ta, như ông ta tin là, có lợi cho công việc phục vụ, lần lượt bị con người “thiếu bản lĩnh”, như cách nam tước khinh miệt gọi thuyền trưởng, gạt phắt mất, và các mối quan hệ giữa họ mỗi ngày một trở nên càng khô cứng hơn. Thêm vào đó cả đám sĩ quan chuẩn úy lại liên tiếp nghĩ ra đủ những mũi nhọn châm chọc mà ông ta lại không có cách gì để khiển trách họ được. Vậy là nam tước điên tiết lên mà hờn dỗi, đã cao ngạo nghĩ rằng thật là khó khăn đối với một người lương thiện phục vụ cùng với bọn dân chủ Nga ngu ngốc này, không hiểu kỷ luật thật sự là thế nào mà vẫn sẵn sàng phá hoại uy tín của chính quyền.

Khi đi xuống boong ở tầng dưới, mải mê với những suy nghĩ của mình, ông ta không có sự quan tâm thường nhật nhòm ngó vào mọi xó xỉnh, đang tiến đến gần buồng thủy thủ, thì đột nhiên con Cộc phóng ra bên cạnh, chạy ngang trước mặt và lao lên tầng thượng.

- Đồ chó khả ố - nam tước thốt lên, hơi hoảng sợ vì sự xuất hiện đột ngột của con Cộc, ông ta dừng bước, bất giác ngó vào chỗ theo đó Cộc ta chạy ra.

Và ngay khoảnh khắc đó cái nhìn của nam tước cắm vào điểm của sàn tầu, đúng ở dưới cửa tròn xuống thang tầu dẫn lên phần mũi tầu, và mặt ông ta liền nhăn nhó kinh tởm.

- Gọi thủy thủ trưởng đến đây - nam tước quát ra lệnh.

Mấy giây sau thủy thủ trưởng Gordeev xuất hiện. Nam tước dằn giọng thong thả hỏi, chi ngón tay xuống mặt sàn tầu:

- Cái này là gì vậy?

Bác thủy thủ trưởng ngó theo hướng ngón tay trắng trẻo đeo nhẫn chỉ và bối rối.

- Cái này là gì vậy, tôi hỏi anh, Gordeev?

- Xin cho phép tự ngài thấy đấy, thưa đức ông…

Và bác thủy thủ trưởng cau có nói tên gọi cái vật kia là vật gì. Nam tước im lặng một lát rồi phán:

- Anh còn nhớ, tôi đã nói gì với anh trước đây?

- Tôi nhớ, thưa đức ông - bác thủy thủ trưởng trả lời, càng cau có hơn.

- Vậy thì qua năm phút phải ném con chó ghê tởm này xuống biển.

Thủy thủ trưởng lên tiếng bằng một giọng thật kính cẩn, tràn đầy sự cầu khẩn:

- Dám xin được bẩm, thưa đức ông, là vì con chó không được khỏe… và y sĩ đã khám bệnh cho nó, bảo nó bị đau bụng, nhưng chỉ có điều chẳng mấy nữa nó sẽ lại khỏi… trong trạng thái khỏe mạnh, có nghĩa là, con Cộc không bao giờ lại dám bậy, thưa đức ông... Xin tha thứ con Cộc - bác thủy thủ trưởng bằng một giọng run rẩy cầu xin.

- Gordeev. Tôi không có thói quen nhắc lại mệnh lệnh. Các người dối trá không ít chuyện bậy bạ đối với tôi. Qua năm phút đến gặp tôi và báo cáo, mệnh lệnh của tôi phải được thi hành… Thêm vào đó phải cọ sạch chỗ này trên sàn tầu - nam tước nói thêm. Nói xong mấy lời đó ông ta quay gót và bỏ đi.

- Hừm, đồ phỗng đá - bác thủy thủ trưởng dằn giọng nói theo chân nam tước. Bác đi lên tầng trên và xúc động đến gần Kotsiev đang đợi con Cộc để đưa nó xuống dưới, thông báo vội vàng:

- Người anh em, hỏng rồi… Vừa nãy “Con quỷ Giuđa” nhìn thấy ở boong dưới con Cộc đã bĩnh ra, và, và… Bác thủy thủ không nói hết và chỉ cau có lắc đầu. Kotsiev đã hiểu ra mọi chuyện, nét mặt đột ngột biến đổi. Đôi gò má rung rung, bác ta đứng lặng đi, ảm đạm trong nỗi tuyệt vọng kéo dài đến mấy giây.

- Không làm thế nào được với quân đê tiện này! Mà con chó đáng thương quá đi mất!

- Zakharưts... Zakharưts... cuối cùng bác thủy thủ thốt lên bằng một giọng nức nở van nài. - Chỉ vì Cộc bị ốm đau, chẳng lẽ có thể đòi hỏi gì ở con vật ốm? Thì, có nghĩa là, nói chung bụng dạ nó không chịu nổi, chứ không lẽ nó lại dám…. Nó thông minh… Nó hiểu… Chưa bao giờ với nó lại xẩy ra... và biết bao nhiêu bận hôm nay nó chạy lên boong trên... Zakharưts, làm ơn như cha đẻ… Bác hãy báo cáo với con quỷ ấy,

- Có gì mà tôi chưa báo cáo với ông ấy kia chứ? Tôi đã cầu xin hết lờicho con Cộc. Chẳng quan tâm chút gì hết. Ông ta nói, làm sao sau năm phút con Cộc phải bị ném xuống biển.

- Zakharưts!... Bác lại đi lần nữa… cầu xin…

- Chúng ta phải làm ra nhẽ - những tiếng nói tán thành vang lên.

- Akim Zakharưts. Hãy tập họp chúng tôi vào hàng ngũ, toàn thể đội tầu.

Sự thể bắt đầu xoay chuyển nghiêm trọng. Akim Zakharưts đăm chiêu đưa tay gãi gáy. Vào giây phút đó anh chàng chuẩn úy trẻ Kosutits được mọi thủy thủ yêu quý, xuất hiện. Thấy viên sĩ quan xuất hiện, tất cả thủy thủ đều im lặng. Bác thủy thủ trưởng mừng rõ.

- Chả là thế này, thưa đại nhân, - bác nói với viên chuẩn úy - ông sĩ quan trưởng ra lệnh ném con Cộc xuống biển, mà toàn đội thủy thủ không bằng lòng về mệnh lệnh đó. Vì sao đi giết hại con chó một cách vô tội? Nó là con chó, như ngài biết đấy, nghiêm chỉnh, hai năm ròng đã cùng chúng ta đi trên biển. Và tất cả lỗi lầm của nó, thưa đại nhân, chỉ vì bụng nó đau. Bác thủy thủ trưởng giải thích, do đâu mà xảy ra có chuyện “thải bậy” ra và nói thêm: Thôi thì ngài đừng từ chối, thưa đại nhân, ngài hãy lên tiếng bảo vệ con chó Cộc… Xin ngài đề nghị để nó lại cho chúng tôi... Và con Cộc, dường như đã hiểu cả, rằng câu chuyện nói về nó, dịu dàng liếm tay viên chuẩn úy và sẽ sàng ngúng nguẩy mẩu đuôi cụt của mình.

- Đấy, thưa đại nhân, cả con Cộc cũng xin ngài. Phẫn nộ đến tận đáy lòng, viên chuẩn úy hứa sẽ bênh vực con Cộc. Trên mũi tầu làn sóng phẫn nộ lắng xuống. Vẻ mặt Kotsiev sáng lên niềm hy vọng.

- Thưa ngài nam tước, - lao vào buồng tầu, viên chuẩn úy xúc động lên tiếng, - toàn đội tầu đề nghị ngài hủy lệnh liên can đến con Cộc và cho nó được sống trên thế gian... Thưa nam tước, và lẽ gì mà ngài lại đi tước đoạt cuộc sống con chó của anh em thủy thủ? Vả lại bản thân nó đã phạm một trọng tội gì nào, thưa nam tước?

- Đó không phải việc của ông, chuẩn úy Kosutits, - nam tước phán. Và bản thân ông đừng có quên mình là ai và đừng có bầy tỏ ý kiến của mình với tôi. Con chó phải bị ném khỏi tầu!

- Ngài nghĩ vậy sao?

- Tôi đề nghị ông im miệng - nam tước sẵng giọng và mặt tái đi…

Viên chuẩn úy lòng đầy tức giận thốt lên:

- Vậy ngài muốn cả đội tầu nổi loạn chắc, phải chăng thế bởi sự tàn bạo của mình? Vậy thì, điều đó ngài không làm nổi đâu. Tôi sẽ đi gặp ngay thuyền trưởng.

Và Kosutits lao tới buồng tầu của thuyền trưởng. Mọi người có mặt tại buồng tầu sĩ quan đều quay nhìn viên sĩ quan trưởng với một thái độ ác cảm rõ ràng. Nam tước mặt trắng bệch với nụ cười khẩy trên môi, đưa tay sờ mó một bên hàm râu quai nón. Khoảng hai phút sau cần vụ của thuyền trưởng báo cho nam tước biết, ông ta được thuyền trưởng triệu đến gặp.

Ngài thuyền trưởng lên tiếng hỏi và nhăn mặt, vẻ chua chát:

Câu chuyện với con chó ở đây là thế nào nhỉ, ngài nam tước?

- Chẳng có chuyện gì cả. Tôi ra lệnh ném nó ra khỏi tầu, - nam tước lạnh lùng trả lời.

- Vì sao thế?

- Tôi đã cảnh báo rằng nếu tôi mà nhìn thấy con chó ỉa bậy, tôi sẽ ra lệnh ném nó xuống biển. Tôi đã thấy nó ỉa bậy rồi, và ra lệnh ném nó ra khỏi tầu. Tôi mạnh dạn cho rằng mệnh lệnh của sĩ quan trưởng phải được thi hành nếu như trên tầu quả thực tồn tại một kỷ luật. “Ôi, cái cây gậy tầy giống Đức quốc” - ngài thuyền trưởng thầm nghĩ và bộ mặt ông càng nhăn nhó thêm.

- Còn tôi đề nghị ông nam tước, lập tức hủy bỏ mệnh lệnh của ngài đi và rồi đây để cho con chó được yên. Nó có mặt trên tầu do được phép của tôi… Tôi lấy làm tiếc rằng ngài buộc phải hủy bỏ lệnh của mình ban ra, không thể ra thêm những cái lệnh giống như thế và vô cớ làm mọi người bực bội.

- Trong trường hợp như thế này, thưa ngài thuyền trưởng, tôi lấy làm hân hạnh xin với ngài tự ngài ra lệnh hủy lệnh của tôi, còn tôi cho rằng điều đó đối với tôi là không thể được. Và ngoài ra…

Ngài thuyền trưởng lạnh nhạt hỏi:

- Còn gì nữa?

- Tôi ốm và không thể thi hành nhiệm vụ một sĩ quan trưởng.

- Vậy thì ông cứ làm đơn đi... Và có thể khí hậu trên bờ đối với ông có lợi hơn.

Nam tước cúi chào bỏ đi.

Sang ngày hôm sau, sau khi tới Nagaxaki, nam tước Phon der Bering, trước sự vui mừng chung của mọi người, rút ra khỏi hạm tầu và một người khác được bổ nhiệm làm sĩ quan trưởng trên tầu “Mogutsii”. Anh em thủy thủ thở phào nhẹ nhõm.

Với sự ra đi của nam tước, con Cộc lại được sống cuộc sống tự do và lại được sự quý mến còn hơn trước của anh em thủy thủ, vậy là nhờ có nó mà hạm tầu thoát khỏi con quỷ Giuđa. Con Cộc vẫn như trước thường lên bờ cùng với người bạn của mình - bác Kotsiev, canh chừng bác: lại như trước nhìn về phía trước và mua vui cho anh em thủy thủ bằng đủ mọi trò vè của mình, thêm vào đó khi nghe tiếng kêu “Giuđa đang đến!” nó lao bán sống bán chết xuống tầng dưới, nhưng ngay lập tức quay lên, hiểu ra rằng kẻ thù của nó đã không còn nữa.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả ngày 06.9.2015.


VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004