Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



NHỮNG TIẾNG ĐÀN TRONG ĐỜI TÔI




T ôi không có những tiếng đàn như của nàng Kiều, hay tiếng đàn trong một bản nhạc của Phạm Duy.Tôi chỉ có những cung đàn như Gloria trong Đêm thánh vô cùng hay cung đàn Requiem trong các thánh lễ an táng của người quá cố.Tôi cũng chỉ có những tiếng đàn của hai người thầy. Tiếng đàn của người thầy thứ nhất trong đời tôi qua những bản thánh ca, khi tôi vào học trường Hoàng Nguyên, huyện Phú Xuyên, Hà Đông, địa phận Hà Nội. Đây là ngôi trường trước khi tôi đến học, quen gọi là trường La tinh Hoàng Nguyên. Tiếng đàn của người thầy thứ hai, là Trần Ngọc Hiệp, ông cũng xuất thân từ Hoàng Nguyên ra. Ông không phải là một nhạc sĩ, cũng không phải là một nghệ sĩ, ông chỉ biểu hiện như một nghệ sĩ đích thật khi ông cầm cây vĩ cầm đưa lên vai, rồi những ngón tay lướt nhẹ trên dây đàn trong những buổi chiều của thời rất xa rồi, khi tôi đến nhà trọ thăm ông trên con phố chính của tỉnh lỵ Hà Đông những năm 1952-1953. Lúc đó ông chưa lập gia đình. Còn tôi là một học trò của ông trong trường Trung học Minh Tân, do linh mục Trần Trinh Khiết làm hiệu trưởng, đồng thời ngài cũng là chính xứ Hà Đông, sau ngày du học ở Pháp về. Thỉnh thoảng thầy Hiệp rủ tôi đi xem xi-nê, hoặc ra phố ăn phở rồi về nhà trọ của ông. Những dịp như thế này tôi lại được nhìn thầy chơi đàn, vì ông biết tôi cũng thích âm nhạc và nhất là thích nhìn ông say sưa với cung đàn lúc bổng lúc chìm, lúc réo rắt như tiếng gọi của tình yêu, lúc lại buồn chán, bâng khuâng, xa vắng rồi bỗng lại cao vút và cung đàn chìm vào thinh không như cánh hạc trong sương chiều. Tôi ước mình một ngày nào đó trở nên một người biết sử dụng cây vĩ cầm như thầy Hiệp. Khi thầy lấy vợ, một thiếu nữ trẻ đẹp của đất cảng Hải Phòng, con của một hãng nước mắm nổi tiếng ở đấy, cũng là lúc tôi ra Hà Nội học trường Dũng Lạc, cho tới ngày di cư, thì tôi không gặp thầy nữa. Sau ngày này, tình cờ tôi lại gặp ông tại Đền Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp (DCCT Sai-Gòn). Ông đã mời tôi về nhà ông chơi ở gần đấy. Rồi ít lâu sau, ông trở nên là ân nhân của tôi khi ông mời tôi đi Ban Mê Thuột dạy học cho trường của ông, có tên là Thăng Long, số 7 đường Y Zut. Con đường này ở bên cạnh chợ Ban Mê Thuột. Hiện nay cái tên đường Y Zut vẫn còn, chợ thì đã xây cất lại, nhưng vẫn ở trên nền chợ cũ, có mở thêm chiều dài. Khi tôi lên thì vợ chồng ông đã có một cậu con trai, 4 tuổi. Tôi để ý đến cây vĩ cầm của ông trước kia. Song, không nhìn thấy cây đàn ở đâu nữa. Ông đã bỏ nó ở góc tối nào rồi trong cuộc sống hôn nhân!

Tôi nhớ tiếng đàn của thầy Hiệp nhưng không muốn hỏi e đụng tới tâm tư buồn phiền của ông.

Còn tiếng đàn của người thầy thứ nhất trong đời tôi là linh mục Antôn Nguyễn Tiến Dũng (1924-2005), qua những bản thánh ca của ông.

Trong một buổi kinh chiều, bỗng dưng tôi mở trang sách kinh nguyện tôi soạn dành riêng cho mình, đúng trang có bài hát của cha Tiến Dũng, người được giới âm nhạc ở Sài-Gòn trước và sau năm 1975 tôn là “Nhạc sư”. Tiếng đàn của ông đã in dấu sâu đậm trong lòng tôi.

Trang sách tôi mở ra có bài hát của cha Tiến Dũng, là bài Kính chào nữ vương. Đây là một trong mấy bài của ngài tôi thích, trong đó có bài Bên sông Babylon, Con linh mục. Nữ vương Thiên đàng v.v…Mấy bài sau này đều được các ca đoàn tại các giáo xứ ở nơi này nơi khác hợp ca trong thánh lễ Kính trọng thể đặc biệt nào đó. Chẳng hạn, vào ngày 15 tháng 8 hàng năm, Giáo hội hoàn vũ mừng kính trọng thể Mẹ Maria Linh Hồn và Xác Lên Trời, hay trong các lễ Kính khác về Đức Maria, thì bài Nữ vương Thiên đàng lại được cất lên, giúp giáo hữu đưa tâm trí mình lên trời cùng với hình bóng của Đức Mẹ để chúc tụng và tôn vinh Mẹ diễm phúc.Còn vào Mùa chay hàng năm, tưởng niệm cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu, bài Bên sông Babylon, cũng lại được hát lên trong các nhà thờ, để diễn tả tâm tư của dân Do Thái, bị Ai Cập bắt đi làm nô lệ, vẫn được gọi là thời lưu đày ở Babylon.

Do Thái mất nước

Theo Kinh thánh, các vua Israel và Giuđa đưa dân chúng vào con đường phản bội lại Giao Ước với Thiên Chúa, thờ ngẫu tượng, luân lý suy đồi. Những lời Thiên Chúa nhắc nhở, dạy dỗ qua các ngôn sứ đều vô ích. Cơn bệnh đã đến độ trầm trọng, vì vậy mà cuối cùng Thiên Chúa phải dùng đến một ‘liều thuốc mạnh’ là cuộc lưu đày.

Năm -722 tcn, sau ba năm vây hãm, Vua Sargon II nước Assyri đã chiếm được thủ đô Samari của Israel. Vua bắt những thành phần ưu tú của Israel đi lưu đày, rồi lại đưa những dân khác đến cư ngụ. Họ sống chung với những người Israel còn được ở lại, từ sinh hoạt chung đó phát sinh một thứ tôn giáo pha trộn, không còn tinh tuyền nữa. Vì vậy mà sau này người Do Thái rất ghét và khinh bỉ người Samari, coi họ là dân lai căng và lạc đạo.

Tuy có chậm hơn nhưng rồi Miền Nam-Giuđa cũng không thoát khỏi số phận Miền Bắc. Sau hơn ba trăm năm thống trị, đế quốc Assyri (Ninivê) cũng đến ngày suy tàn để nhường chỗ cho một khuôn mặt mới là đế quốc Babylon của vua Nabucôđônoso. Năm -598 tcn, Nabucôđônoso đã bắt vua Giuđa và một số người ưu tú sang Babylon. Đến năm -587 tcn, Nabucôđônoso phá huỷ bình địa Giêrusalem và đền thờ, bắt nhiều người đi lưu đày sang Babylon.

Khoảng 30 đến 50 ngàn người Giuđa phải đi lưu đày. Họ phải chịu nhiều thử thách nặng nề về thể xác và tinh thần. Như: họ phải đi bộ cả ngàn cây số, cuộc sống thiếu thốn và công việc cực nhọc nơi lưu đày …Còn về tinh thần, dân Do Thái bị thử thách về đức tin. Hoàn cảnh đặt ra cho họ những câu hỏi nhức nhối : Có Chúa Giavê thật không ? Nếu có thì tại sao Ngài lại để đất nước, thành thánh Giêrusalem và Đền thờ bị tàn phá như vậy ? Hay là thần Marduk của Babylon mạnh hơn Giavê ? Giavê có còn nhớ Lời Hứa hay đã huỷ bỏ Giao Ước rồi ? …

Tuy nhiên, trong kế hoạch của Thiên Chúa thì cuộc lưu đày không phải là “viên thuốc độc” mà là “viên thuốc đắng”.

Sống trong cảnh lưu đày, dân Do Thái nhớ đến quê nhà, nhất là Đền thờ, là Thành thánh Giê-ru-sa-lem. Họ ngồi bên bờ sông Babylon, nghe tiếng thông reo nỉ non, như tiếng gọi của hồn cố quốc. Họ nhớ nhà. Có người thổi sáo. Có người ngồi khóc. Họ nhớ Sion, nhớ Thành thánh.

Đây là ý tưởng của bài hát Bên sông Babylon của cha Tiến Dũng. Bài hát đôi khi làm tôi cũng nhớ đến thân phận lữ hành của mình ở chốn lưu đày là trần gian này. Tuy nhiên, cuộc lưu đày hay cuộc sống trăm cay nghìn đắng nào của con người, cũng đều có hai yếu tố tiêu cực và tích cực, tùy mỗi con người khi họ gặp phải thử thách. Yếu tố quan trọng nhất có lẽ thuộc về nhận thức, vào chọn lựa một mục đích của cuộc sống. Ai nấy sinh ra, cũng cần chọn cho mình một mục đích sống có ý nghĩa nhất. Cuộc đời dù ở bất cứ đâu cũng luôn mở rộng tiếp đón người thiện chí, có tâm huyết, có nghị lực, mặc dù ở đây hay ở bên kia, vẫn còn có những ràng buộc, thách đố. Nhưng chính đó là cái làm cho người này khác với người kia, nó biểu hiện nơi nhân cách của mỗi người. Chỉ ở điểm này, họ được chấp nhận hay bị đào thải. Con người là tự do. Thiên Chúa đã ban cho con người ngay từ thuở con người sống trong vườn địa đàng. Nhưng con người đã ngoại tình, họ khước từ giáo lý của Thiên Chúa. Dân Do Thái theo Kinh thánh ghi lại, cũng vậy.

Còn bài hát ở trong sách kinh nguyện riêng của tôi, là bài Kính chào nữ vương. Đây là bài làm tôi nhớ đến cha Tiến Dũng hơn cả, nhớ đến một hình ảnh của ngài trong một thánh lễ ban mai hồi năm 1950 tại trường Hoàng Nguyên, huyện Phú Xuyên, Hà Nội. Cả trăm năm trước đó, Hoàng Nguyên là một chủng viện, nơi học tập của nhiều thế hệ chủng sinh địa phận Hà Nội, trước khi họ trở thành linh mục, trong đó có thế hệ của cha Tiến Dũng. Vì thời cuộc, các thầy lớp trên phải chuyển lên Hà Nội, chỉ còn lại mấy lớp Đệ thất. Số phòng học trống, nhà trường nhận học sinh ở ngoài vào học nội trú, bậc tiểu học.

Năm học 1949-1950, thầy Tiến Dũng được về Hoàng Nguyên ít tháng trước khi đi du học Rôma. Cũng năm học này, tôi bắt đầu vào Hoàng Nguyên học, diện nội trú. Vì tôi có linh mục nghĩa phụ bảo trợ gửi, nên mọi sinh hoạt tôi phải theo diện chủng sinh, được coi như thời gian của “Nhà tập” trước khi trở thành chủng sinh chính thức.

Trong thánh lễ ban mai hôm đó, đến phần cuối lễ, người đánh đàn bắt vào bài Kính chào nữ vương, thầy Tiến Dũng đứng lên giữ nhịp để chúng tôi hát. Hết đoạn 1, đến điệp khúc:

Ôi Maria! Nữ vương cao xa, luyến ái con quỳ gối kính chào. Ôi Maria! Nữ vương cao xa, luyến ái con nghiêng mình kính chào,thì bỗng dưng thầy quay mặt lên phía bàn thờ. Thầy khóc!

Hôm đó cũng là thánh lễ cuối cùng của đời thầy Tiến Dũng ở Hoàng Nguyên thân yêu, ghế tôi ngồi trong nhà thờ hôm đó gần chỗ thầy Tiến Dũng đứng, nên cử chỉ trên đây của thầy in đậm mãi vào trái tim tôi, từ ngày đó đến nay, 2015, đúng 65 năm trong đời, trải qua bao nhiêu là sóng gió, đổi thay mà tôi vẫn không thể quên cái cử chỉ ngài đưa tay lên gạt nước mắt. Cũng buổi sáng hôm ấy, sau bữa ăn sáng tại nhà cơm của trường, chung với các cha, các thầy và học trò chúng tôi, thầy Tiến Dũng lên Hà Nội chuẩn bị cho ngày du học Roma, rời xa Hà Nội, cho mãi đến năm 1965. Năm 1954, thầy Tiến Dũng thụ phong linh mục. Năm 1962, linh mục Tiến Dũng tốt nghiệp Tiến sĩ khoa sáng tác tại Nhạc viện Santa Cécilia (Giáo Hoàng Học viện Roma). Sau đó, cha Tiến Dũng về nước, chuyên lo cho Thánh nhạc, và âm nhạc. Như thành lập trường Suối Nhạc (1968) và giảng dạy các môn: Nhạc lý, hòa âm, sáng tác, dương cầm tại nhiều cơ sở đạo và đời. Năm 1972, ngài giảng dạy tại trường quốc gia Âm nhạc Sài-Gòn, nhạc viện Bach, ngài là Khoa trưởng Phân khoa Nhân văn Nghệ thuật của Đại học Minh Đức.

Mấy nhạc sĩ trong nước đã nhận xét về ngài như sau, trong đó có :

Giáo sư Tiến sĩ Quang Hải, nguyên Giám đốc Nhạc viện Tp.HCM, đã nói:

Một đặc điểm lớn của âm nhạc Tiến Dũng, mà mọi người ít để cập đến trong các bài phát biểu của đêm nhạc “Ngàn Lần Yêu”, đó là “tính dân tộc được vận dụng thật khéo léo, sáng tạo và hiện đại”. Nghe nhạc của ông là thấy ngay chất Việt Nam mặc dù được diễn tả bằng các phương tiện không phải của Việt Nam”(Wikipedia)

Còn Tiến sĩ âm nhạc Nguyễn Bách, nguyên trưởng phòng thu âm, thu hình của Nhạc viện Tp. Hồ Chí Minh đã đánh giá về sự nghiệp của Nhạc sư Tiến Dũng như sau:

Linh mục nhạc sĩ Tiến Dũng viết rất nhiều sách giáo khoa âm nhạc từ Nhạc lý Căn bản đến Hòa Âm, Đối Âm, Phối dàn nhạc,... Có thể nói chưa có một nhạc sĩ nào lại để lại cho hậu thế nhiều tài liệu giáo khoa âm nhạc qúy giá đến như thế. Bên cạnh đó, ông còn là người thành lập Trường Suối Nhạc, dàn nhạc Công Thức Mới. Trong lãnh vực dàn nhạc, ông đã say mê với việc tìm cách thay thế một số nhạc cụ truyền thống trong dàn nhạc giao hưởng quốc tế bằng các nhạc cụ truyền thống Việt Nam như mõ, trống chầu," và nhạc cụ của dàn nhạc estrade như guitar, saxophone,..." Ông đã đi trước con đường mà ngày nay xã hội đang theo đuổi: dân tộc hóa âm nhạc Tây phương kết hợp với hiện đại hóa âm nhạc truyền thống Việt Nam” (Wikipedia)

Linh mục Tiến sĩ Antôn Nguyễn Tiến Dũng về trời, đến nay đã được mười năm. Với tôi, ngài vẫn hiện diện ở đời qua những nhạc phẩm của ngài được đánh giá là khó hát, bác học, không phổ thông. Nhưng mỗi khi các ca đoàn hợp ca các bài như Bên sông Babylon, Con linh mục, Đêm tuyệt thánh này, Nữ vương Thiên đàng v.v…là tôi lại như có lửa cháy lên trong trái tim tôi và những giọt nước mắt của ngài trong thánh lễ buổi sáng cuối cùng ở trường Hoàng Nguyên năm 1950 đó, làm tôi nhớ đến ngài với bồi hồi và tiếc nuối.

Bây giờ, thỉnh thoảng tôi trở lại Trụ sở Hà Nội, hay nhà hưu dưỡng các linh mục gốc Hà Nội, ở Ngã Sáu quận 5 Sài-Gòn, nơi cha Tiến Dũng cư trú suốt cuộc đời linh mục của ngài, sau ngày ngài ở Roma trở về nước, ngài cũng qua đời tại đây, tôi lại đi qua cái gian nhà ngay ngoài cổng vào, bên phải. Ở đó vẫn còn cái đàn piano ngài ngồi dạy học trò. Trước kia và bây giờ vẫn thế, cái gian nhà nhỏ trống trải, không có một vật dụng nào khác của ngài hay của nhà hưu dưỡng, ngoài cây đàn này ra. Nó cũng chẳng có lấy một tấm vải phủ lên, che bụi bặm. Cái gian nhà lại nằm ngay phía trong gần cổng ra vào. Còn căn phòng số 2 của ngài, bên phải từ ngoài cổng đi vào, vẫn như cũ. Các vật dụng của ngài còn nguyên vẹn. Giờ nó là nơi tạm trú của mấy nữ tu sĩ dòng Mến Thánh Giá Hà Nội, vào thành phố học. Hiện nay, nhà hưu dưỡng các linh mục gốc Hà Nội chỉ còn mấy cha già, có cha thì lẫn. Nhà hưu dưỡng này, còn được gọi bằng một danh xưng phù hợp với vị trí của nó, chẳng những đối với giáo hội Việt Nam, mà cả với Giáo hội hoàn vũ nữa, là Trụ sở Hà Nội ở Sài-Gòn, hầu như bị bề trên ở Hà Nội và ngay cả bề trên sở tại bỏ quên (!?) Lúc Đức cha Ngô Quang Kiệt làm Tổng Giám mục Hà Nội, mỗi khi vào Sài-Gòn, ngài luôn về Trụ sở Hà Nội nghỉ. Không bao giờ ngài nghỉ đêm tại bất cứ nơi đâu. Ngài nói, mình có nhà thì phải về nhà mình nghỉ. Một lần, đức Tổng Kiệt có họp mặt với một số cựu chủng sinh gốc Hà Nội bàn chuyện xây cất lại Trụ sở hoặc di chuyển Trụ sở về Thủ Đức. Ngoài Đức Tổng Kiệt ra, không có vị nào để mắt đến nữa. Hà Nôi đóng góp nhiều cho Giáo hội về Giám mục, nhiều linh mục, nhiều nữ tu sĩ và cả Hồng y nữa, có thể nói là đứng nhất trong số mấy chục Giáo phận trong cả nước. Vậy mà Trụ sở của Hà Nội, lại nghèo nàn nhất, sơ sài nhất, cả tối tăm và quá chật hẹp so với các nhà hưu dưỡng của các linh mục về hưu của các giáo phận gốc ở miền Bắc!

Cách đây hơn một năm, tôi về nhà hưu viếng xác một linh mục mới qua đời, quàn trong nhà nguyện. Mấy cựu chủng sinh Hà Nội chúng tôi hẹn nhau đến kính viếng và dự thánh lễ cầu nguyện cho linh mục quá cố ấy. Lễ xong, chúng tôi ra ngoài sân, bên cạnh nhà nguyện, ngồi uống trà và tâm sự vài mẩu chuyện đời. Bên phía ngoài nhà hưu này, trông ra phía nhà thờ Ngã Sáu, có một khoảng đất trống rộng rãi trước đây, hiện nay đã mọc lên tòa nhà của Hội nghị và Tiệc cưới, có cái tên ngoại là ADORA, tôi nhìn tòa nhà này và không thấy ngôi nhà thờ Ngã Sau đâu! Nó choán hết không gian của khu vực này. Nghe nói, Tòa Giám mục Tp.HCM, chứ không phải Tòa Giám mục Sài-Gòn trước kia, vì tòa nhà mới chỉ hình thành trong thời gần đây, đã ký hợp đồng kinh doanh với ông chủ của Đông Phương, người có một lô nhà hàng, kinh doanh tiệc cưới, thời hạn 50 năm. Sau ngày hết hạn, nó thuộc về Tòa Giám mục.

Trở lại với cha Tiến Dũng, ngài sống thật giản dị, như một nghệ sĩ, chẳng cần ai quan tâm. Ngài khó tính ư? Một linh mục, một nghệ sĩ, một người thầy mẫu mực, phong cách của một tài danh ít ai có được và một di sản âm nhạc chưa một ai ở Việt Nam khám phá hay hiểu thấu, thì cũng là chuyện dễ hiểu. Một anh bạn tôi, đồng hương với ngài (Yên Cốc, Thanh Oai, Hà Nội), trước ngày anh đi Hoa Kỳ diện H.O, là Ca trưởng ca đoàn của giáo xứ Bình Quới , Sài-Gòn, nói rằng, thỉnh thoảng bà chị ruột của cha Tiến Dũng bảo đứa con trai của bà mang quà đến biếu cha, cậu bước vào trong phòng, chưa nói được lời nào, cha đã bảo về đi, cứ để đấy.

(Nhân ngày giỗ thứ mười của cha Tiến Dũng, 8.8.2005- 8.8.2015)



@.Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 01.9.2015.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004