Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




GIAN NAN LÀM NGƯỜI





Chương 4.


MẤT CHA


L úc này trên đường số 1 thỉnh thoảng lại gập một đoàn quân Tàu Tưởng đi qua. Những người lính phương xa, chan quấn xà cạp, đi giày vải mệt nhọc bước theo hàng. Có tốp họ khiêng chảo, gánh nồi, áo quân phục mở phanh, chiếc khăn mặt vắt vai, nhếch nhác mồ hôi chảy trên mặt, trên ngực. Đó là quân chủ lực của Tưởng Giới Thạch sang Việt Nam thực hiện việc giải giáp quân Nhật. Cũng có làn đoàn quân nghỉ chân tại phố Ga dưới các tán cây bàng, hoặc mái hiên mọi nhà. Những người linh tranh thủ nghỉ, cởi áo săm soi bắt rận

Có người lính đến cửa nhà tôi, anh ta đọc tên hiệu nên biết đây là hiệu thuốc bắc, nên bước vào hiệu nói xì xồ một hồi tiếng Quan Thoại, cả nhà nào ai biết, ông tôi nhanh trí lấy bút và viết vài chữ. Anh lính cũng viết vài chữ trả lời. Thế là hai bên hiểu nhau cười xòa thân thiên. Ông tôi thông cảm bảo con trai:

-Anh Ba cấp cho người ta một ít thuốc Bách giải, cao Sinh cơ. Người ta đi xa ốm đau thế này liệu có mang thân về được với gia đình không. ?

Từ ông nội tôi đã truyền sang bố tôi một tấm lòng nhân ái, cứu người là trên hết. Hai bố con dắt nhau trong nghề thuốc, nên mới 40 tuổi, bố tôi đã nổi tiếng là một lương y giỏi. Ông tập hợp mọi kiến thức, kinh nghiệm chẩn trị học tập gương người xưa viết thành tập sách nhan đề “Kinh Nghiệm Y Phương” đã xuất bản tháng 3 năm 1945 phát hành trong cả nước.

Từ ngày anh Thước đi theo cách mạng, tôi luôn nhìn thấy bố tôi lúc thì xem mạch bốc thuốc, lúc thì trực tiếp sao tẩm, nấu cao. Công việc nhiều hơn, ông chẳng có lúc nào rỗi rãi để vui với các con.

Tuy nhiên nếu có người đến mời thày thuốc đi khám bệnh dù là sơm, dù tối ông đều sốt sắng đi ngay. Bao giờ ra đường ông cũng ăn mặc chững chạc, áo the khăn xếp, cầm ô che nắng ung dung thư thái.

Bệnh dịch hạch, bênh sốt chấy rận, rồi bệnh tả phát sinh sau trận chết đói nhiều người đã lan nhanh. Ông bắt vợ con phải đốt bồ kết để đuổi tà khí tránh bệnh tât, riêng ông vẫn đến nơi người bệnh chờ thầy thuốc. Mẹ tôi lúc này đã sinh em bé. Bà nói với chồng :

-Ông cứ xông pha lam chướng nhiều, nhỡ ra thì khổ vợ con lắm đấy.

Nhưng có người ốm cần, bố tôi vẫn đi.Tháng Tư năm Bính Tuất (1946) một ngày như bao ngày khác bố tôi cắp ô đến nhà người bệnh để thăm khám, mãi chiều mới về.Nét mặt ông buồn bực, đặt tráp thuốc đã nói với cụ ;

-Hôm nay người bệnh bị thực tả, đi tháo ra nước, tung tóe ướt cả quần áo con. Con đã dùng Hồi dương Quế Phụ thang cho uống mà người ta vẫn quyết lạnh, không sao cứu được

Ông tôi vội nói “Thế thì anh phải tẩy uế ngay đi, kẻo cái trùng nó lây vào người thì gay lắm.”

Nhưng cuộc đời như định mệnh, đêm ấy trong giấc ngủ chập chờn tôi nghe có tiếng mẹ hỏi “ Ông làm sao thế ? Thầy ơi ! Nhà con bị ngã ở ngài sân đây nầy” Thì ra bố tôi bị cảm tả, cũng quyết lạnh như con bệnh buổi chiều nên ngã quay trên sân. Mẹ tôi mới sinh em bé, một mình ông tôi vát vả vực con đưa vào giường. May mà ông mới bị nhiễm bệnh, ông tôi giàu kinh nghiệm chẩn trị nên đã ứng cứu kip thời

Hơn tuần sau bố đã khỏi bệnh, lại làm mọi việc trong nhà, vẫn bốc thuốc, xem mạch như không có gì xẩy ra


Quân Pháp đã bắt đầu gây hấn tại Hà Nội

Những chuyến tàu xuôi dỗ laị ga Thường Tín thường mang theo tin xấu. Ở Hà Nội lính Pháp ngổ ngáo gây sự bắn giết dân lành ở phố Yên Ninh, khiêu khích công an và bộ đội ta. Chính phủ đã ra lệnh bình tĩnh sẵn sàng chiến đấu, tản cư người già và trẻ em ra khỏi thành phố

Thấy tình hình căng thẳng, ông nội bảo “ Thầy phải về Bưởi xem trên ấy thu xếp ra sao. Ở đây vợ chồng con phải lưu ý đừng để sơ suất điều gì”

-Nhưng mà trên Hà Nội cũng gay go lắm chưa biết “nổ” ra lúc nào. Thầy về Bưởi chúng con không an tâm.

-Ta ở đây cũng nóng ruột lắm. Người già về quê, có gì đâu mà chúng mày lo “Thăng Long phi chiến địa” Các cụ đã truyền lại từ bao đời nay, các con đừng ngại.

Một buổi sáng thu xếp xong công việc , ông nội tôi đàng hoàng mặc áo đoạn mới, chít khăn nhiễu mới, đi về Hà Nội nơi có nhiều nguy hiểm đang dập dình mà bình tĩnh như những lần về Giỗ Họ.


Tiếng súng Toàn quốc Kháng Chiến nổ dồn dập từ 20 giờ đêm 19-12-1946. Hà Nội đã là một biển lửa. Mọi người dân ở Thường Tín đều ra cửa, nhìn lên phía Bắc xem kinh thành bốc cháy trong chiến đấu.

Từ hôm đó, những con tàu không chạy nữa. Sân ga yên lặng với những đoàn tàu nằm chết. Trái lại trên mặt đường số 1 thì nhốn nháo dòng người đi về phía Nam. Đủ mọi phương tiện giao thông có xe tay, xe bò kéo, xe người kéo, va cả những chiếc xe du lịch mui trần chất đầy hành lý sau xe chen lấn nhau.

Những người già chưa quen đường xa tỏ vẻ mỏi mệt, trái lại những trung niên vẫn mặc quần áo chỉnh tề. Bỏ lại đô thành đằng sau lưng, họ ra đi cứ tưởng một vài ngày lại trở về nên trông thanh thản nhẹ nhàng lăm. Đoàn người nối nhau đi qua phố Ga rồi tản về phía làng mạc cuối đường chẳng biết họ đi đâu.

Ở Thường Tín đã có chiều đổi khác. Ngày nào cũng có người đến nhà vận động yêu cầu gia đình đi tản cư, thực hiện vườn không nhà trống. Bố tôi bàn với vợ con :

-Bây giờ về Bưởi là không được nữa. Mợ đưa các con về bên ngoại ở nhờ. Tôi ở lại trông nhà, với lại mình còn nhiều việc phải lo chưa xong nên chưa dứt được. Bao giờ chiến sự đến, tôi lui về quê cũng kịp. Quân Pháp còn không đánh nổi quân ta ở chợ Đồng Xuân thì làm sao mà đánh ra ngoại thành được.

Mẹ tôi vẫn như các lần trước nghe sự quyết đinh của chồng mà làm. Bà chỉ dặn lại :

-Ông có làm gì cũng phải tránh hòn tên mũi đạn. Thuê người đào cái “tăng xê” (hầm tránh) kẻo lúc nguy cấp không biết tránh vào đâu.

Mấy anh em chúng tôi theo mẹ đi ngược phố Ga qua chợ Vồi rồi qua cổng làng Hà Hồi về quê ngoại. Bác Hai vẫn ở tại ngôi nhà ngang cũ dựng từ thời cụ ngoại. Ở đây chúng tôi hòa mình vào cuộc sống nông thôn cùng các anh chị con bác Hai làm vườn, hái rau, tắm ao và đùa nghịch mọi trò.

Tết năm 1947, cái Tết ở quê ngoại, trong hoàn cảnh xa nhà cũ, bố tôi mang lễ vật về dâng cúng các cụ. Ông kiểm tra bài học của các con xong rồi giục mẹ tôi đi lễ chùa.

Bác Hai và bố tôi ngồi nói chuyện trong gian nhà cổ. Hai người ngồi im lặng nhìn cảnh con cháu vô rtuw đùa nghịch. Tôi len lén đứng bên cạnh nghe lỏm- một thói xấu mà bố tôi cấm kỵ mọi ngày- nay không hiểu sao ông vẫn cho phép. Một tay bố xoa trên lưng tôi, một tay chống cầm, ông nói với bác Hai :

-Nhân vợ em đi lễ chùa, em xin nói để bác rõ, em ở lại ga không phải vì tiếc cái cửa hiệu mà vì ở Ga có lập đội cứu thương, em là thầy thuốc bỏ đi sao nỡ. Nên hôm nay về lễ Tết với bác, gập các cháu có lẽ cũng là lần cuối cùng bác ạ. Bộ đội mình đã rút khỏi Liên khu I rồi chẳng mấy thì thằng Pháp sẽ đánh xuống phía Nam. Em ở lại Ga tham gia chiến đấu, nay xin thưa với bác là nếu có gì không may xin bác trông nom mẹ con nhà nó.

-Chú cứ nói dại mồm. Cứu thương chỉ là nhiệm vụ tuyến sau, còn cô ấy là em ruột tôi, các cháu là cháu ruột tôi. Tôi có nghĩa vụ phải trông nom .

Tự nhiên bác Hai gắt lên như vậy.

-Khe khẽ chứ bác kẻo vợ em nó nghe thấy phiền lắm. Thôi, em xin phép đi đây.

Chúng tôi lóc nhóc chạy theo

-Bố ơi, bố đi à. Bố đi đâu.

-Bố về ga, mấy hôm nữa bố lại đến . Các con ở đây ngoan nhé.

Nói xong bố tôi đĩnh đạc giưng ô che nắng,vẫn áo dài the, quần trắng thong thả đi về phía ga để lại trong lòng lũ trẻ một hình ảnh không thể nào quên

Thế là những gì liên hệ với phố Ga đã dần mất đi trong trí nhớ. Chúng tôi hòa mình vào cuộc sống nông thôn cùng các anh chị con nhà bác Hai làm vườn, hái rau, tắm ao, phơi nắng, đùa nghịch. Chín năm kháng chiến mẹ tôi dẫn dắt các con tản cư qua các tỉnh Hà Đông, Nam Định. Mỗi nơi ở một thời gian, khi chiến sự lan đến lại lánh đi nơi khác. Cuộc sống phiêu lưu đó tôi sẽ kể dần về sau. Nhưng ngày đầu nghe tiếng súng Tây càn, nhìn cảnh náo loạn của một làng quê vốn yên tĩnh, nay náo loạn trong cơn binh hỏa tôi còn nhớ mãi.

Đó là ngày đầu năm 1947, hình như là sau Tết vì ngô trên cánh đồng đã nhú bắp, những hạt sương đêm còn đọng thành giọt to trên lá cải bắp, bụi tầm xuân cuối vườn vẫn nở hoa, tươi tắn tỏa hương.

Đột nhiên trên bầu trời Hà Hồi có những chiếc máy bay khu trục ầm ầm lao đến, chúi đầu ném bom xuống phủ Thường Tín. Những chiếc xe bọc thép chạy trên đường 71 vỏng lên Nỏ Bạn, qua cổng Đông làng Khê Hồi. Đến mỗi nơi quân Pháp lại đổ xuống một số lính

Cả tổng Hà Hồi nhốn nháo vì tiếng đạn bay, tiếng nổ xé tai của đạn mooc chê câu từ ngoài đường vào làng, đạn đại liên từ trên máy bay bắn xuống làng làm cháy các mái nhà gianh, các đống rơm gây nên khói bụi mù mịt. Cả đám người đùng đùng chạy từ Khê Hồi sang Hà Hồi, rồi quay lại dồn cục ở làng Phú. Lại có người kêu Tây nó đã đến nhà thờ làng Hà Hồi. Không biết thực hay hư, người ta lại chạy tóa ra cánh đồng. Ngoài đường, người chạy, người gọi nhau, trẻ em la khóc làm cho các gia đình không biết đi đường nào.

Mẹ tôi gọi hai chị con bác bên ngoại “ Chúng mày mỗi đứa cõng một em chạy đi giúp cô với” Các chị ôm vội hai người chạy đi, còn tôi cứ níu chặt mẹ không chịu theo ai. Mấy mẹ con xuống bếp, nép sau cánh nong rách. Ngoài đường làng, tiếng người chạy đã dần im ắng . Nghe xa xa có tiếng giầy đinh đang bước. Tây nó đến đấy ! Mọi con tim gần như ngừng đập. Ai nấy căng tai theo dõi. Tôi nép mình bên mẹ và em bé cũng hồi hộp lắm. Không biết Tây là ai mà mọi người đều sợ thế.? Mẹ tôi ôm chặt em bé, luôn miệng khấn “Nam mô A di đà Phật” như muốn nhờ sự che chở của Phật tổ.

Thằng Tây đã đến thực sự. Chúng bước rộn rịch ở ngoài ngõ nhưng không hiểu sao lại không rẽ vào. Có lẽ vì căn nhà của bác Hai quá tồi tàn nên nó không đẻ ý chăng? Bên kia hàng rào dâm bụt lại có tiếng giầy đinh đi trên sân gạch, có tiếng quat lạ tai và một phát súng nổ đanh gọn. Tất cả diễn ra nhanh chóng khiến cho không ai hiểu điều gì đã xảy ra ... Cứ thế làng Phú Cốc chìm trong nỗi sợ hãi cho đến khi quân Pháp rút đi hết.

Trận càn đó đã để lại ngôi nhà gạch trước nhà bác Hai xác một cụ già bị bắn chết. Trong các ngõ xóm nơi nào cũng tan hoang bừa bãi.

Buổi tối, lại còn một nỗi lo khác. Hai chị lớn bế các em chạy lạc nơi đâu vẫn chưa thấy về. Bao nhiêu là nghi hoặc. Đạn bắn như thế, Tây nó ác như thế thì còn sống hay không, mẹ tôi cứ cuống lên vì lo sợ khiến bác Hai gắt lên “ Thì cô cứ để tôi huy động các cháu đi tìm, đêm tối thế này, có cuống cũng không kip nữa.” Vừa may đến khoảng cuối canh Một thì thấy hai chị trở về, mang theo anh Ngọ và em Trinh. Cả nhà ôm lấy nhau mừng mừng tủi tủi.

Chị Rốt kể “ Chúng cháu chạy rúc vào bãi ngô, chạy sâu quá nên không biết lối ra. Về sau nhìn tháp chuông nhà thờ Hà Hồi, lấy hướng lần về. Ra đến đường cái lại sợ Tây vẫn còn trong làng nên cứ nằm đó nghe ngóng cho đến lúc nghe trong các xóm có tiếng người làng mới yên dạ về làng”

-Con bé thế mà khôn ngoan. Thế mày cho em ăn bằng gì ?

-Con bẻ ngô nhai hạt sữa rồi nhá cho chúng nó.

Cả nhà cười ồ. Nỗi lo về trận càn đầu tiên tạm lắng xuống Nhưng từ nay Phú Cốc đã là vùng tranh chấp, không biết trận càn mới sẽ xảy ra vào lúc nào và tổ thất sẽ ra sao ?

Sáng hôm sau tin dữ từ ga đưa về : đoàn xe thiết giáp của quân Pháp đã tiến đánh phố Ga cùng lúc máy bay ném bom trong Phủ, Đội tự vệ bị vỡ trận tuyến rút qua cửa hiệu thuốc về phía cánh đồng. Bố tôi cõng một thương binh chạy sau cùng bị trúng đạn bắn theo. Anh em đưa xác cả hai người về quàn tại Quán Âm Hồn chờ khâm liệm

Bác Hai lặng đi. Ông bảo các anh lớn “Chúng mày phá ngay cái phản vác lên đấy đóng áo cho chú, chứ bây giờ tìm đâu ra áo tốt, để thế thì khổ lắm.Đi đi”

Mẹ tôi từ nỗi sợ hôm qua, lại phải chịu tiếp nỗi mất mát quá lớn nên cứ như người mất hồn, bế vội em bé chạy theo, đầu tóc rũ rượi lên canhs đồng Vồi.

Chiến tranh ác liệt ào đến như cơn lốc đổ xuống mọi gia đình, chẳng ai kịp phòng vệ . Anh em chúng tôi không được đi theo vì sợ Tây còn phục kích đâu đó đành cứ ôm nhau mà khóc.

Một hôm tôi thấy bác Hai và mẹ tôi ngồi nói chuyện. Hai người có vẻ đang nói về điều gì khó khăn lắm. Bác Hai nói :

-Ở đây anh chả tiếc gì cô, nhà của bố mẹ để lại, cô lại là người có nhiều giúp đỡ với gia đình, không ai quên ơn cô. Nhưng cô phải nghĩ ta sẽ sống ra sao. Đây là vùng địch sẽ càn quét nhiều, chẳng may bị hòn tên mũi đạn thì khổ cho anh, khổ cho cô. Cô phải thu xếp theo mọi người ra vùng tự do càng nhanh càng tôt. Nên đi về phía Đòng Quan, Quán Bóng nơi ấy có nhiều đường chạy. Tôi sẽ tìm người dẫn đường đưa cô và các cháu đi được an toàn.

-Thế bác và các cháu định ở mãi đây sao ?

-Thì đây là quê mình, là nhà thờ các cụ, anh bỏ lại cho Tây hay sao .? Sống chết đành bám quê cô ạ.

Sau buổi nói chuyện với bác Hai, mẹ tôi lẳng lặng sắp gánh và các bị quần áo. Bà chia quần áo thành bốn cái bị, mỗi đứa đeo một cái chứa đầy các vật dụng và quần áo riêng. Khin có báo động, bà khoác lên vai từng đứa có lạc cũng đủ dủng. Còn hai em bé, bà làm sẵn đôi quang đặt thử chúng vào, xốc gánh xem cân chua, khi chạy đi bà sẽ gánh các em. Chúng tôi sẽ đeo mỗi dứa một bị hành lý. Đi đâu nhờ vả nơi đấy thôi .


... CÒN TIẾP ...


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 25.8.2015.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004