Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

tiểu thuyết


ĐẤT BỎNG



        CHƯƠNG 9.



 Làng Cẩm Bình nằm dài ven biển và đường giao thông chính qua Cẩm Phả. Dân phần lớn người Kinh, Sán Dìu và Hoa kiều. Người Kinh từ Hòn Một, Đá Chồng, Quang Hanh lên, từ Nam Định, Hà Nam, Hải Dương, Thái Bình đổ đến. Người Sán Dìu từ núi xuống, từ Cẩm Phả mán về, từ Hòn Một sang. Người Hoa di cư dai dẳng và liên tục bởi họ đến, họ đi rồi lại đến, khá nhiều lần trong đời. Cẩm Bình rộng vắng và thưa thớt. Những đồi thấp gò nhỏ kéo dài choán gần hết những thửa ruộng mỡ màu. Dân trồng lúa và rau. Mồ hôi tưới xuống ruộng vườn. Lác đác có người vào tầng làm mỏ. Khi câu chuyện xảy ra, Cẩm Bình đã có những nhóm quần cư. Nhỏ thì dăm ba nhà. Lớn đến vài chục. Họ thân thiết nhau do quan hệ dòng tộc, huyết thống, do cùng làng, đồng hương…Dân tự phát đắp đê. Ai đắp nhà ấy, lâu dần thành đê lớn. Đá xanh từ Đá Chồng và biển chuyển về. Người ta phá đá nung vôi, đắp đập, san đồi, sống phần lớn tự cung tự cấp. Nhà cửa dựng lên, thấp lè tè, ra vào phải cúi, tránh bão gió. Số người theo đạo thiên chúa khá đông gọi là dân công giáo có nghĩa địa riêng. Họ cầu kinh tại nhà vì chưa có nhà thờ. Chúa ngự trong lòng họ. Người theo đạo Phật và kẻ vô sư vô sách tự nhiên quấn túm lại. Những chuyện nơi này nơi khác có thể nổi cộm, sôi động ầm ĩ nhưng ở làng này dễ thông cảm cho nhau. Họ có bao nhiêu mối lo toan cho bản thân, cho vợ con anh em, cho cộng đồng. Trong nhóm không có sự xa cách. Đồng cam cộng khổ cùng nhau.

Cẩm Phả có tên từ năm trăm năm trước do cụ Mạc Ngọc Liễn - thực tên là Nguyễn Ngọc Liễn có nhiều công lao với triều Mạc được ban quốc tính - đặt khi chỉ huy binh lính đắp thành Quang Hanh chặn đường tiến của đối phương từ trong phía nam ra. Lợi dụng hình thế đồi núi, cụ chỉ huy quân Mạc chống Trịnh mấy chục năm trời. Trước khi qua đời, cụ trao quyền bính cho con, đưa quân về Cao Bằng phò vua. Trong thư dâng vua, cụ viết đại ý khí vận nhà Mạc đã hết là do số trời. Chúng ta về Cao Bằng nuôi quân dưỡng tướng, đợi thời cơ. Không nên lấy sức chọi sức, dân chúng phải nạn binh đao, khổ cực trăm bề. Đừng bao giờ cậy sức người ngoài mà phải chăm dân, thương dân. Đừng kéo giặc ngoài vào nước ta, có thể lợi cho dòng họ nhưng với đất nước, tội không kể xiết. Dân chịu lầm than là tội nặng của vua một nước. Chẳng biết có phải vì bức thư ấy không mà sau này nhà Mạc có thời khó khăn như trứng để đầu gậy cũng không rước giặc Minh vào. Ngày ở Quang Hanh, thấy phong cảnh đẹp, cụ đặt tên cho vùng đất này là Cẩm Phổ sau đọc thành Cẩm Phả với ý nghĩa vùng đất rộng dài, đẹp như gấm vóc. Cẩm Bình có tên với ý nghĩa vùng đất gấm bằng phẳng. Gọi là bằng phẳng nhưng không ai tính nổi công sức cải tạo của con người từ ngày mở đất lập làng cho đến nay. Bao nhiêu hồ ao sông suối khe đầm thành ruộng vườn xum xuê cây trái. Những chòi canh chót vót phòng thú dữ, canh thú dữ, phát hiện thú dữ về phá hoại cuộc sống yên lành, phá hoại ruộng nương, bắt giết gia súc, gia cầm cuả mình, của bà con xung quanh. Người ở chung với kẻ thù cụ thể: sói báo, hùm beo, rắn rết…, với kẻ thù vô hình: ma quái, quỷ thần ẩn núp. Người người ngã xuống, người người sinh ra, mọc lên, đứng vững trước muôn trùng hiểm nguy. Không ngại khó, ngại khổ, đồng tâm hiệp lực chống trộm cướp, chống bão lũ thiên tai. Người dong trâu đi cày từ mờ đất. Hùm lững thững đi theo, chầu chực đầu bờ, chờ cơ hội bắt trâu. Người đi làm xa, đái vào hòn đất nỏ, mang về bón ruộng. Chưa tối đã phải lùa gà vịt ngan ngỗng... về kẻo cầy cáo túm bắt. Những hàng dậu đơn, dậu đôi ngăn chặn thú hoang cũng như nhà chốt cửa sơ sài canh giữ người ngay thôi. Công sức mình đổ ra, đầu óc mình gìn giữ.

Bà Dâu, bà Đay có mảnh vườn rộng đầy thò lò, cải bắp…Dưới ao thả bè muống. Mùa nào thức ấy. Vườn đầy rau. Mỗi khi mưa xuống, muống ngoi những mầm non tơ, luộc ăn khó quên. Cá vào ao do lạc nước, do lụt trôi. Bèo thả từng khoanh để nuôi lợn. Nuôi cho có việc làm chứ tính sơ sơ đánh ruồi không đủ miệng cóc. Đôi lợn thả từ đầu năm chí cuối, ăn bao nhiêu cám khoai, đầu thừa đuôi thẹo chưa nổi sáu chục cân một con. Gà ngan nuôi tam toạng. Con diều tha quạ bắt, con cáo đuổi chồn vồ, con sa ao rơi hố…không tính xuể. Rau trồng lúc dồn đống, ngâm làm phân, lúc bói từng ngọn, nhặt nhạnh suốt dậu rào không đủ bữa. Hai tay vày lỗ miệng suốt đời. Bà Dâu là chị bà Đay. Cả hai đều dân quê cùng làng Hải Cát, Hải Hậu. Ông Dâu về, lấy chị đưa ra. Em theo chị, chân ướt chân ráo vớ luôn được ông Đay. Hai bà chả nhớ gì tên thật của mình, Dâu, Đay cũng không phái tên chồng. Đó là tên đứa con lớn hai nhà. Đôn đáo công việc cùng cha mẹ nuôi em, lớn lên về nhà chồng, chăm sóc cha mẹ chồng, nuôi con, làm lụng. Mỗi bà dăm bảy đứa. Tên con còn không nhớ nữa là tên mình. Chồng chết ở vậy, nuôi đàn con lộc ngộc, làm không ngơi tay, đi không bén đất. Đàn con đứa leo tầng, đứa làm rừng, đứa chèo mủng ra đảo, Dăm bữa nửa tháng nhà mới có dịp đủ mặt. Bảo chúng gom tiền lấy vợ, chúng cười trừ. Đành phải một mình thu xếp dựng vợ gả chồng cho chúng. Lấy vợ rồi, con trai nhận đất làm nhà. Con gái đi làm dâu, thỉnh thoảnh ghé qua, thấy gì nhặt được là nhặt. Bà Đay thường phàn nàn: - Đẻ gái vô tích sự. Nuôi ăn cho mau lớn, về nhà chồng còn khóc lóc chờ người dỗ. Ra cửa còn bíu cột hỉ mũi. Mẹ phải múc nước rửa mãi mới sạch. Vậy mà khi đi thăm dâu con người ta đẻ con gái, bà an ủi: - Ruộng sâu trâu nái không bằng con gái đầu lòng. Con trai to xác lười thối thây ra. Con gái chăm chỉ làm đỡ việc mình. Tốt quá đi ấy chứ! Lí lẽ của các bà được minh chứng bằng lời dẫn dụ, nhà ấy, con ấy…bà biết không? Toàn những hoàn cảnh cụ thể, dễ thấy, không bài bác được.

Làng xóm cứ thế tồn tại sinh sôi. Nhóm người công giáo có ông trùm bà trùm. Nhóm người khác có đền chùa miếu mạo. Đình cũng được dựng ở nhiều nơi. Đình Động, đình Bình Trung, đình Quang Hanh… của bà con Sán Dìu. Đình làng của bà con người Kinh. Đình đông đúc trong các kỳ lễ hội. Đàn, sáo, trống mõ, rước xách linh đình rồi lại quạnh quẽ im vắng khi hội tan. Chim kéo về, ăn đa, ăn quả nhả hạt đầy sân. Dân nói chung thích sống hoà bình yên ổn lại ràng buộc quan hệ thân tình mật thiết nên ít thấy kiện tụng cáo buộc.

Hoán vào nhà Ao. Hai anh em mua rượu uống. Vợ Ao cùng Bãi chào làm phép rồi vào gian trong. Tầng hết than, đang dò tìm vỉa mới. Cha con cậu Nam cần ít người, cho cả nhóm nghỉ. Rỗi việc, Ao rủ Hoán về. Hai người uống hết cút rượu. Ao vào buồng. Sau một hồi thầm thào, vợ Ao đưa con cho chồng, chạy ra ngoài. Lát sau, Bãi đưa bát lạc rang được cuốn trong cái áo bằng bao tải. Vợ Ao đã mua thêm rượu về.

Cả hai ngồi một lúc, uống đến hết. Hoán ngật ngưỡng đi ra. Bà Dâu thấy con về sớm, lựa lời hỏi. Hoán không nói, vào giường nằm. Tối một lúc, Hoán dậy. Khát quá, anh ra vại, làm gáo tướng, uống ừng ực. Thấy đầu váng, Hoán lại vào giường. Giường nhà anh vào loại khá. Bốn chân bốn bạnh bằng gỗ. Lạch ken bằng tre vót, trải chiếu lên. Bà Dâu thấy con nằm, lo lắng vào xem. Nó co quắp một góc. Đưa tay sờ trán con thấy ấm, bà lẩm bẩm đi ra. Nấu cơm xong, trăng đã chếch phía đầu nhà, bà gọi Hoán. Anh trở dậy, vươn vai ngáp. Bà kêu khổ. Con trai lớn bằng sào bằng với mà chẳng được nhờ. Hoán kêu bà sao không đưa con dâu về giúp.

- Nhưng mày có ưng đứa nào đâu? Cái Hồ con bà Năm. Nó hiền lành, chịu khó mày bảo nó đần. Cái Kim con bà Nhỡ mày chê nó bé. Cái Toán con bà Cúc nhanh nhẹn ra trò, gặp tao đâu cũng đon đả u u con con, mày diễu nó kều, nhanh nhảu đoảng. Con Láng đấy, ngoan hết chỗ nói, mày khen đểu nó, giàu chí tưởng bở. Ngữ ấy lấy về có nuôi báo cô, càng già càng phát ngu. Mày không ưa thì dưa có dòi, chả biết làm sao. Tao còn khổ với mày.

- Mẹ cứ sồn sồn lên vậy. Mẹ lấy vợ cho con hay lấy con cho mẹ?

- Mày xem ưng đứa nào mẹ hỏi cho. Con người ta đứa bế đứa bồng, đứa trông đứa chạy rồi sao mày còn lông bông thế? Khổ đấy con ạ.

Hoán lặng thinh, đưa bát cho mẹ xới cơm. Anh nũng nịu: - Mẹ này! Mẹ có biết cái Bãi em thằng Ao không? Cái thằng làm cùng con một tầng ấy?

- Thằng Ao hôm nọ vào nhà mình chứ gì?

- Mẹ xem hỏi em nó cho con nhé!

- Mẹ chưa biết nó. Nhà nó đâu để mẹ đến - Bà Dâu mừng quýnh.

Lâu lâu, Toàn cấu lại lần vào nhà bà Khảo. Hắn nửa công khai nửa bí mật lững thững trên con đường không phải lúc nào cũng vắng. Ăn vụng phải biết chùi mép. Không thể liều lĩnh quàng xiên được. Bà Khảo ngồi ngáp vặt. Khách càng ngày càng thưa. Bà đã lễ bái đền chùa mãi rồi. Người ta mua ở chợ, mua ở gần nhà, mua của người quen. Giục con Xuơ thu dọn hàng sớm mà nghỉ, bà đứng lên, đấm lưng vài cái. Thấy Toàn tới, bà cố giấu nỗi mừng vẫn không giấu nổi. Con Xuơ vừa ngại, vừa sợ bác Toàn lại biết có dềnh dàng cũng chẳng xơ múi gì. Nó liến thoắng lên xuống dọn cho xong. Bà Khảo nhìn nó, khoan khoái cả người, mời Toàn ngồi. Ăn miếng trầu bà đưa, Toàn đánh mắt. Con Xuơ đã dọn xong, lên giường nằm rồi. Toàn lập lờ:

- Nhớ em quá lắm!

- Nhớ cái con khỉ. Làm người ta đợi mỏi cả mắt.

- Người ta à? Em chứ!

- Ừ thì em. Đi đâu mà mất mặt.

- Hôm nọ anh tới. Đợi mãi không thấy.

- Về ngay chứ gì? Trông ghét mặt.

- Ghét ai?

- Ghét ai thì biết. Tôi không đùa đâu.

- Phải gọi anh xưng em cẩn thận không được nhi nha nhi nhô đâu đấy. Kim chỉ phải có đầu. Cá mè một lứa, cá đối bằng đầu, người ta cười cho.

Sau một cái nguýt dài, bà Khảo ném cái thân thể nặng nề, to béo xuống người Toàn: - Gọi thì gọi. Anh còn lít nhít, hoi hoi hơi sữa của em…

Chuyện nhùng nhằng như thế một hồi. Toàn kéo bà Khảo xuống nhà dưới. Bà giẫy giẫy vừa chống trả vừa khuyến khích Toàn. Vật bà xuống giường, hắn nửa nằm nửa ngồi, lật yếm bà lên. Chiếc giường rên ken két. Toàn nằm ngửa, giở đùa giở thật, bắt bà cởi quần hắn, cởi quần bà. Bà đẩy Xuơ vào góc rồi nằm ườn ra. Chần chừ một lát, hắn từ từ trườn lên cái thân hình trắng nhờ nhờ đầy đặn phốp pháp ấy. Đểu cáng hơn, trong lúc bà như mê đi, hắn lùa tay vào dưới yếm con Xuơ. Người hắn dô lên dạt xuống. Con Xuơ cựa mình xoay người, trốn cái bàn tay đểu giả. Hắn rút tay ra, ghì riết lấy bà, miệng lắp bắp: - Có thích không em?. Bà Khảo gật gật, tay run run bịt vào miệng hắn.

Cuộc sống vẫn bình lặng trôi. Ông Bội không có quan hệ ruột thịt nhưng trong sâu thẳm lòng mình, Cheo còn ơn ông hơn cả mẹ cha. Sau bao gian lao tưởng không còn hơi sức, ông nâng đỡ Cheo từng đường đi nước bước, không quản gì mồ hôi và cả xương máu theo đúng nghĩa đen. Gìơ ông khuất núi, căn nhà trống lạnh hẳn. Đi làm về, Cheo chỉ chăm chú vào đứa con. Ông Bội mất, Nhằng cũng phần nào hối hận về việc làm bậy bạ của mình. Cai Toàn vẫn nhâng nhâng nhao nhao, thích tự ngắm mình, thích cả đến những lời khen xỏ mà trước đây hắn không chú ý.


Bà Dâu đã tìm đến nhà Ao, xem mặt Bãi. Bãi vô tư như không. Cô chỉ nghe đâu nhà bà ở Cẩm Bình rồi chú tâm chăm sóc đứa cháu con anh trai, làm lặt vặt trong nhà. Bà Dâu nhìn trông xem ngắm ngầm Bãi. Chả có gì đáng chê nhưng khen thì chưa. Bà ra về sau khi nhắc cô nhắn lại. Con bà là Hoán cùng làm với anh Ao. Bà có việc, đi qua ghé vào thăm.

Tối nhọ mặt mới về, nghe nói lại, Ao ừ ào cho qua. Anh còn đang lùng bùng lo nghĩ giải quyết việc hệ trọng hơn. Đá vốn vội vàng hấp tấp, xoa tay vuốt lên vết sẹo bóng láng kể với Ao. Giọng Đá nhỏ nhẹ, bí mật, người lại thấp. Ao phải cúi xuống mới nghe thủng chuyện. Vốn liều lĩnh, thích mạo hiểm, Ao to giọng: - Aò đi! Sợ đếch gì? Cho thằng ấy không còn răng ăn cứt chứ để yên à? - Nốt ruồi to bên cánh mũi nhếch lên nhếch xuống trông nghịch nghịch dưới cặp mắt sáng và đôi lông mày rậm.

- Khe khẽ cái mồm thôi. Phải làm thế nào cho nó nhớ đời.

- Aò đi! Sợ đếch gì?

- Không được đâu. Phải quả tang, bắt được tay, day được trán.

- Hay bàn với thằng Sỏi, thằng Đồng?

- Ừ! Nhưng nó ở xa, lâu lâu mới về.

- Còn thằng Bào?

- Thôi! Cứ thế! Để tao nghĩ thêm. Mày cứ tìm, nói với thằng Sỏi, thằng Đồng, bàn kĩ với thằng Cải

- Làm gì phải lôi thôi thế. Aò đi. Sợ đếch gì.

Tầng than chưa sáng rõ. Bếp đã được đốt lên. Ngọn lửa mới cháy, than tốt, vươn lên những ngọn xanh biếc. Tốp người đến sớm, chen nhau ngổi trước đống lửa. Ông Cùi ngồi trên tảng đá kê, hai tay trước gối, đầu gục xuống. Chắc ông ngủ. Chiếc áo bao tải thô, khâu vụng, trùm lên người ông. Chuyện con cà con kê cóp nhặt đâu đâu được mang ra kể cho tới khi nhìn rõ đất. Cậu Nam đã nghỉ mấy hôm do tuổi tác, lại đau gối. Mợ Nam đi sớm, thấy gì chưa ưng ý, nhắc nhở lo lắng giúp cho Công thay cha vận hành công việc.

Tang tảng sáng, Mọi người lục tục đứng dậy. Bên đống lửa chỉ còn ông Cùi. Thường ngày ông ở khâu cuối, chuyển than đánh đống. Khi đổ được hai chuyến, người ta mới biết, í ới gọi ông. Không thấy trả lời, Đá lay vai ông. Cái đống bao ngả ra. Ông đã chết từ lúc mọi người xúm vào sưởi lửa.

Công sợ quá, đứng ngây người. Mặt cắt không còn hạt máu. Mợ Nam gọi mấy người đứng tuổi và Đá ra mép tầng, bàn cách giải quyết. Ông Cùi không anh em họ hàng thân thích, làm đã bảy tám năm vẫn ở chung lán phu nhà mợ Nam. Đá bàn để bốn người đưa ông ra đầu tầng, đào hố, cho ông yên nghỉ.

Sau khi đã bẻ chân bẻ tay, buộc các đầu ngón cái từng đôi với nhau, xác ông Cùi đã thẳng. Họ đào huyệt. Đất đá đầu tầng là đất cơi nên dễ đào. Bó phía trên xác ông vào cái bao ông vẫn mặc, hai người bước xuống lòng huyệt. Hai người còn lại, nâng xác ông đưa ra. Người dưới đỡ xuống, xoay cho thẳng rồi cùng nhảy lên mặt hố. Đất đá hắt rào rào. Vét cả đất đá chung quanh dồn lại cho huyệt mộ cao cao. Một người bẩy hòn đá to đặt lên đánh dấu. Đá chắp tay: - Sống gửi thác về. Ông Cùi ơi! Mong ông yên lòng nhắm mắt, phù hộ cho con cháu, cho chúng tôi.

Họ ra về, nhìn lại vẫn trông thấy hòn đá đánh dấu. Đánh dấu cho khuất mắt chứ ích gì. Chỉ vài cơn mưa là bằng địa. Có gì phải đánh dấu. Nhắm mắt xuôi tay là xong. Gío ù ù từng đợt lạnh. Ngày mai ngày kia, tháng sau năm sau liệu còn gì dưới mô đất ấy. Cả bốn người đều nghĩ thế nhưng không ai nói sợ buồn lây sang nhau.


- Hoán ơi! Chỗ cùng làm, tao bảo thật. Có chuyện này muốn bàn với mày. Thằng Toàn cấu, cai tầng hai ấy, mày biết chứ? Nó khốn nạn lắm. Kể mày nghe… Ao thầm thì kể lại câu chuyện Đá nói với mình mấy hôm trước.

- Ông Cheo đâu? Để vậy sao được? Phang cho nó mất ngáp đi.

- Tao nói thế. Bàn với mày. Đừng cho thằng Cheo biết. Con vợ nó khiếp vía phải thôi chứ bới to ra làm gì. Trăm sự do thằng Toàn cấu. Sau này có vợ, mày cũng phải để ý cẩn thận. Gặp loại người như nó chẳng nể nang làng nước gì đâu. Kể cả chị em, con cô con cậu sực được nó cũng sực tuốt.

- Em đang định hỏi anh - Thằng Hoán hạ giọng - anh gả cô Bãi cho em nhé?

Dừng một chút cho tan sự ngạc nhiên, Ao khẽ:

- Chúng mày đã có gì chưa? Muốn lấy nó phải hỏi nó chứ?

- Nhưng anh là anh. Tiền trảm hậu tấu coi sao được ạ?

- Ừ! Để tao hỏi ý nó đã.

- Nhưng anh phải giúp em cơ.

- Được rồi. Còn chuyện Toàn cấu. Phải tìm cách trị. Tao nói vậy. Mày không được bép xép.


Trận dịch lớn tràn qua phố mỏ. Trong ba ngày, mười sáu người chết. Con số được tính, được ráp po* sơ sơ trong lán phu. Đó là đợt dịch tả khủng khiếp tháng sáu năm1917. Phố thợ ảm đạm màu tang chế, chết chóc. Những chiếc xe bò kéo, chở xác còng queo đưa đi. Dân chúng sợ lây rắc vôi bột quanh nhà. Những người nghèo sắc nước trầu không, bọ mắm, bọ nẹt… vẩy, dùng thanh hao đốt hơ. Người dân ít dám đi lại thăm hỏi nhau.

Ông Bội mất đã được ba tháng. Chẳng ai nhớ đến việc thắp cho ông nén hương dịp bốn chín hay một trăm ngày. Phú quý sinh lễ nghĩa. Người chết là thiệt phận là hết. Bày vẽ mà làm gì. Chỉ biết trong lòng Cheo, ông Bội sống đàng hoàng ở vị trí đặc biệt. Nhằng lại phải ở tầng than gác đêm. Cheo chăm con. Thằng bé đã miệng ăn chân chạy vững vàng không cần quan tâm đặc biệt nữa.

Mấy đứa trẻ nhà bên, mấy hôm trước còn chạy nhảy quanh quéo nay thấy im vắng. Bọn chúng thường hò hét bắt bướm. Đứa lớn hơn ríu rít rủ nhau bắt chim non, bẫy chích choè trong vườn, săn le le ruộng nước. Bây giờ vắng hoe. Ngõ vàng nắng. Nhà nhà cửa đóng then cài, trốn dịch như trốn hủi. Nhà có người chết, vôi rắc từ ngõ. Chôn người cũng mau lẹ, nhanh chóng. Thời gian hơi sức đâu mà bày vẽ. Ai chết người ấy thiệt. Làng có dịch như nhà có tang. Phố mỏ, Cẩm Bình, Quang Hanh, người chạy hấp tấp vội vàng qua ngõ. Vắng cả tiếng gà kêu cho sủa. Hình như chúng cũng rành, biết tai hoạ đang rình ngó, đe doạ chủ mình.


Tầng vẫn phải ra than. Than không chờ qua dịch. Người đòi hỏi cơm ăn. Chủ đòi than ra nhiều, càng nhiều càng tốt. Phố thợ có buồn đau thì biết vậy. Than cho người, vì người, vì chủ thầu, chủ mỏ. Tầng một tầng hai, lò to lò nhỏ, núi lớn núi con cong mình ra than. Nắng vẫn miệt mài vắt kiệt mồ hôi thợ. Những bàn tay cóc cáy, đen nhẻm bẻ nắm cơm bỏ vào miệng lấy sức đào than, khơi than. Chiếc đòn gánh Cải mang theo từ ngày ra mỏ, bóng lọng mồ hôi phu qua hàng chục lần bó táp đắp ốp đã gãy trong ngày ông Đục chết. Chiếc đòn gánh quặn đau dù được thửa kĩ càng không tồn tại qua một đời người. Nó gục ngã sau thời gian dằng dặc, nặng nề gian lao. Chiếc đòn gánh gẫy hay lời cáo chung cho những người từ nông thôn ra mỏ không thể quay trở lại. Họ chỉ còn cách đổ mồ hôi sôi nước mắt cho núi đồi hồng hộc ra than. Đổ mồ hôi trán, dán mồ hôi lưng dốc của cải vào túi sâu miệng rộng nhà chủ. Cải đã thuê rèn cây xà beng to nặng, dài hơn hai mét. Người thợ nào cầm cũng thích. Dụng cụ lao động thường ngày thuận lợi sẽ làm cho người dùng đỡ đổ mồ hôi.

Đêm ấy, Nhằng ở lại gác than. Toàn cấu cũng ở lại bê bê xúc xúc. Một công việc mà trong ngày hắn không hề làm. Tấm lưng trần bóng nhẫy mồ hôi khi nắng chiều đã tắt.

Cheo lặng lẽ cho con ăn xong, chuẩn bị giường chiếu. Muỗi o o. Sẵn bó cỏ le, Cheo quất từng hồi vi vút. Tiếng muỗi chốc lát thoảng mất. Anh vào giường, xoa xoa người con rồi nằm xuống. Giấc ngủ chưa kịp về. Tiếng chân chạy thình thịch rồi cửa tre kêu “roác” một tiếng. Anh nhổm dậy. “Rầm. Roạt”. Một người đổ vật kéo theo cả cửa liếp ập xuống nền nhà. Vợ anh. Cô Nhằng đây. Người lết bết mồ hôi, tay huơ huơ khoảng không trước mặt. Nỗi sợ hãi làm Nhằng tá hoả tam tinh, hồn bay vía mất. Cô nhìn anh trừng trừng bằng cặp mắt của người loạn trí. Rồi Nhằng khóc không ra tiếng. Cô nấc dồn dập, nước mắt oà ra không ngăn được. Ngực cô phồng lên xẹp xuống từng hồi. Cheo luống cuống, la ầm lên, kêu dân phố. Đèn đuốc rần rật đến. Nhằng đã qua cơn khiếp hãi. Những tiếng hức hức lúc đầu còn mạnh sau nhỏ dần, nhỏ dần.

Trên tầng nhiều đuốc lửa rập rờn, chập chờn tụ lại. Ônh Bao gác than tầng ba kể với mọi người. Ông đang ngủ. Gác than tầng, ai không ngủ. Bọn lấy cắp than mò vào, xúc bốc lôi kéo bằng đánh thức người gác. Vì thế, có người thì thừa, không người thì thiếu. Ông Bao cho than mới vào bếp, đi nằm. Chợt bật dậy. Tiếng ô ô ồ ồ kéo dài như người bị hùm vồ, hùm kéo vậy. Quái lạ! Hùm sao dám về tận đây. Ông vội nhặt hòn đá, đập liên hồi vào lưỡi mai giơ cao. Vừa đập, ông vừa lần đường tìm xuống tầng dưới. Khi ông tới đã thấy đông người tập trung. Toàn cấu cởi truồng nằm sấp. Lưỡi xà beng cắm phập vào người. Lật ngửa lên, máu ở hai mắt, hai lỗ mũi và mồm ựa ra. Mắt hắn trắng lồi, không cử động.


* Ráp po( rap por): Báo cáo.

... CÒN TIẾP ...



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 25.8.2015.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004