Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
tranh sơn dầu của Josette Marrel (Pháp)



ÁN TREO





         Chương 5 : VÙNG MỎ



Theo các tài liệu về địa chất, cuộc vận động tạo sơn cách đây khoảng 175-200 triệu năm đã nâng các vùng trũng biến thành đất liền nối với lục địa.Những vùng đọng bị vùi lấp cùng với loại quần thể thực vật thuộc hệ dương xỉ đến nay trở thành những vỉa than vô giá trong đó có bể than vùng Đông Bắc Tổ quốc Việt Nam.


Vào thời vua Minh Mệnh(1820-1840) những người thợ làm than củi ở tỉnh Kiến An cũ thường đến khu rừng An Lãng ( Đông Triều) ngả cành đốt củi lấy than đem về bán cho các lò rèn vùng An Hải.


Một bữa nọ, người thợ nấu cơm bên bờ suối trong rừng An Lãng thấy có sự lạ : Ba hòn đá đen kê làm “Ông đầu rau” đun bếp bị lửa cháy táp hồi lâu cũng đỏ rực và cứ rực nóng mãi như những hòn than củi họ đang đi kiếm. Những thợ đốt than liền nhặt lấy một thuyền “đá đen” chở về nhà. Họ đem bán loại đá đen này cho các lò rèn, lò vôi, lò nấu thủy tinh vùng An Hải. Và từ đó họ gọi loại đá đen này là than đá.


Tin phát hiện và sử dụng than đá đến tai viên quan nhà Nguyễn, ở An Hải là Tổng Đốc Tôn Thất Bật. Ông ta bèn dâng sớ lên vua Minh Mệnh xin cho thuê nhân công, lập công trường khai thác mỏ than và được vua Minh Mệnh chuẩn y..


Vào đầu năm 1837, sản phẩm Than đá đầu tiên được Bộ Công sai cho vận chuyển từ Đông Triều về kinh đô Huế bằng đường biển.


Công trường khai thác đầu tiên là Mỏ An Lãng ngày nay thuộc xã Yên Thọ, huyện Đông Triều .Lúc đó nghề đào than hết sức đơn sơ, chỉ lấy than ở những lộ vỉa bằng cuốc, xẻng và quang gánh.


Trên vòng cung Đông Triều thuộc vùng Đông Bắc Tổ Quốc, mỏ than Vàng Danh nằm trọn trong vùng núi rừng Yên Tử- Bảo Đài linh thiêng và hùng vĩ.


Núi Yên Tử ( 1.068 m) là ngọn núi cao trong dãy núi Đông Triều vùng đông bắc Việt Nam. Núi nằm ở ranh giới giữa 2 tỉnh Bắc Giang  Quảng Ninh. Với hệ thống động thực vật phong phú và đa dạng đã được nhà nước công nhận là khu bảo tồn thiên nhiên. Phía Đông dãy Yên Tử thuộc tỉnh Quảng Ninh  phía Tây thuộc tỉnh Bắc Giang. Núi Yên Tử hiện còn lưu giữ một hệ thống các di tích lịch sử văn hóa gắn với sự ra đời, hình thành và phát triển của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.


Đỉnh núi thuộc xã Thượng Yên Công, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. Vốn là một thắng cảnh thiên nhiên, ngọn Yên Tử còn lưu giữ nhiều di tích lịch sử với mệnh danh "đất tổ Phật giáo Việt Nam". Trên đỉnh núi thường có mây bao phủ nên ngày trước có tên gọi là Bạch Vân sơn. Tổng chiều dài đường bộ để lên đỉnh Yên Tử (chùa Đồng) là khoảng 6000m với 6 giờ đi bộ liên tục .


Xung quanh khu vực núi Yên Tử còn có các di tích và danh thắng quan trọng như khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử (Bắc Giang) và Khu di tích lịch sử nhà Trần ở Đông Triều (Quảng Ninh). Hệ thống các di tích và danh thắng này được gộp chung thành Quần thể di tích danh thắng Yên Tử để đề nghị UNESCO công nhận là di sản thế giới.


Từ Hà Nội có thể đi xe ô-tô vượt quãng đường 125 km, đến thành phố Uông Bí thì rẽ vào đường Yên Tử, đi tiếp khoảng 9 km thì rẽ trái. Có thể lên núi Yên Tử bằng cách: Theo đường bộ dài trên 6 km đã được gia cố bởi hàng nghìn bậc đá xếp, len lỏi theo lối mòn vượt qua bạt ngàn cây cỏ, dưới tán rừng trúc, rừng thông. vượt quãng đường trên 1,2 km lên tới độ cao 450 m gần chùa Hoa Yên, có thể ngắm nhìn toàn cảnh rừng núi Yên Tử từ trên cao với những cây tùng, đại hàng trăm năm tuổi xen lẫn trong những rừng cây xanh tươi và hít thở không khí trong lành.


Hành trình thăm viếng Yên Tử bắt đầu từ suối Giải Oan với một cây cầu đá xanh nối hai bờ suối. Cầu dài 10 m, có kiến trúc không cầu kỳ nhưng toát lên vẻ đẹp cổ kính, vững chãi.


Tục truyền xưa kia vua Trần Nhân Tông nhường ngôi lại cho con là Trần Anh Tông rồi tìm đến cõi Phật. Vua Nhân Tông có rất nhiều cung tần và mỹ nữ. Họ đã khuyên ông trở về cung gấm nhưng không được nên đã gieo mình xuống suối tự vẫn.


Vua Nhân Tông thương cảm cho họ nên lập một ngôi chùa siêu độ để giải oan, từ đó con suối mang tên Giải Oan.Trước sân chùa sum suê từng khóm hoa loa kèn màu hoàng yến chen lẫn màu trắng mịn. Xung quanh chùa có 6 ngọn tháp, lớn nhất là tháp mộ vua Trần Nhân Tông, hai bên là tháp mộ sư Pháp Loa và sư Huyền Quang.Tiếp đó tới chùa Hoa Yên  nằm ở độ cao 543 m với hàng cây tùng cổ tương truyền được trồng từ khi vua Trần Nhân Tông lên tu hành trên Yên Tử. Phía trên độ cao 700 m là chùa Vân Tiêu lẩn khuất trong mây bên triền núi.


Sau điểm này là chùa Đồng, tọa lạc trên đỉnh Yên Tử cao 1.068 m. Chùa được khởi dựng vào thời nhà Hậu Lê với tên gọi Thiên Trúc tự . Sau này, chùa Đồng mới được đúc hoàn toàn bằng đồng nguyên chất (cao 3 m, rộng 12 m², nặng 60 tấn) đã được đưa lên đỉnh Yên Tử.


Đứng ở độ cao 1068 m trên đỉnh núi có thể nhìn bao quát cả vùng Đông Bắc rộng lớn với những đảo nhỏ thấp thoáng trong Vịnh Hạ Long như một bức tranh, xa hơn là sông Bạch Đằng. Yên Tử có địa thế trong lành, thanh tịnh, từ lâu đời đã có An Kỳ Sinh về đây tu tiên đắc đạo, Thiền sư Hiện Quang thời Lí, Thiền sư Phù Vân đầu đời Trần cũng tọa Thiền nơi đây. Do vậy Trần Nhân Tông chọn Yên Tử làm quê hương giáo phái Trúc Lâm là điều dễ hiểu.


Tuy nhiên Tăng Hải Hòa là đệ tử Tuúc Lâm thế kỷ thứ 18 lại căn cứ vào tài

năng quân sự và lòng yêu nước của Trân Nhân Tông để nhận định : “ Người ta thấy Điều Ngự đệ nhất tổ đến ở chùa Hoa Yên thì bảo ngài xuất gia. Ta biết rằng Đức ngài lúc bấy giờ biết xem thiên hạ là công, trong nước vô sự nhưng ở phía Bắc vẫn còn nước láng giềng mạnh mẽ, chưa được an tâm. Cái ý ấy là không tiện nói rõ sợ người ta dao động . Cho nên nhằm được ngọn Yên Tử là núi cao nhất, phía Đông nhìn về Yên Quảng,Phía Bắc liếc sang tỉnh Lạng, dựng nên ngôi chùa, thời thường dạo chơi để xem động tĩnh, cốt để ngừa cái mối lo nước ngoài xâm phạm. Thật là một vị Vô lượng lực Đại Thế chí Bồ tát…”


Dọc đường còn có một số điểm tham quan như Tháp Tổ, chùa Một Mái, chùa Bảo Sái, tượng đá Yên Kỳ Sinh, am Ngọa Vân, bàn cờ tiên, các khu du lịch sinh thái Thác Vàng, Thác Bạc. Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử xây trên nền dấu tích của chùa Lân mà đức Điếu Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông từng thuyết giảng chúng sinh. Đây là công trình thiền viện lớn nhất Việt Nam.

Lễ hội Yên Tử được tổ chức hàng năm bắt đầu từ ngày 10 tháng giêng và kéo dài hết tháng 3 (âm lịch).

Sau khi Pháp đặt ách đô hộ trên đất nước ta, ngay từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, Tư bản nước Pháp đã tiến hành khai thác vùng mỏ Việt Nam, làm giầu cho tư bản chính quốc.


Cuối thế kỷ XIX tư bản Pháp chính thức khai thác mỏ Vàng Danh. Hàng vạn nông dân đồng bằng châu thổ sông Hồng bị bần cùng hóa sung vào đội ngũ phu Mỏ, trở thành lớp vô sản đầu tiên, một trong những cái nôi của giai cấp công nhân Việt Nam.


Dưới thời Triều Nguyễn, Vàng Danh chỉ có vài chục gia đình người Kinh tập trung ở hai xóm thuộc Thượng Mộ Công, một số gia đình người Dao ở Lán Tháp, Nam Mẫu trong khu vực Yên Tử. Khi đó , một số người Hoa được triều đình nhà Nguyễn cho phép khai thác than,nhưng do sử dụng phương pháp thủ công, sức người nên số lượng than lấy được không đáng kể..

Nhận thấy Vàng Danh - Uông Bí nằm trên bể than vùng Đông Bắc Bắc Kỳ theo mạch Cái Bầu – Mạo Khê chạy dài tới 125 km, chủ yếu là loại than đá Angtơraxít chất lượng tốt, nhiệt lượng cao nên giới tư bản khai khoáng nước Pháp tìm mọi biện pháp để độc chiếm. Sau một thời gian vận động, Xanhladanh đã được Toàn quyền Đông Dương ra nghị định nhượng bán khu đất mỏ nằm trên tổng Bí Giàng thuộc huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Yên- phía đông Đông Triều, có diện tích 1080 ha. Sau đó De Resdon sang Việt Nam, bắt tay vào khảo sát khu vực Vàng Danh - Uông Bí. Những mẻ than

khai thác được đầu tiên cho nhiều hứa hẹn, do đó đã thu hút thống đốc Nam Kỳ Blanchard de la Broche và viên thiếu tướng không quân Albert Latache

hùn vốn với nhau để thành lập Công ty và Công ty Mỏ than Đông Triều ra đời, trụ sở tại Hải Phòng quản lý 3 cơ sở khai thác là Uông Bí 1.800 công nhân. Vàng Danh 8.700 công nhân và khu Cảng Đền Công.


Vì Kiên sắp sửa về vùng than Uông Bí nên Kiên đã tìm hiểu về khu mỏ để biết và mở từ điển để tìm hiểu hai chữ Uông Bí là gì : Thì ra chữ Uông có nghĩa là sâu rộng mênh mông, chữ Bí có nghĩa là: Không thông thoáng không thoát ra ngoài được, không ai biết được . Kiên hiểu một cách đơn giản Uông Bí là vùng đất sâu rộng còn nhiều bí mật tiềm ẩn chưa được khai thác. Uông Bí có dòng sông Uông, bắt nguồn từ các dãy núi cao, hình thành từ nhiều khe lạch và suối nhỏ, trong đó đáng kể hơn cả là các suối Uông Thượng, Vàng danh, Yên Tử rồi đổ vào sông Đá Bạc (một nhánh của sông Bạch Đằng) , cách khu Mỏ 18 km.


Sông Đá Bạc chảy theo hướng Bắc Nam nối với sông Lục Nam với sông Thái Bình. Đây là một hệ thống giao thông đường thủy thuận lợi đối với việc phát triển kinh tế và củng cố quốc phòng.

Nguyễn Trãi đã ca ngợi trong Dư Địa Chí : “Núi non cao vút, nước suối giao lưu, sóng tung lên tận trời, cây cối lấp bờ, thật là một nơi hiểm yếu”.

Năm 1288 xảy ra trận chiến trên  sông Bạch Đằng . Đây là  chiến thắng vẻ vang  do Trần Hưng Đạo Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông chỉ huy đánh quân  xâm lược Nguyên Mông.

Vào năm  1287 ,  nhà Nguyên mở đầu cuộc  xâm lược Đại Việt lần thứ ba, đã chiếm được  kinh thành  Thăng Long nhưng không một bóng người. Thủy quân Đại Việt do Phó tướng Nhân Huệ Vương  Trần Khánh Dư chỉ huy đã đánh tan đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ trong  trận Vân Đồn.

Ngày 3 tháng 3 năm Mậu Tí (1288), Hữu thừa Trình Bằng Phi, Thiên tỉnh Đạt Mộc thống lĩnh kị binh đi đón các cánh quân di chuyển bằng đường thủy Tuy nhiên khi qua chợ Đông-Hồ thì bị dòng sông chắn ngang, phải quay lại. Quân Nguyên rơi vào thế nguy, trước mặt thì bị quân Trần chận đường, sau lưng là chướng ngại thiên nhiên. Quân Nguyên đã tìm đường thoát, nửa đêm cánh quân này đột phá vòng vây phối hợp với một cánh quân Nguyên đang rút lui để cùng nhau ra khỏi ải Nội Bàng.

Tuy bị bất ngờ bởi sự thay đổi lộ trình của quân Nguyên, quân đội nhà Trần vẫn bám đuổi theo đánh rất sát vào cánh quân đoạn hậu. Trần Hưng Ðạo chuẩn bị một trận địa mai phục lớn trên sông Bạch Ðằng, là nơi đoàn thuyền của quân Nguyên sẽ phải đi qua trên đường rút chạy.

Các loại gỗ lim, gỗ táu đã được đốn ngã trên rừng kéo về bờ sông và được đẽo nhọn cắm xuống lòng sông ở các cửa dẫn ra biển như sông Rút, sông Chanh, sông Kênh làm thành những bãi chông ngầm lớn, kín đáo dưới mặt nước.

Ghềnh Cốc là một dải đá ngầm nằm bắt ngang qua sông Bạch Ðằng . Thủy quân Đại Việt bí mật mai phục phía sau Ghềnh Cốc, Ðồng Cốc, Phong Cốc, sông Khoai, sông Thái, sông Gia Ðước, Ðiền Công, còn bộ binh bố trí ở   Quảng Yên, dọc theo bờ bên trái sông Bạch Ðằng, Tràng Kênh ở bờ bên phải sông Bạch Ðằng, núi Ðá Vôi..., ngoại trừ sông Ðá Bạc là để trống cho quân Nguyên kéo vào. Ðại quân của hai vua đóng quân ở Hiệp Môn (Kinh Môn, Hải Dương) trong tư thế sẵn sàng lâm trận cho chiến trường quyết liệt sắp xảy ra.

Thủy quân Đại Việt từ các phía Điền Công, Gia Đước, sông Thái Bình, sông Giá nhanh chóng tiến ra sông Bạch Đằng, với hàng trăm chiến thuyền cùng quân lính các lộ dàn ra trên sông và dựa vào Ghềnh Cốc thành một dải thuyền chặn đầu thuyền địch. Trận thủy chiến diễn ra dữ dội . Đoàn chiến thuyền của hai vua Trần đóng ở vùng Hiệp Sơn (Kinh Môn, Hải Dương) bên bờ sông Giáp (sông Kinh Thầy, vùng Kinh Môn, Hải Dương) cũng tổ chức tấn công từ phía sau khiến quân Nguyên càng lúng túng và tổn thất rất nặng.

Chiến công trên sông Bạch Đằng vào năm 1288 của các vua Trần, cùng với đại thắng của Ngô Quyền trong  trận đánh quân Nam Hán tại đây  thuở xưa, đã khiến cho dòng sông này trở nên gắn bó sâu sắc với lịch sử dân tộc Việt Nam. Có thể kể đến bài  Phú sông Bạch Đằng  của một môn khách của Hưng Đạo Đại Vương là  Trương Hán Siêu  được coi là một bản hùng văn trong lịch sử  văn học  Việt Nam. Qua tác phẩm này, Trương Hán Siêu đã ca ngợi công đức của hai vị minh quân Trần Thánh Tông cùng với Trần Nhân Tông ("Nhị Thánh hề tịnh minh, tựu thử giang hề tẩy giáp binh" - dịch là:  "Hai vua thật anh minh, đến sông này dẹp đạo binh".), và đề cao Hưng Đạo Đại Vương ("Duy thử giang nhi đại tiệp, do Đại Vương chi tặc nhàn", dịch nghĩa:  "Nghĩ có đại thắng trên sông này, do bởi Đại Vương [biết thế] giặc nhàn"). Tác giả cũng nêu cao khí phách của Vương triều nhà Trần - "hào khí  Đông A" - đại thắng hiển hách trong trận Bạch Đằng.

Vua   Trần Minh Tông  về sau cũng viết bài thơ "Bạch Đằng Giang", trong đó có đoạn:

"Non sông này xưa nay đã hai lần mở mắt,"

"Cuộc hơn thua giữa Hồ và Việt thoáng qua như một lúc dựa vào lan can."

"Nước sông chan chứa rọi bóng mặt trời cuối ngày đỏ ối, "

"Còn ngỡ là máu chiến trường thuở trước chưa từng khô. "

Nguyễn Trãi  - vị  anh hùng dân tộc  của Đại Việt dưới triều  Hậu Lê, cũng có bài thơ "Bạch Đằng Hải Khẩu", trong đó có đoạn:

"Ngạc đoạn kình khoa sơn khúc khúc;"

"Qua trầm kích chiết ngạn tằng tằng."

"Quan hà bách nhị do thiên thiết;"

"Hào kiệt công danh thử địa tằn"

Dịch nghĩa:

"Như cá sấu bị chặt, cá kình bị mổ, núi chia từng khúc một;"

"Như mũi qua chìm, cây xích gãy, bên bờ lớp lớp chồng" .

"Quan hà hiểm hai người chống trăm người do trời xếp đặt; "

"Hào kiệt lập công danh đất ấy từng là nơi. "

Cũng trong thời kỳ ấy, danh sĩ   Nguyễn Mộng Tuân  có bài "Hậu Bạch Đằng Giang Phú", ca ngợi toàn thắng này, với phần đầu ghi là:  "Ngắm sông Đằng bát ngát; nhớ Hưng Đạo oai phong/Miền Hải Đông vang lừng nhờ có sông Đằng oanh liệt/Dòng họ Trần bất diệt nhờ có chiến công Bạch Đằng bất hủ vậy". Bài thơ ấy đã tôn vinh công đức của các vua Trần, cũng với biết bao vị kiệt tướng cùng với toàn dân đồng lòng chiến đấu, gây nên thảm họa Bạch Đằng cho quân xâm lược Nguyên Mông, đến mức mà:  "Tiếng thét vang trời, núi non tưởng chừng sạt đỉnh; thây trôi đầy biển, tôm cá được dịp đầy nang!/Thế ta bừng bừng,   trận Xích Bích  nào sánh kịp; cảnh giặc hoảng loạn, gió Hoài,   Phì   nọ truyền sang!

Để bảo vệ khu mỏ, kiểm soát công nhân, chủ Mỏ đã cho lập hai đồn khố xanh ở Vàng Danh, biên chế một trung đội do viên quan Pháp chỉ huy.


Người công nhân phải ở trong các nếp nhà lụp xụp làm bằng tre nứa hoặc xây gạch lợp tôn thấp lè tè, ngủ trên những chiếc giường cao ba tầng. Cứ 3 tầng giường hình thành một cặp gồm hai thợ xúc và một thợ vận hành để khi làm thì chống được ba vì, lấy được 12 xe than.


Thợ vận hành có quần áo dài, thợ xúc chỉ quần đùi áo may ô. Công nhân không được tụ tập qúa 5 người, giờ cấm không được ra đường phố. Tỷ lệ thợ Mỏ chết về bệnh tật, vì tai nạn rất cao. Tệ nạn cờ bạc, rượu chè, nhà thổ phát triển. Tờ báo Đông Pháp số 3854 ra năm 1937 đã viết : “ Một khoảng đất núi mênh mông hàng trăm km mà không khác gì một khu nhà thu hẹp trong 4 bức tường .. Tại Mỏ có hơn một vạn phu đều làm dưới hầm lò. Kể cả số vợ con phu nữa thì dân Mỏ tới 4-5 vạn người. Phu cuốc than mỗi ngày mỗi người lấy cho sở được 5 tấn than,mỗi tấn than bán đươc 25$. Lương phu mỏ có người được trả hậu thì khoảng 6-7 hào, còn phần nhiều chỉ đến 35 xu một ngày, có người chỉ được 15 xu.” .


Cùng với thiên nhiên khắc nghiệt : Ruồi vàng, bọ chó, gió Vàng Danh… sự bóc lột tàn nhẫn của chủ Mỏ, những ai đã bước chân đến đây, nếu không gửi lại nắm xương tàn ở ngay cái tuổi còn trẻ thì cũng thân tàn ma dại vì bị lao động cùng cực. Câu ca ai oán người vẫn nhớ : Ai đi Uông Bí Vàng Danh - Má hồng để lại, má xanh mang về”.


Ở Mỏ , chủ Mỏ thực hiên chế độ cai thầu một cách triệt để trong hầu hết công việc nặng nhọc và lao động thủ công. Để tiết kiệm nguyên liệu vật tư chủ Mỏ thường chỉ cho mở những đường lò hẹp khiến cho nhiều đoạn người thợ lò phải trườn bằng cùi tay và đầu gối để bò qua các mảnh than đá sắc như dao mới vào được nơi cuốc than.


Người thơ phải vác gỗ ngược trong hầm lò có chỗ dốc tới 40 độ hoặc đầy gòng trong những hầm lò chật hẹp chỉ cao 1,30 mét, cõng vật liệu trên lưng đi bằng đầu gối và hai tay. Để trả lương cho công nhân chủ Mỏ còn thâm độc sử dụng loại tiền 8 cạnh được làm từ kẽm hòm mìn, có tên gọi là tiền mìn, tiền xiềng xích vì nó không dùng để tiêu, trao đổi với bên ngoài khu Mỏ được.


Muốn đi ra ngoài hay về quê phải xin đổi qua cai thầu và chỉ được hưởng 80% giá trị.


Kiên đã được đọc những tài liệu viết về Mỏ như vậy. Cũng lật lại trang lịch sử vùng than Đông Triều Uông Bí Kiên còn thấy : Từ năm 1888 triều đình nhà Nguyễn đã nhượng bán khu Đông Triều- Mạo Khê cho tập đoàn Tư bản Pháp Marty với giá 9 triệu Frăng ( Pháp) trong thời hạn 99 năm..


Công ty Mỏ than Bắc Kỳ viết tắt là SFCT chính thức được thành lập. Trụ sở đặt tại Hạ Long Quảng Ninh chủ yếu khai thác vùng Hồng Gai, Cẩm Phả, Kế bào.


Năm 1890 sản lượng than Công ty than Bắc Kỳ đạt 2120 tấn, đến năm 1899 sản lượng lên tới 296.170 tấn, than được bán cho Trung Quốc, Nhật, Philippines,Malaysia và đưa về Pháp.


Năm 1915 Bạch Thái Bưởi mua lại của Pháp mỏ Than Bí Chợ, mỏ An Biên, có 5,5 Km đường sắt ra bến Đá Bạch, phạm vi đất đai là 1.924 ha..


Ngày 17-2-1916 Pháp thành lập công ty than Đông Triều viết tắt là SFDT. Công ty còn có cơ sở khai thác ở Uông Bí, Vàng Danh, và Điền Công. Trụ sở đặt tại Hải Phòng.


Ngày 17-6-1917 thành lập Công ty Pagniet Tràng Bạch. Phạm vi đất đai là 924 ha.


Ngày 15-10-1920 thành lập Công ty than gầy Bắc Kỳ gồm Mạo Khê, Tràng Bạch, Cổ Kênh ( Hải Dương). Diện tích quản lý 2.488ha, trụ sở đặt tại Paris Ngày 27-10-1924 thành lập Công ty than Đông Dương do nhà Tư Sản Việt Nam Phạm Kim Bản cộng tác với một người Âu khai thác mỏ Clairette, cách thị trấn Đông Triều 12 km về phía Tây. Phạm vi đất đai là 240 ha. Nguyễn Hữu Thu khai thác mỏ Mùa Xuân (Printemp) cạnh Uông Bí. Phạm vi đất đai là 418 ha.


Tháng 5-1925 thành lập Công ty tìm kiếm và khai thác, khai thác khu vực Đông Triều. Phạm vi đất đai là 2487 ha.


Ngày 26-9-1928 thành lập Công ty Vô Danh khai thác mỏ Tràng Bạch có trụ sở đặt tại Hải Phòng.


Năm 1920 vốn của SFDT mới có 5 triệu Frăng thì đến năm 1928 đã lên đến 28 triệu. Công ty than gầy Bắc Kỳ số vốn tăng lên cũng tương ứng như Công ty than Đông Triều.


Năm 1923 tiền lãi của Công ty than Đông Triều mới có 333 nghìn Frăng thì năm 1925 lên tới 2.370 nghìn Frăng .


Năm 1930 sản xuất than bị khủng hoảng đến năm 1933 chỉ còn lại hai Công ty SFCT và SFDT. Sau thời gian khủng hoảng kinh tế đến năm 1935 sản lượng than đã tăng, nhưng tiền lương công nhân vẫn thấp, ngoài ra công nhân còn bị chủ mỏ đối xử tàn nhẫn do vậy đã dẫn đến cuộc bãi công của công nhân mỏ kéo dài từ đêm 12-11-1936 đến ngày 28-11-1936.


Khởi sự đầu tiên từ công nhân mỏ Cẩm Phả bãi công đòi chủ mỏ tăng lương, chống đánh đập cúp phạt thợ sau đó lan rộng ra các vùng như Uông Bí, Vàng Danh, Mạo Khê Ngày 20-11-1936 chủ mỏ phải tuyên bố chấp nhận yêu sách của công nhân.


Về đây Kiên lại được gặp Vĩ, Sơn, Long, Phương Lan bạn học ở Yên Viên…nhưng chỉ sau một thời gian ngắn tất cả bọn họ tạm biệt vùng mỏ

thân yêu không hề quay lại trừ Nguyễn Bá Ý là có đến với Kiên vài lần và đều khen Kiên thật là một thanh niên tuyệt vời.


Nhiệm vụ đầu tiên của Kiên ở công trường là làm nhân viên thống kê cho đội Kiến Trúc. Cũng như ở Việt Trì Kiên lại tham gia dạy bình dân học vụ. Không khí học tập hăng say là của tất cả mọi người. Cứ tối thứ 2 thứ 4 là công nhân cắp sách đến lớp.


Vì khu Mỏ đã ngừng hoạt động từ năm 1950 nên tất cả các tài liệu liên quan đến kỹ thuật và quản lý đều không còn, hầm lò sạt lở nhiều không được tu bổ. Riêng đối với đường lò chính là còn khá tốt, việc phục hồi không tốn kém nhiều.


Để có thể tiếp tục khai thác được, phải có thiết kế khôi phục xây dựng Mỏ công suất 60 vạn tấn năm trong đó có nhà Sàng, đường sắt và Cảng Đền Công.


Ngày 20-12-1958. Việc khôi phục Mỏ được thực hiện. Việc khôi phục Mỏ được đề ra bởi những ý kiến dưới đây : Có thể bảo đảm trữ lượng than. Vùng mỏ sẽ khai thác có nhiều triển vọng tốt vì đã xác định được rằng sẽ khai thác khu vực được lâu dài . Những điều kiện tiến hành các công việc khai thác ở Mỏ sẽ được thuận lợi vì Mỏ gồm một số vỉa than dầy và trung bình, nói chung không nguy hiểm vì bụi nổ và cũng không tự cháy có bề dày ít thay đổi và các yếu tố của vỉa ổn định và không có phay phá lớn; đặc biệt là điều kiện tiến hành khai thác ở Mỏ sẽ rất thuận lợi vì trữ lượng, kể từ lò xuyên vỉa chính trở lên, mà sẽ được khai thác trước tiên rất lớn.Than sẽ khai thác được là than gầy ( Ăng tơ ra xít) và tỉ lệ than cục cao hơn các Mỏ khác của Việt Nam.


Ở Mỏ có nhiều nhà cửa và các công trình với mức độ hư hỏng khác nhau, phân tán đều có thể khôi phục lại và sử dụng được. Các lò ngầm cũng vậy, những lò này theo quy cách đều được chống cẩn thận bằng sắt, bằng bê tông, gạch..


Công suất Mỏ khi khôi phục xong được quy định là 600.000 tấn trong một năm.- Khi thiết kế có dự tính khả năng tăng công suất của Mỏ trong tương lai lên 1, 2 triệu rồi 1,5 triệu tấn năm.- Công suất có thể của Mỏ trong tương lai sẽ được xác định trên cơ sở báo cáo chính thức về kết quả công tác thăm dò địa chất trong khu vực của mỏ, sau khi những công tác này được hoàn thành.- Chế độ làm việc ở Mỏ áp dụng như sau : Số ngày làm việc trong một năm là 300 ngày. Số ca làm trong 24 giò là 3 ca, trong đó có 2 ca lấy than và 1 ca sửa chữa chuẩn bị. Thời gian làm việc của mỗi ca là 8 giờ.- Vì chưa nghiên cứu được độ xuất khí nổ của các vỉa than ở khu Mỏ, khi thiết kế tạm quy định xếp Mỏ có hơi nổ vào loại 1, nghĩa là chất mêtan bốc ra không quá 5 mét khối cho một tấn than của sản lượng than khai thác trung bình trong một ngày đêm. Về bụi than của Mỏ thì coi như không nguy hiểm, các vỉa than không tự cháy- Khi thiết kế phải dự kiến trước những biện pháp chống nước rỉ vào trong các lò, nhất là về mùa mưa từ suối “A” do lòng suối bị sụt vì ảnh hưởng của các lò cũ trước đây.- Căn cứ theo những xét nghiệm đã tiến hành, than của Mỏ phải được lọc rửa bằng phương pháp cơ khí. Như vậy phải xây dựng một nhà máy sàng rửa than riêng cho Mỏ ngay tại Mỏ..


Khi thiết kế khôi phục Mỏ dự tính sẽ sử dụng nhà sàng cũ và boongke bêtông cốt sắt bên cạnh đó cho nhà máy sàng rửa…


Ngày 15-8-1961 Bộ Công Nghiệp Nặng ra quyết định thành lập Công trường. Bộ máy của công trường nhanh chóng được thành lập.


Ngày 24-2-1962 thợ lò Lê Công Mận vinh dự được cho nổ phát mìn đầu tiên mở đầu cho thời kỳ bắt tay vào khôi phục Mỏ. Bao nhiêu khó khăn đối với công trường, từ nơi ăn chốn ở đều phải xây dựng từ đầu. Nhiều công trình vì thiếu nguyên vật liệu, thiếu lao động, thiếu thợ không được hoàn thành theo tiến độ. Đã phải trải qua nhiều người chỉ huy : Huỳnh Vàng, Văn Tôn, Sơn Sắt. Trong hàng ngũ công nhân cán bộ đã có truyền nhau câu chuyện vui : Có Vàng rồi , có Tôn rồi, có Sắt rồi, phải đợi có Đồng đến thôi ( Ý nói phải có Thủ Tướng Phạm Văn Đồng thì công trường mới xoay chuyển được tình hình. Cũng chỉ là tếu táo nói vui của công nhân). Trong thực tế lãnh đạo Nhà nước luôn cử những cán bộ cao cấp đến thăm động viên : Hoàng Quốc Việt,

Phạm Văn Đồng…


Khi Miền Bắc phấn khởi bước vào thực hiện kế hoach 5 năm lần thứ nhất (1961-1965) thì công việc khôi phục Mỏ đã hoàn thành, khôi phục hầu như toàn bộ cơ sở vật chất bị tàn phá trong chiến tranh.


Ngày 5-8-1964, đế quốc Mỹ đã gây ra Sự kiện Vịnh Bắc Bộ. Tại cảng Điền Công thuộc Mỏ, liên tục trong các ngày trong tháng 6, tháng 7, tháng 8 máy bay Mỹ trút bom đạn gây nhiều thiệt hại về tài sản, làm chết 6 người, bị thương 4 người. Ném 8 quả bom xuống khu vực đơn vị Hầm lò 3, Hầm 82, Khe Thần, kho vật tư sơ tán, làm 4 người chết, 13 người bị thương…


Ngày 2-2-1965, cán bộ công nhân vùng Mỏ vinh dự được Bác Hồ về thăm. Nói chuyện với cán bộ công nhân Mỏ và nhân dân địa phương tại cuộc mít tinh tổ chức tại thị xã Uông Bí. Kiên cũng được đứng trong dòng người này. Người nói : “ Nhân dịp Tết Nguyên đán, Bác thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ thân ái chúc : Các đồng chi công nhân, bộ đội và cán bộ, Các anh hùng lao động và các chiến sĩ thi đua, Các cháu thanh niên, Năm mới cố gắng mới, thắng lợi mới! Chúc mừng và cảm ơn các đồng chí chuyên gia đang tận tình giúp đỡ chúng ta xây dựng Mỏ than, nhà máy điện và nhà máy cơ khí.Bác rất vui lòng thấy các cô, các chú đã sôi nổi thi đua “ Mỗi người làm việc bằng hai để đền đáp đồng bào miền Nam ruột thịt” và đạt nhiều thành tích khá. Có nhiều sáng kiến hợp lý hóa sản xuất để tăng năng suất lao động : Lắp lò hơi số 3 nhanh trước hai tháng. Lắp máy số 3 tiết kiệm được 70 vạn đồng. Kế hoach xây dựng Mỏ than của năm 1964 đã đạt mức. Như thế là tốt.


Nhân đây,Bác nhắc các cô, các chú mấy điều “ Hiện nay, Nhà máy điện Uông Bí và Mỏ than Vàng danh đều là những xí nghiệp vào loại to và hiện đại nhất của nước ta. Than và điện rất cần cho công nghiệp và nông nghiệp. Các cô, các chú hãy ra sức làm cho nhiều, nhanh, tốt, rẻ.Thiết kế và xây dựng phải làm cho chắc, cho kỹ. Tránh làm ẩu rồi phải chữa đi chữa lại, vừa lãng phí sức người, sức của, vừa không tốt cho sản xuất.


Phải tiết kiệm nguyên liệu, vật liệu. Phải giữ gìn tốt máy móc, vì đó là do mồ hôi máu mủ của nhân dân ta mà ra.


Đây là những xí nghiệp mới, phải tăng cường quản lý kinh tế, nắm vững kỹ thuật. Phải giữ gìn kỷ luật lao động. Phải thường xuyên học tập kinh nghiệm của các đồng chí chuyên gia và công nhân Liên Xô.

Cán bộ và công nhân cần chú ý ăn, ở cho sạch sẽ, đúng vệ sinh, để giữ gìn sức khỏe .

Giữa cán bộ và cán bộ, giữa cán bộ và công nhân, giữa các bộ phận, phải đoàn kết nhất trí, giúp đỡ lẫn nhau.

Phải tiến hành tốt cuộc vận động “3 xây, 3 chống”


Năm nay Bác thưởng một lá cờ luân lưu cho cả khu Mỏ. Các cô, các chú phải cố gắng thi đua để giành lấy giải thưởng ấy.


Một lần nữa, Bác thân ái chúc các cô, các chú năm mới cố gắng mới, thắng lợi mới”. Sự kiện Bác về thăm khu Mỏ thực sự trở thành nguồn cổ vũ và động viên toàn thể cán bộ công nhân khu Mỏ.


Ông Nguyễn Xuân Oánh, quê Kiến Thụy Hải Phòng, nhưng lại sinh ra và lớn ở Đất Mỏ, trong những năm thuộc thập kỷ 60 của thế kỷ 20 ông đã có mặt để khôi phục , xây dựng Mỏ Vàng danh. Những năm làm việc ở vùng Mỏ ông luôn thể hiện là một con người mẫn cán trong sáng thủy chung.


Ông đã phấn chấn kể cho Kiên nghe về những kỷ niệm của ông qua 3 lần gặp Bác Hồ. Đó là 1959, khi ông còn rất trẻ là Bí thư Đoàn Thanh niên Mỏ Than Cẩm Phả, khi đó Bác Hồ về thăm CBCN Mỏ Than Cẩm Phả .


Năm 1963, ông được đi dự hội nghị tổng kết cuộc vận động xây dựng Đảng theo tiêu chuẩn 4 tốt ở Hà Nội, Bác đã đến thăm và nói chuyện với hội nghị.


Năm 1965 Bác về ăn Tết với CBCN vùng Mỏ Uông Bí Kiên vừa nói ở trên. Với cương vị lãnh đạo cả 3 lần ông đều tranh thủ tiếp cận Bác để được nghe Bác nói và trực tiếp thưa với Bác về người thợ , về lớp thợ trẻ vùng than.


Lần Bác về thăm Cẩm Phả, được Bác Hồ hỏi Nguyễn Xuân Oánh: Chú làm gì?. Được biết ông là Bí thư Đoàn Thanh niên, Bác đã căn dặn phải biết vận động thanh niên tiền phong gương mẫu đi đầu phong trào thi đua sản xuất. Bác nói : Nước ta giầu mạnh được là sự đóng góp của Thanh niên.


Những lời dạy của Bác với Cán bộ Công nhân Ngành Than lúc nào cũng vang vọng bên tai ông : Làm than như Quân đội đánh giặc, Than là bánh mỳ của công ngiệp, Tổ quốc rất cần than… Ông đã dem những lời chỉ bảo dặn dò nhắc nhở của Bác Hồ đến với CBCN đơn vị. Các đơn vị mà ông lãnh đạo đều có phong trào thi đua sôi nổi phán đấu hoàn thành suất sắc nhiệm vụ được giao.


Vào thập kỷ 80, trong bài thơ Đá Cháy, nhà thơ Trần Nhuận Minh đã viết :


Bây giờ tôi dã đứng trước than

Đứng trước chính mình

Chúng tôi hiểu nhau đến nỗi

Chỉ cần đặt tay lên vách than

Là tôi biết mình được yêu thương

Và than biết mình được an ủi…

Từng là thầy tôi

Bài học của Than tỏa sáng

Không tỏa sáng thì không tồn tại….


... còn tiếp ...


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ Uông Bí ngày 02.7.2015.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn